Chương 1 : Mở đầu
CHƯƠNG 1 : MỞ ĐẦU
1.2 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, môi trường
kinh doanh và cạnh tranh đã thay đổi theo nhịp độ ngày cành nhanh, đó cũng là động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp phải nỗ lực hơn nữa để tồn tại và khẳng định chính mình. Vì thế
một điều tất yếu là ngồi việc định một mức giá hợp lý cùng với chất lượng sản phẩm phù
hợp với nhu cầu của người tiêu dùng thì mỗi doanh nghiệp phải hoạch định cho mình các
chiến lược, chính sách kinh doanh đúng đắn. Hơn nữa, bất cứ một doanh nghiệp nào muốn
bán được sản phẩm hay dịch vụ của mình trong môi trường có nhiều sự cạnh tranh thì phải
có những kế hoạch hành động cụ thể để thu hút được nhiều khách hàng. Muốn vậy thì một
trong những điều quan trọng là phải có một kế hoạch chiêu thị tốt. Vì thế chiêu thị đã được
các công ty xem như một phần không thể thiếu trong công việc kinh doanh của mình.
Thuật ngữ chiêu thị hiện nay khá quen thuộc đối với một số doanh nghiệp Việt Nam,
nhưng việc vận dụng nó để trở thành một công cụ hữu hiệu cho việc kinh doanh của mình
thì khái niệm đó còn khá mới mẻ, trong khi đó chiêu thị lại được sử dụng và thành công ở
đa số các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần
phải quan tâm hơn nữa đến chiêu thị để lợi thế của sản phẩm được thông tin đến các khách
hàng tiềm năng, giúp tăng doanh số bán của các sản phẩm hiện hữu, thiết lập nhận thức và
thuận lợi đối với sản phẩm mới, giúp tạo ra sự ưa thích nhãn hiệu nơi khách hàng và xa hơn
nữa là xây dựng một thương hiệu vững mạnh trên thị trường cạnh tranh.
Việt Nam là một nước đang phát triển, số lượng các công ty mới thành lập ngày càng
nhiều, để hội nhập và lấp được khoảng cách với các nước phát triển, thì ngồi việc phát huy
các hoạt động kinh tế khoa học kỹ thuật, hoạt động giáo dục và đào tạo đã trở thành một
trong những điều kiện cần và không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Chiêu
thị được sử dụng ở tất cả các công ty thuộc tất cả các ngành nghề từ kinh doanh đến dịch
vụ, trong đó không thể không kể đến ngành đào tạo và tư vấn nguồn nhân lực một ngành
kinh doanh dịch vụ trong đó sản phẩm là vô hình liên quan đến việc bổ sung những kỹ
năng, kiến thức về những vấn đề liên quan đến con người.
BCC – một công ty hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và phát triển nguồn nhân lực,
1.2 MÔ HÌNH QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
- 2 -
Hiện trạng công ty
SP & HĐCT của
đối thủ cạnh tranh
Thăm dò khách
hàng mục tiêu
HĐCT của
công ty
Mục tiêu công ty
Mục tiêu chiêu thịLựa chọn thông điệp
Quảng cáo Khuyến mãi Giao tiếp cá nhân Giao tếTiêu chuẩn đánh giáKết luận và kiến nghị
ĐĐ chương trình
HCNS
Ngân sách chiêu thị
Chương 1 : Mở đầu
Hình 1.1: Quá trình lập kế hoạch chiêu thị
- 3 -
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Cơ sở lý thuyết sẽ là tổng quan về khái niệm những thành phần chiêu thị, những phương
tiện truyền thông phổ biến, những phương pháp, cơ sở để phân bổ ngân sách cho kế hoạch
chiêu thị,…Nội dung của các phần cụ thể như sau :
2.3 KHÁI NIỆM DỊCH VỤ
Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu
là không sờ thấy được và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch
vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng hóa dưới dạng vật chất của nó
Khuyến mãi
Giao tiếp
cá nhân
Giao tế
Quảng cáo rộng rãi trên tivi
Bao phủ cho mọi đối tượng
Thời gian quảng cáo thường theo định
kỳ
Khách hàng dễ dàng quyết định mua
khi nhìn thấy sản phẩm, quá trình ra
quyết định ngắn.
