Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước thực trạng và mốt số giải giáp - Pdf 10

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
MỞ ĐẦU
Xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng như hiện nay đã đặt nền
kinh tế nước ta trước nhiều cơ hội và không ít thử thách. Yêu cầu đặt ra là cần phải
đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Để thực hiện được
nhiệm vụ đó cần phải có các điều kiện về cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách
nhà nước hạn hẹp thì hình thức tín dụng đầu tư phát triển tỏ ra rất ưu việt trong việc
huy động và quản lý nguồn lực của nhà nước cho đầu tư phát triển.
Thông qua hình thức tín dụng đầu tư phát triển nguồn vốn huy động cho đầu tư
phát triển đa dạng hơn, bền vững hơn không những từ nguồn vốn ngân sách mà còn
thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi trong xã hội.
Là công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ đối với nền kinh tế hoạt động tín
dụng đã quản lý và sử dụng nguồn vốn ưu đãi hiệu quả hơn, phù hợp với các ưu tiên
phát triển của đất nước trong từng thời kỳ, góp phần phát triển cân đối nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng đầu tư mới thực sự được thực hiện ở Việt Nam từ năm 1990
tuy cũng đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển đất nước nhưng vẫn
còn tồn tại những hạn chế nhất định, chưa thực sự phát huy tốt là công cụ chính sách
của nhà nước.
Tiếp tục thực hiện chủ trương phát huy nội lực để đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa đất nước, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới khi Việt Nam chính thức
là thành viên của WTO hoạt động tín dụng nhà nước đã có những bước chuyển hợp
lý hơn với thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do đó việc nghiên cứu đề tài: “Tín dụng đầu tư phát
triển nhà nước thực trạng và mốt số giải giáp” là cần thiết để có những giải pháp
tăng cường hoạt động tín dụng đầu tư phát triển cho phù hợp với các thông lệ quốc tế
về giảm trợ cấp; phát huy hơn nữa vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội.
1
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
1

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
phát triển của chính phủ, mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp với lãi suất ưu đãi, hay
các điều kiện ưu đãi khác ngoài lãi suất như ưu đãi về thời hạn tín dụng, về thuế …
Tuy nhiên trong điều kiện Ngân sách của Nhà nước còn hạn hẹp và để việc hỗ trợ
đầu tư mang tính hiệu quả và lâu dài, các quốc gia thường thực hiện hỗ trợ đầu tư thông
qua hình thức tín dụng. Đó là tín dụng ĐTPT Nhà nước.
Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là hình thức tín dụng Nhà nước nhằm
thực hiện mục tiêu đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, là quan hệ vay – trả
giữa Nhà nước và các pháp nhân, thể nhân trong xã hội, được Nhà nước quy định với
các ưu đãi nhất định, nhằm thực hiện mục tiêu thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo
định hướng của Nhà nước.
Mục đích của tín dụng ĐTPT Nhà nước là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển một số
ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có tác động trực tiếp đến chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Tín dụng ĐTPT của Nhà nước được coi là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng
giúp Nhà nước can thiệp vào thị trường, thúc đẩy đầu tư phát triển theo định hướng
chính sách của Nhà nước với chức năng chủ yếu là phân phối lại nguồn vốn đầu tư phát
triển nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư theo kế hoạch, định hướng của Nhà nước. Công cụ
này được nhiều nước sử dụng thời kỳ khôi phục kinh tế đất nước sau chiến tranh hoặc
trong thời kỳ công nghiệp hóa đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, khi nhu
cầu đầu tư của toàn xã hội rất lớn nhưng khu vực kinh tế tư nhân còn non yếu, chưa có
khả năng đáp ứng nhu cầu đó.
2. Đối tượng của tín dụng ĐTPT Nhà nước.
Đối tượng của tín dụng ĐTPT mang tính đặc trưng về không gian và thời gian. Nó
phụ thuộc vào các chính sách phát triển cũng như chiến lược công nghiệp hóa của mỗi
quốc gia. Mỗi quốc gia theo đuổi chính sách công nghiệp hóa, theo hướng thay thế nhập
khẩu sẽ có xác định đối tượng ưu tiên của tín dụng ĐTPT khác với quốc gia thực hiện
công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu. Tuy nhiên phần lớn chiến lược công nghiệp hóa
3
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46