Hình thức khuyến mãi phong phú, đa
dạng
Trực tiếp người với người
Giao nhận bằng vật chất hữu hình
Giao tế nhằm quảng bá hình ảnh và
thúc đẩy mua hàng
Ít thấy quảng cáo trên tivi
Đối tượng có chọn lọc
Thời gian linh hoạt, khi nào khai
giảng khóa mới thì quảng cáo.
Quá trình tìm hiểu thông tin và ra
quyết định của khách hàng không
ngắn như mua sản phẩm.
Không thể sử dụng tất cả những
công cụ khuyến mãi cho sản phẩm
ví dụ : sổ xố, phiếu mua hàng, tặng
thêm dung tích sử dụng,...
Trực tiếp nhưng khách hàng khó
mua ngay
2.2.0 Tổng ngân sách chiêu thị
Bước kế tiếp là dựa vào mục tiêu công ty, mục tiêu của kế hoạch chiêu thị đã được
xác định, đồng thời dựa vào nguồn vốn, nhân lực trong các điều kiện tình hình thị trường
của công ty từ đó phân bổ một ngân sách hợp lý cho tồn bộ kế hoạch. Có nhiều cách xác
định ngân sách chiêu thị như :
o Phương pháp không thay đổi
o Phương pháp phần trăm doanh thu
o Phương pháp theo khả năng tối đa
o Phương pháp vị thế cạnh tranh
o Phương pháp căn cứ vào mục tiêu và nhu cầu công việc
Trong một cuộc điều tra được tiến hành tại Mỹ thì có tới 27% các công ty trả lời cho
biết là họ đã sử dụng phương pháp “ phần trăm theo doanh thu” (Hồng Trọng, 1994).
Về việc phân bổ tổng ngân sách chiêu thị cho các thành phần có hai phương pháp áp
dụng : phân bổ ngân sách từ trên xuống và phân bổ ngân sách từ dưới lên, dựa vào đó tùy
theo từng trường hợp và nguồn lực cụ thể nhà quản lý sẽ chọn lựa phương pháp nào là phù
hợp để áp dụng.
2.3 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TY
Bước đầu tiên phân tích đánh giá hiện trạng công ty là rất cần thiết để tạo ra và
quyết định tiến hành kế hoạch chiêu thị. Những công việc phải thực hiện trong bước này :
o Đánh giá các hoạt động chiêu thị của công ty
- 6 -
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
Đánh giá hoạt động quảng cáo : Trong quảng cáo có rất nhiều khoản tiền bị chi tiêu
vô ích nếu công ty không định rõ mục tiêu quảng cáo, ngân sách, thông điệp quảng cáo và
phương tiện truyền thông, vì thế cần phải tiến hành đánh giá chi phí của quảng cáo so với
doanh thu để biết được mức độ hiệu quả. Có nhiều phương pháp để đánh giá vì vậy khi
phân tích phải chọn lựa phương pháp nào sao cho phù hợp.
Đánh giá các hoạt động khuyến mãi : Kỹ thuật đánh giá thường dùng cho khuyến
mãi sản phẩm tiêu dùng là so sánh sự thay đổi doanh số bán trong quá trình thực hiện và
2.4.1.0 Định nghĩa
Quảng cáo trong dịch vụ là một trong những hình thức chính của giao tiếp, mang
tính phổ biến mà các doanh nghiệp dịch vụ sử dụng. Chức năng của quảng cáo trong dịch
vụ là xác định thông tin về dịch vụ, định vị dịch vụ, phát triển khái niệm dịch vụ, nhận thức
tốt hơn về chất lượng và số lượng dịch vụ, hình thành mức độ mong đợi và thuyết phục
khách hàng mua hàng.( Lưu Văn Nghiêm, 2001)
2.4.1.0 Tổng quan về hoạch định quảng cáo Thông
tin
phản
hồi
Hình 2.1 : Tổng quan về quản trị quảng cáo
(Nguồn : Hồng Trọng, Phương Thảo, 1994)
Hoạt động đánh giá và kiểm sốt sẽ không đề cập trong đề tài. Hoạt động phân tích
tình huống có thể xem là hoạt động phân tích hiện trạng đã đề cập ở trên. Sau đây là các
thành phần trong quá trình hoạch định quảng cáo.