4
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Nguồn vốn tín dụng ĐTPT không chỉ có nguồn vốn Ngân sách nhà nước dành cho
đầu tư phát triển mà còn bao gồm cả nguồn vốn nhàn rỗi của cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước dùng để ĐTPT
Với tư cách là “ bàn tay hữu hình”, Nhà nước can thiệp vào hoạt động ĐTPT để
điều tiết và định hướng đầu tư theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Một yếu tố quan
trọng và đã trở thành lợi thế trong việc huy động vốn cho tín dụng ĐTPT là Nhà nước
dùng uy tín của mình để đảm bảo việc hoàn trả vốn, do đó có thể thu hút được các nguồn
đầu tư phát triển trong và ngoài nước với thời gian dài. Tại các nước đang phát triển, lý
do quan trọng làm suy yếu nguồn tiết kiệm trung và dài hạn của dân cư không phải là lãi
suất không hấp dẫn mà là sự rủi ro của hệ thống tài chính và sự không ổn định của môi
trường vĩ mô. Bằng việc đảm bảo khả năng thanh toán cho tổ chức thực hiện tín dụng
đầu tư phát triển của Nhà nước, cùng với cam kết duy trì môi trường kinh tế vĩ mô ổn
định, Nhà nước có thể thu hút được một lượng vốn trung và dài hạn trong xã hôi dành
cho ĐTPT.
4. Hình thức của tín dụng ĐTPT Nhà nước.
+ Trực tiếp: Chính phủ đầu tư trực tiếp hoặc cho vay với các điều kiện ưu đãi ( lãi
suất, thời hạn, các điều kiện đảm bảo khác … ) đối với các dự án thuộc lĩnh vực ưu tiên.
Ngoài ra, Chính phủ có thể bảo lãnh cho các doanh nghiệp, cá nhân vay vốn của các tổ
chức tín dụng trong và ngoài nước.
+ Gián tiếp: Chính phủ cung cấp các dịch vụ miễn phí hoặc mức phí thấp cho
doanh nghiệp, cá nhân như các thông tin về thị trường trong và ngoài nước, nghiên cứu
thị trường theo yêu cầu của doanh nghiệp …
Hoạt động tín dụng ĐTPT không nhằm mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo thu
hồi đủ vốn và bù đắp chi phí hoạt động. Tín dụng ĐTPT không chỉ đề cao hiệu quả kinh
tế, khả năng sinh lời của dự án đầu tư mà còn xem xét đến những tác động của dự án đối
với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, những lợi ích mà
xã hội thu được từ dự án.
5

6
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Cơ chế hoạt động của tổ chức này trong thời gian đầu thực hiện có thể có sự hỗ trợ
của Nhà nước để cho vay các dự án đầu tư theo định hướng của chính phủ với lãi suất
thấp hơn lãi suất thị trường. Trong xu thế phát triển chung, tính độc lập, tính tự chủ về
tài chính, tính hiệu quả trong hoạt động nghiệp vụ của tổ chức thực hiện sẽ ngày càng
tăng.
II. Vai trò của tín dụng ĐTPT trong nền kinh tế.
Trên thế giới, do nhu cầu chi của NSNN không ngừng tăng trong khi nguồn thu
NSNN lại bị hạn chế và tăng chậm, nên hầu hết các quốc gia đều xảy ra tình trạng thâm
hụt NSNN. Mặt khác do nguồn lực của Nhà nước còn hạn chế trong khi nhu cầu chi đầu
tư phát triển lại rất lớn, NSNN không thể trang trải hết cho toàn bộ các dự án ĐTPT nên
Nhà nước buộc phải lựa chọn các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp để đầu
tư ( bằng cách cấp phát không hoàn lại ); còn đối với các dự án đầu tư phát triển có khả
năng thu hồi vốn trực tiếp, Nhà nước chỉ đầu tư thông qua kênh tín dụng ĐTPT, trong đó
chủ đầu tư dự án được vay vốn của Nhà nước để đầu tư và phải sử dụng các nguồn thu
từ dự án để hoàn trả toàn bộ số nợ đã vay nhà nước.
Như vậy tín dụng ĐTPT Nhà nước ra đời bắt nguồn trước hết từ yêu cầu về giải
quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu ĐTPT ngày càng lớn của nền kinh tế với sự giới hạn của
nguồn lực tài chính công, nhất là của NSNN. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không
ngừng của kinh tế thị trường thì tín dụng ĐTPT Nhà nước ngày càng có vai trò quan
trọng. Có thể xem xét vai trò của tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước trên một số khía
cạnh chủ yếu sau:
1. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mà các nước chậm phát
triển phải trải qua để trở thành một nước công nghiệp phát triển. Nội dụng trọng tâm của
quá trình này là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó chủ yếu là