a. Xác định mục tiêu quảng cáo
- 8 -
PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
HOẠCH ĐỊNH
Xây dựng mục tiêu quảng cáo
Xác định tổng ngân sách
Xây dựng chiến lược thông điệp
Xây dựng chiến lược phương tiện
ĐÁNH GIÁ
KIỂM SOÁT
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
Hình 2.2: Các bước xây dựng thông điệp quảng cáo
- 9 -
Hình thành ý
tưởng thông tin
Đánh giá và chọn lựa
các phương án thông tin
Thực hiện
thông tin
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
(Nguồn : Phan Thăng - Phan Đình Quyền, NXB Thống kê)
d. Các giai đoạn trong quyết định về phương tiện truyền tin
o Giai đoạn 1 : Thông qua quyết định về phạm vi, tần suất và cường độ tác
động của quảng cáo
o Giai đoạn 2 : Lựa chọn những phương tiện truyền tin chủ yếu
o Giai đoạn 3 : Lựa chọn phương tiện mang quảng cáo cụ thể và chỉ tiêu
giá cả
o Giai đoạn 4 : Thông qua các quyết định về lịch sử dụng các phương tiện
quảng cáo
e. Các loại phương tiện quảng cáo
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật những phương tiện quảng cáo ngày
nay cũng rất phong phú và đa dạng, cả về phương tiện quảng cáo chuyên dụng và thông
dụng. Sau đây là một số phương tiện quảng cáo chính.
o Quảng cáo trực tiếp : Thư trực tiếp, điện thoại, tờ bướm, email.
o Nhóm phương tiện in ấn : Báo chí, ấn phẩm thương mại, tạp chí,...
o Nhóm phương tiện điện tử : Truyền thanh, truyền hình, phim,...
o Nhóm phương tiện ngồi trời : Panô, áp phích, bảng hiệu, phương tiện
giao thông công cộng (xe bus, xe lửa,
tàu thuyền,…), các vật dụng tại điểm
bán (đèn điện, bàn ghế, dù, …)
Thư quảng
cáo
-Chủ động vào khách hàng mục tiêu
-Ít bị tác động cạnh tranh
-Người đọc dễ bỏ qua và ít chú ý
-Chi phí cao
Sách, niên
giám
-Chi phí thấp
-Có thể dùng cho cả năm
-Thời gian hạn chế
-Tác động không mạnh
(Nguồn : Hồng Trọng – Phương Thảo, 1994
Vũ Thế Phú, 1994)
Trong loại hình kinh doanh dịch vụ đào tạo, phần lớn các quảng cáo xuất hiện trên
báo là chính, ngồi ra còn có trên tạp chí, niên giám, quảng cáo trên truyền hình và truyền
thanh thì ít được sử dụng. Ở BCC thì quảng cáo bằng thư trực tiếp rất được quan tâm.
2.4.0 Khuyến mãi
2.4.2.0 Định nghĩa
Khuyến mãi là bất kỳ hoạt động nào tạo ra một động cơ để mua sản phẩm ngồi
các lợi ích vốn có của sản phẩm, theo “Hiệp hội các công ty quảng cáo” của Mỹ. (Phan
Thăng - Phan Đình Quyền, NXB Thống kê). Hoạt động khuyến mãi trong dịch vụ bao
gồm việc sử dụng các công cụ cùng những giải pháp thích hợp trong từng điều kiện, hồn
cảnh cụ thể của công ty và đẩy mạnh tiêu thụ trong thời gian ngắn hạn
2.4.2.0 Xác lập mục tiêu của khuyến mãi
Mặc dù khuyến mãi rất đa dạng về hình thức, nhưng chúng được chia thành 3
loại chính theo đối tượng mục tiêu và 3 mục tiêu cơ bản của khuyến mãi đó là :
Khuyến mãi nhằm thúc đẩy, hỗ trợ và khuyến khích nỗ lực bán hàng của lực
lượng bán hàng.