tiết kiệm – tiêu dùng- đầu tư, cân đối xuất – nhập khẩu .. Để đạt được những mục tiêu về
8
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
8
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
quan hệ cân đối này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp nhiều chính sách kinh tế vĩ mô khác
nhau mà trong đó chủ yếu là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Là một bộ phận
cấu thành trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, tín dụng ĐTPT có tác
động rất lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Điều đó được thể hiện qua một số
khía cạnh chủ yếu sau:
- Thông qua việc hỗ trợ đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng và các cơ sở sản xuất,
tín dụng ĐTPT góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm.
- Thông qua việc huy động vốn và cho vay đối với các dự án, tín dụng ĐTPT tác
động đến cung – cầu trên thị trường vốn và tiền tệ, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát
và mặt bằng lãi suất của nền kinh tế.
- Thông qua việc đầu tư cho các dự án phục vụ xuất khẩu hoặc đầu tư ra nước
ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA). Tín dụng ĐTPT còn góp phần
điều chỉnh quan hệ cân đối xuất – nhập khẩu, đồng thời tác động đến trạng thái cán cân
thanh toán quốc tế của quốc gia, từ đó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái.
- Thông qua lãi suất huy động, tín dụng ĐTPT góp phần điều tiết tỷ lệ giữa tích lũy
và tiêu dùng của dân cư, đồng thời thông qua việc quy định đối tượng và điều kiện được
hưởng ưu đãi, tín dụng ĐTPT góp phần định hướng đầu tư của các chủ thể trong nền
kinh tế vào các ngành, các vùng và lĩnh vực mà nhà nước khuyến khích phát triển
3. Góp phần giải quyết khó khăn của NSNN trong thực hiện nhiệm vụ chi đầu tư
phát triển, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Mặc dù chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội là một
nội dung chi rất lớn và quan trọng trong chi đầu tư phát triển của NSNN, nhưng có một
thực trạng chung hiện nay diễn ra ở hầu hết các quốc gia, là những dự án sử dụng NSNN
thường đầu tư dàn trải, không tập trung, vốn đầu tư bị thất thoát hoặc sử dụng lãng phí,
hiệu quả thực tế của dự án không thực sự được quan tâm … mà nguyên nhân chủ yếu

nước nghèo được vay vốn của các nước giàu hơn đang được đặt ra một cách bức thiết.
10
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Trong bối cảnh đó, các nhà nước không thể từ chối nghĩa vụ cho vay đối với quốc
gia kém phát triển hơn. Các khoản cho vay của Nhà nước đối với quốc gia khác có thể
được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng trong đó phổ biến là các khoản
cho vay ODA với thời hạn cho vay dài, lãi suất cho vay ưu đãi nhằm thực hiện các dự án
ĐTPT cơ sở hạ tầng KT-XH.
Thông qua các khoản ODA này, nước cho vay có thể tăng cường ảnh hưởng của
mình với nước đi vay, đồng thời nâng cao vị thế trong các tổ chức và diễn đàn quốc tế.
Điều đó có nghĩa là tín dụng ĐTPT đã góp phần nâng cao vị thế của quốc gia trong cộng
đồng thế giới.
Mặt khác, các công trình cơ sở hạ tầng KT-XH được đầu tư bằng nguồn vốn ODA
cho vay ưu đãi đã tạo điều kiện để nước cho vay mở rộng đầu tư trực tiếp và xuất khẩu
hàng hóa, dịch vụ vào thị trường của nước được vay ODA ưu đãi, và như vậy, tín dụng
ĐTPT đã tạo điều kiện để mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại của quốc
gia.
III. Bài học kinh nghiệm quốc tế về tăng cường hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà
nước.
Để tăng cường hoạt động tín dụng ĐTPT các nước trên thế giới đã chú trọng xây
dựng và phát triển mô hình tổ chức thực hiện để tổ chức này phát huy tốt hơn vai trò là
công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT
Nhà nước. Các mô hình tổ chức thực hiện này đã đem lại những hiệu quả cao trong hoạt
động tín dụng ĐTPT và phù hợp với diễn biến thực tế. Việt Nam là nước đi sau sẽ có
nhiều thuận lợi trong việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển tổ chức
thực hiện tài trợ phát triển của Chính phủ. Sau đây là bài học kinh nghiệm của Đức và
Trung Quốc.
1. Ngân hàng phát triển Đức( KFW)