Khuyến mãi nhằm động viên những người trung gian hỗ trợ một cách nhiệt
doanh các mặt hàng tiêu dùng thì tặng quà kèm theo thích hợp cho các chương trình
khuyến mãi nhằn tăng lượng hàng bán ra, thu hút khách hàng, thích hợp cho các sản
phẩm đã có thị trường và đang có sự cạnh tranh nhưng trong kinh doanh dịch vụ thì
điều này không phù hợp lắm. Vì thế tặng quà kèm theo trong đào tạo thường mang ý
nghĩa quảng cáo nhiều hơn với hình ảnh logo công ty trên các món quà.
b. Tổ chức tài trợ các buổi học cho các đại diện của các doanh nghiệp
Đây cũng là một hình thức khuyến mãi hữu hiệu, có thể hữu hiệu do thông tin
về sản phẩm về công ty được truyền miệng thông qua những người tham dự buổi học.
Hoặc qua đó người ta có thể có nhu cầu tham gia thêm một số lớp học khác.
c. Giảm tiền học phí
- 12 -
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
Là hình thức khuyến mãi tạo cơ hội cho người tiêu dùng mua dịch vụ ở
mức giá thấp hơn mức giá bình thường. Kích thích người mua quyết định nhanh hơn
khi ở mức giá bình thường.
Tóm lại: về mặt tích cực khuyến mãi (dù là khuyến mãi cho nhóm đối tượng
nào) thường làm tăng doanh số bán hàng của công ty, khuyến mãi sẽ hữu hiệu nhất
khi kết hợp với quảng cáo và chào hàng. Tuy nhiên, mặt trái của khuyến mãi là
thường tạo ra doanh số giả. Trong việc đưa ra thị trường những sản phẩm mới ở lĩnh
vực sản phẩm tiêu dùng thì khuyến mãi rất có hiệu quả, nhưng trong kinh doanh dịch
vụ đào tạo thì hiệu quả chỉ ở mức độ hạn hẹp.
2.4.0 Giao tiếp bán hàng
Giao tiếp cá nhân trong dịch vụ là quá trình thực hiện chuyển giao dịch vụ
giữa nhân viên cung ứng dịch vụ với khách hàng. Giao tiếp cá nhân phải đảm nhận
đồng thời ba chức năng là bán hàng, hoạt động tạo ra dịch vụ và kiểm sốt dịch vụ.
2.4.3.0 Qui trình bán hàng Hình 2.3: Qui trình bán hàng
tiện truyền thông công cộng (thay vì phải trả tiền để sử dụng các phương tiện này). Người
phụ trách giao tế có nhiệm vụ : kết chặc mối quan hệ, đưa sản phẩm đến người tiêu dùng,
giao tiếp thông tin trong công ty, vận động hành lang và cố vấn. Giao tế đóng vai trò
quan trọng là vì nó cung cấp những thông tin đáng giá, khuyến khích lực lượng bán hàng,
giới trung gian, tạo sự tín nhiệm và sử dụng ngân sách ít. Tuy hoạt động giao tế có nhiều
thuận lợi nhưng những người xây dựng các chiến lược thông tin thường đánh giá thấp hay
không nhận thấy các thuận lợi này.
2.4.4.0 Các đặc điểm của hoạt động giao tế
-Ít tốn kém : Chi phí xây dựng và thực hiện các chương trình giao tế (tuyên
truyền, sự kiện đặc biệt, các bài báo giới thiệu) tính trên đầu người được tiếp cận thì thấp
hơn nhiều ba loại chiêu thị kia.
-Đối tượng cụ thể : Hoạt động giao tế đôi khi nhắm vào nhiều loại đối tượng
cùng lúc, tuy nhiên trong đó nó cũng nhắm đến thái độ và quan tâm của các nhóm nhỏ đối
tượng rất cụ thể, nỗ lực giao tế có thể điều chỉnh theo quy mô thị trường ngược lại đối với
quảng cáo.
-Tính đáng tin : Nhiều dự án giao tế không mang một thông điệp có tính
thương mại hiển nhiên. Vì vậy các đối tượng thường cảm thấy thông điệp đáng tin hơn.
- 14 -
Chương 2 : Cơ sở lý thuyết
-Khó điều khiển : Các biên tập viên của phương tiện là người quyết định hoặc
phát hành hoặc không phát hành thông điệp, và nếu quyết định phát hành thì cần bao
nhiêu không gian hay thời gian để phát hành. Vì vậy đối với hoạt động giao tế, nhà tiếp
thị ít có khả năng điều khiển trực tiếp so với các yếu tố cơ bản khác của chiến lược chiêu
thị.
-Cạnh tranh : Nỗ lực giao tế không tránh khỏi sự cạnh tranh của những nhà
tiếp thị khác với cùng sự quan tâm đến những phương tiện giống nhau. Giới hạn về thời
gian và không gian đã đòi hỏi các dự án giao tế phải có phải có giá trị thông tin ở mức độ
cao. Vì vậy khả năng trình bày lặp đi lặp lại thông điệp càng bị hạn chế hơn nữa, rõ ràng
đây là nhược điểm đáng kể so với các yếu tố chiêu thị khác. Bù lại các thuộc tính của giao
trợ, tuy nhiên các lợi ích gián tiếp dưới dạng vị thế của công ty trong suy nghĩ của các đối
tượng khá đáng kể.
2.4.4.0 Các sự kiện đặc biệt
Các tổ chức tài trợ thường vạch ra kế hoạch và tổ chức các sự kiện đặc biệt
để thu hút sự chú ý của quảng đại quần chúng. Các sự kiện không cần thiết phải có liên
quan trực tiếp với nghành kinh doanh của tổ chức tài trợ nếu các sự kiện này thu hút
được những người tham gia đại diện cho các đối tượng mà công ty mong muốn.
Giữa hoạt động giao tế và quảng cáo có một mối quan hệ khăng khít, các
chiến dịch quảng cáo thường được hỗ trợ bởi các hoạt động tuyên truyền song song và
ngược lại, nhiều hoạt động tuyên truyền cũng được quảng bá rộng rãi. Tóm lại nếu hoạt
động quảng cáo đóng một vai trò quan trọng để sản phẩm công ty được biết đến thì hoạt
động giao tế góp phần để sản phẩm và thương hiệu của công ty được công chúng biết đến
và tin cậy.
Trên đây tồn bộ cơ sở lý thuyết cho các hoạt động chiêu thị. Tuy nhiên chỉ
mới là lý thuyết, do đó cần phải chọn lọc cho phù hợp với hồn cảnh và nguồn lực của
công ty thì khi thực hiện mới có hiệu quả.
- 16 -
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
CHƯƠNG 3 : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG
ĐÀO TẠO VÀ TƯ VẤN NGUỒN NHÂN LỰC –
TỔNG QUAN CÔNG TY BCC
3.4 TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG ĐÀO TẠO VÀ TƯ VẤN NGUỒN NHÂN LỰC
3.1.0 Tổng quan thị trường
Từ những năm 1987 khi bắt đầu thực hiện chuyển đổi từ nền kinh tế hoạch định tập
trung sang nền kinh tế thị trường. Việt Nam được coi là một trong những nước phát triển
kinh tế năng động nhất khu vực. Được sự khuyến khích của chính phủ về nền kinh tế đa
thành phần, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã ra đời và kinh doanh sản xuất có hiệu quả.
Mặc dù đã có những thành công đáng kể trong sản xuất kinh doanh, nhưng nhiều doanh
nghiệp vẫn chưa phát triển hiệu quả nguồn nhân lực của mình vì ở giai đoạn ban đầu khi
Sản xuất/đảm bảo chất lượng 55%
Tài chính/ kế tốn 55%
Pháp lý 52%
(Nguồn : Phòng kinh doanh công ty BCC)
Qua những con số trên, cho thấy nhu cầu về đào tạo/huấn luyện của các doanh
nghiệp đứng thứ 3 trong 7 lĩnh vực đang có nhu cầu tư vấn hiện nay, chỉ sau quảng cáo,
khuyến mãi và tiếp thị. Đây quả là một con số không nhỏ. Ngồi ra theo lời giám đốc nhân
sự công ty Cargill Asia Pacific, thì thị trường lao động trong những năm gần đây, xét ở các
ngành nghề hút lao động thì nghề nhân sự đứng ở vị trí thứ năm. Chỉ đứng sau các ngành
nghề : giao tế, ngân hàng, tin học và thư ký,... Như vậy tóm lại những thông tin trên khẳng
định một lần nữa thị trường đào tạo và tư vấn nguồn nhân lực là một thị trường rất có tiềm
năng.
3.1.0 Các đối thủ và các hoạt động chiêu thị của thị trường
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều công ty hoạt động trong lĩnh này với nhiều
hình thức tư vấn và đào tạo khác nhau. Một số đối thủ mạnh của BCC phải kể đến là
Bourne Griffiths, L&A, ILA, First Alliances, Apollo, Big Earth, Price Waterhouse Coopers,
E & Y,...các đối thủ ngang tầm với BCC được chú ý đến như : VCCI, CTC, Net Viet, Tân
Đức, Đại học kinh tế,Viện quản trị doanh nghiệp, ILA, Cao đẳng bán công Hoa Sen,... Lý
do là các công ty này có những chương trình đào tạo gần giống với BCC, từ cách đặt tên
sản phẩm cho đến cách thể hiện ý tưởng. Trong đó Net Việt nổi bật với những chương trình
và ý tưởng thể hiện trên thị trường gần giống với BCC như đánh giá năng lực, tư vấn doanh
nghiệp,...Sau đây là sơ bộ một số hoạt động chiêu thị của các đối thủ trên thị trường.
Apollo
Các chương trình đào tạo chủ yếu là lĩnh vực marketing như : Marketing Operation,
The Marketing Customer Interface, Managerment Information for Marketing Decision,
Effective Managerment for Marketing. Học phí để lấy một chứng chỉ Professional
Marketing Qualifications so Apollo cấp là 1395$ cho 6 tháng và 2511$ cho 1 năm, mặt
bằng giá như thế là rất cao so với thu nhập của người dân Việt Nam. Giảng viên của công
- 18 -
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
không tổ chức các hoạt động PR cho việc quảng bá các khóa đào tạo. Học viên tự đến đăng
ký, không có các hoạt động Markeing chỉ có học viên tiếp xúc với người đăng ký, Có thể
xem rằng hai đối thủ này hoạt động dựa trên uy tín của trường đã có từ lâu nên giờ đây họ
không cần làm công tác quảng bá hình ảnh mà mọi người ai cũng biết.
ILA
Thường tổ chức các buổi hội thảo về các chương trình du học Anh và Hà Lan, ngồi
ra còn có một số bài viết trên báo Sài Gòn tiếp thị, website vnexpress, quảng cáo thì cũng
tập trung trên báo tuổi trẻ, họ cũng có những chương trình đào tạo gần giống BCC, nhưng
hoạt động chính của ILA là cung cấp nguồn nhân lực cấp cao, họ cũng nổi tiếng với các
khóa học anh văn và các hoạt động tư vấn du học.
- 19 -
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
Trường Cao đẳng Bán công Hoa Sen
Tuy là một trường cao đẳng nhưng Hoa Sen nổi tiếng cung cấp những chương trình
học từ những khố học vài ngày cho đến những chương trình chính quy hệ cao đẳng trong
lĩnh vực công nghệ thông tin, quản trị, kế tốn, tài chính, ngoại ngữ, hiện nay họ đang hợp
tác với UBI United Business Institutes - Brussels, Vương quốc Bỉ về chương trình đào tạo
cử nhân quản trị kinh doanh. Về các chiêu thị thì có các hoạt động như tham gia các hội
chợ việc làm, một website riêng giới thiệu hình ảnh, giới thiệu các hoạt động của trường,
giới thiệu thời gian, chi phí đào tạo của một số chương trình học. Ngồi ra quảng cáo trên
website các chương trình học còn được quảng cáo trên các báo theo định kỳ.
Trên đây là một số nét mô tả về tổng quan thị trường đào tạo và tư vấn nguồn nhân
lực, các khóa đào tạo và các hoạt động chiêu thị của các đối thủ. Thị trường đào tạo và tư
vấn nguồn nhân lực là một thị trường khá hấp dẫn, trên thị trường có rất nhiều khóa học về
các chuyên ngành khác nhau từ sản xuất, kinh doanh, nhân sự cho đến kế tốn,... trong đó số
lượng công ty thật sự đào tạo chuyên ngành nhân sự thì không nhiều tuy nhiên trong số các
đối thủ trên nổi bật lên hết là cao đẳng bán công Hoa Sen với chương trình đào tạo gần
giống chương trình mới của BCC đó là quản trị hành chánh với thời gian đào tạo 3 năm bao
gồm 4 học kỳ học tại trường và hai học kỳ thực tập ở các công ty. Hoạt động chiêu thị của
Triển khai đào tạo chương trình “Giám đốc Nhân sự” kéo dài 3 tháng và đã đào
tạo hơn 150 Giám đốc Nhân sự cho các doanh nghiệp hàng đầu tại Việt Nam
Năm 2003
Nghiên cứu và triển khai chương trình đào tạo “Nghề Nhân sự” thời gian 6 tháng
cho đến nay đã đào tạo được hơn 200 học viên chuyên ngành nhân sự
Năm 2004
Nghiên cứu ứng dụng và áp dụng thành công mô hình tư vấn “Tái cấu trúc Doanh
nghiệp trong điều kiện Việt Nam”
Nghiên cứu và phát triển chương trình đào tạo “Hành chánh Nhân sự” chuyên
nghiệp với thời lượng là một năm
3.2.0 Chức năng hoạt động chính
• Đào tạo và tư vấn đào tạo : Chuyên đào tạo và tư vấn cho các doanh nghiệp
trong và ngồi nước. Trong hơn một năm BCC đã thực hiện các khóa đào
tạo cho hơn 1900 học viên đến từ 59 doanh nghiệp.
• Tư vấn cấu trúc và tái cấu trúc doanh nghiệp : BCC đã thực hiện việc tư
vấn, xây dựng cấu trúc và tái cấu trúc cho các doanh nghiệp tiêu biểu
như :Tân Đại Hưng, Castrol Việt Nam, Fujitsu, La Vie, Manulife,...
• Đánh giá năng lực quản lý và tư vấn tuyển dụng : BCC thực hiện đánh
giá năng lực quản lý và tư vấn tuyển dụng cho các vị trí quản lý cao cấp
như : Giám đốc công ty, giám đốc kinh doanh, giám đốc nhân sự và rất
nhiều vị trí khác.
Trong đó dịch vụ đào tạo bao gồm các nội dung chính sau :
- 21 -
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
Mô hình và phương pháp đào tạo
Lớp hành chánh nhân sự chuyên nghiệp
Lớp nghề nhân sự
Các khóa đào tạo ngắn hạn về nhân sự
Các khóa đào tạo ngắn hạn về quản lý
NTV
KT
IT
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
ra nó còn thể hiện tính chuyên nghiệp cần có. Đứng đầu và lãnh đạo mọi hoạt động BCC là
giám đốc điều hành, dưới quyền là hệ thống các phòng ban : Phòng phát triển kinh doanh,
Phòng chuyên môn –Phòng hành chánh nhân sự. Tổng số lao động hiện nay của công ty là
40 người.
3.2.0 Trách nhiệm và quyền hạn của mỗi phòng ban
A. Phòng phát triển kinh doanh
Bộ phận kinh doanh được xem là một trong những bộ phận quan trọng, nó quyết
định số lượng, doanh thu của công ty qua việc chịu trách nhiệm về các chỉ tiêu doanh số,
chi phí lợi nhuận được phân bổ, lên kế hoạch hành động cụ thể cho từng chương trình. Hỗ
trợ các bộ phận khác trong việc cung cấp dịch vụ và đi sales với khách hàng. Có ba hoạt
động chính sau :
Marketing : Nghiên cứu phát triển thị trường, chủ động trong các hoạt động
marketing theo định hướng kinh doanh tổng thể
Inhouse : Là nhóm chuyên tập trung vào các doanh nghiệp trong và ngồi nước
để thực hiện các hợp đồng đào tạo và tư vấn. Bao gồm hai loại khách hàng
:khách hàng chính (key account) và khách hàng mới (new account)
Public : Là nhóm phụ trách mảng đào tạo tín chỉ. Cũng bao gồm hai loại khách
hàng, nhưng là khách hàng dự án và khách hàng public
B. Phòng giải pháp – chuyên môn
Là bộ phận có nhiệm vụ về những công việc nghiên cứu, cung cấp và giảng dạy các
dịch vu,ï những chương trình mới
C. Phòng hành chánh – nhân sự
Thực hiện các hoạt động hành chánh, quy định các chế độ chính sách, quản trị hệ
thống thông tin mạng nội bộ, xây dựng văn hóa công ty, tuyển dụng và phát triển nguồn
Chương 3 : Tổng quan thị trường đào tạo, tư vấn nguồn nhân lực & Công ty BCC
Đến năm 2002 BCC nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu thị trường, do đó họ đã
chọn phương thức quảng bá tên tuổi của mình thông qua một chương trình nghiên cứu
“Chân dung giám đốc nhân sự “. Xây dựng chương trình này cùng với Báo Người lao động,
thu hút sự tham gia của hơn 500 doanh nghiệp cả trong và ngồi nước. Chi phí cho việc
nghiên cứu và tổ chức hội thảo cho chương trình là 80 triệu đồng, chỉ tính riêng chi phí của
chương trình này cho thấy chi phí đầu tư cho công tác quảng bá hình ảnh của BCC tăng đột
biến so với con số 20 triệu trong năm 2001, chứng tỏ BCC trong thời gian này đang có một
bước đột phá, cũng chính nhờ cuộc đột phá này qua đó BCC được biết đến nhiều hơn với
một hình ảnh chuyên nghiệp và hiện đại, phát triển mục tiêu hướng vào vấn đề nhân sự mà
thị trường đang quan tâm, chọn đúng vấn đề mà thị trường đang có nhiều nhu cầu nhưng có
ít nhà cung cấp tham gia.
Thông qua chương trình này tạo được mối quan hệ tốt với các giới truyền thông,
sẽ là điều kiện thuận lợi cho những hoạt động sau này. Trong năm này kèm chung với
chương trình nghiên cứu thì hoạt động quảng cáo của BCC cũng đồng thời được đẩy mạnh,
như quảng cáo đăng tải, thông báo các chương trình học mới, gửi brochure, phát tờ
rơi,...Tuy nhiên hoạt động giao tiếp bán hàng cũng chưa được đầu tư song song, khách
hàng tự tìm đến các khóa học nhiều hơn là khách hàng do công ty mang về. Khuyến mãi
chưa có một hoạt động nào để hấp dẫn người học.
Năm 2003 BCC đầu tư 97 triệu cho hoạt động quảng bá, tuy số tiền có tăng nhưng
so với tỷ lệ quảng bá năm 2001 nó cũng chỉ mới 1,86% trên tổng doanh thu và so với riêng
chi phí của chương trình nghiên cứu năm 2002 cũng chỉ lớn hơn không nhiều. Các hoạt
động quảng cáo, giao tiếp bán hàng và khuyến mãi cũng không có gì thay đổi, do âm hưởng
của “chân dung giám đốc nhân sự” nên trong năm này hoạt động quảng bá chưa được BCC
chú trọng nhiều do đó mà một số khách hàng lớn của công ty đã chuyển qua sử dụng các
dịch vụ đào tạo của Bourne Griffiths, Apollo và Net Viet.
Việc sử dụng dịch vụ các công ty đối thủ của một số khách hàng lớn đã phần nào
làm BCC thức tỉnh. Tuy chưa thống kê được hết các chi phí cho các hoạt động chiêu thị của
công ty trong năm 2004 nhưng nhìn chung họ cũng có đầu tư cho nhiều cho các hoạt động,