định. Hội đồng quản lý được thành lập như một đơn vị điều hành nội bộ; bao gồm
các thành viên đại diện cho: Ủy ban kế hoạch Nhà nước, Ủy ban thương mại và kinh
tế Nhà nước, Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế, Kiểm toán.
12
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Mỗi năm CDB được kiểm tra tổng thể một lần xem các chính sách hoạt động của
CDB có phù hợp với chính sách quốc gia hay không, không hề có việc kiểm tra nhỏ
lẻ ở tầm vi mô và Hội đồng quản lý không được phép can thiệp tùy tiện vào các hoạt
động hàng ngày của CDB.
Nguồn vốn của CDB phần lớn từ phát hành trái phiếu. Trái phiếu của CDB phát
hành trong nước được Chính phủ bảo lãnh. Phần lớn các trái phiếu 5 năm được các
ngân hàng thương mại và trái phiếu 8 năm do tiết kiệm bưu điện mua. Lãi suất do
ngân hàng nhân dân quyết định và có cân nhắc tới lãi suất của các công cụ tài chính
khác có cùng thời hạn. Từ năm 1998, CDB đưa ra một phần hệ thống đấu thầu thông
qua việc kết hợp một nhóm các ngân hàng thương mại để quyết định lãi suất của trái
phiếu, do vậy mà huy động được vốn với lãi suất thấp.
Các hình thức hỗ trợ của CDB ngày càng được đa dạng hơn. Đặc biệt là việc mở
rộng hình thức tư vấn đầu tư cho các dự án. Đây là hình thức mới nhưng lại mang lại
hiệu quả cao đối với các dự án đầu tư. Hiện nay CDB đã tư vấn cho các dự án mới
của Nhà nước trước khi nó được trình lên nội các.

3. Một số bài học rút ra với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Mỗi nước đều có sự khác nhau về truyền thống văn hóa, cơ cấu xã hội, hành vi
kinh tế, mức độ phát triển công nghiệp và lợi thế so sánh. Dù vậy, Việt Nam với tư cách
là người đi sau, không thể không học tập một cách chọn lọc từ các quốc gia có đặc điểm
kinh tế xã hội tương đồng đi trước để có thể nâng cao hiệu quả triển khai, tiếp tục phát
huy tối đa vai trò là công cụ tài chính của Chính phủ trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh
tế thông qua việc thực hiện chính sách tín dụng Nhà nước trong giai đoạn hiện nay và

thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, điều kiện vay vốn ( trong đó có bảo hiểm tiền vay )

14
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
14
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
* Cơ chế tài chính và nguyên tắc hoạt động là lành mạnh và công khai theo quy định của
pháp luật; chịu sự kiểm toán của Nhà nước hoặc kiểm toán độc lập do Chính phủ quy
định.
15
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
15
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐTPT NHÀ NƯỚC Ở
VIỆT NAM
I. Tổng quan chung về tín dụng ĐTPT Nhà nước ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, trong mỗi thời kỳ hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước được giao cho
các tổ chức khác nhau thực hiện.
1. Giai đoạn trước 1990.
Sau khi miền Bắc được giải phóng, để khôi phục nền kinh tế bị tàn phá trong chiến
tranh trong khi nguồn vốn tiết kiệm đầu tư của dân cư quá nhỏ, Nhà nước đã phải sử
dụng nguồn vốn Ngân sách cấp cho các doanh nghiệp Nhà nước, các chương trình xây
dựng.
Theo nghị định 177 – TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng
kiến thiết Việt Nam được thành lập với chức năng cơ bản: cung cấp vốn kiến thiết cơ
bản theo kế hoạch và dự toán Nhà nước duyệt; quản lý toàn bộ vốn Ngân sách Nhà nước
dùng vào kiến thiết cơ bản. Bên cạnh Ngân hàng kiến thiết Việt Nam, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam cũng thực hiện cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Điều này tạo ra sự
chồng chéo, khó tập trung quản lý hoạt động ĐTPT của Nhà nước.
Trước yêu cầu giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp phát và cho vay vốn Nhà nước,

một tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động theo điều lệ do Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ tài chính.
Như vậy trong thời gian từ 1995 – 1999, hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước được
nhiều tổ chức thực hiện,đó là: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Tổng cục đầu
tư phát triển, trực thuộc Bộ tài chính, Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia thuộc Chính phủ và các
Ngân hàng thương mại quốc doanh khác. Mỗi đầu mối cho vay và quản lý nhiều chương
trình khác nhau, làm cho nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước bị phân tán, giảm
hiệu quả vốn đầu tư,gây khó khăn trong quản lý vốn.
17
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
17
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
4.Giai đoạn 2000 – 2006.
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế
quản lý tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện chủ trương
phát huy nội lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh của nền kinh tế theo tinh thần, nghị quyết TW 4 và TW 6 lần 1 khóa VIII, tháng 6
năm 1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/1999/NĐ – CP về tín dụng đầu tư
phát triển của Nhà nước, đồng thời thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển( QHTPT) theo Nghị
định số 50/1999/NĐ – CP ngày 8/7/1999 để thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT Nhà
nước.
Đây là một bước đi quan trọng trong việc đổi mới quản lý tín dụng ĐTPT Nhà
nước_ tập trung vào một đầu mối, khắc phục những tồn tại của cơ chế tín dụng ĐTPT
trong 10 năm trước theo hướng giảm bao cấp, tăng cường hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao
tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan cho vay, tách bạch tín dụng
chính sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
QHTPT chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2000 với những nhiệm vụ: huy
động vốn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện chính sách tín
dụng ĐTPT Nhà nước thông qua các hình thức cho vay đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư,
hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu, cho vay theo hiệp định của Chính

chính sách và tổ chức thực hiện. Trong đó giai đoạn 2000 – 2005 tổ chức thực hiện hoạt
động này là QHTPT. Sang giai đoạn 2006 đến nay tổ chức thực hiện là NHPT. Vì thế ta
sẽ chia giai đoạn từ năm 2000 đến nay thành hai giai đoạn 2000 – 2005 và 2006 đến
nay để xem xét thực trạng của từng giai đoạn, từ đó đánh giá xem qua hai giai đoạn
hoạt động tín dụng ĐTPT đã đạt được những thành tựu gì, còn những tồn tại gì và sự
điều chỉnh hoạt động tín dụng ĐTPT đã phù hợp với thực tiễn chưa.
1.Giai đoạn 2000 – 2005
1.1. Tổ chức thực hiện
* Cơ chế, chính sách
19
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
19
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
Trong giai đoạn này Chính phủ đã ban hành hai nghị định về tín dụng ĐTPT là:
Nghị định số 43/1999/NĐ- CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 và Nghị định số
106/2004/NĐ-CP ngày 1 tháng 4 năm 2004. Nghị định 106 ra đời để khắc phục những
tồn tại của Nghị định 43. Theo đó:
+ Đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi bị cắt giảm để tránh tình trạng đầu tư dàn trải.
+ Nguồn vốn huy động được mở rộng để giảm sự phụ thuộc vào NSNN.
+ Lãi suất cho vay được điều chỉnh theo hướng giảm bao cấp.
* Tổ chức thực hiện
Để thực hiện hoạt động tín dụng ĐTPT trong giai đoạn này Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 50/1999/NĐ – CP ngày 08 tháng 07 năm 1999 về việc thành lập QHTPT để
thực hiện chính sách tín dụng ĐTPT. Đây là một bước đi rất quan trọng trong việc đổi
mới quản lý tín dụng ĐTPT Nhà nước tập trung vào một mối để phát huy hơn nữa vai
trò của tín dụng ĐTPT với sự phát triển của nền kinh tế. QHTPT được thành lập trên cơ
sở tổ chức lại Tổng cục đầu tư phát triển và Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia. QHTPT là tổ
chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn và
bù đắp chi phí. Quỹ có bộ máy quản lý và điều hành thống nhất trong phạm vi cả nước,
có tư cách pháp nhân, được cấp vốn điều lệ. Hoạt động nghiệp vụ của QHTPT là huy

định 106 Bộ Kế hoạch đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính lập dự toán NSNN cấp
bù chênh lệch lãi suất, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư cho hoạt động tín dụng ĐTPT hoặc theo
Nghị định 43 quy định Bộ Tài chính có nhiệm vụ bố trí vốn ngân sách Nhà nước hàng
năm cho QHTPT thì sang Nghị định 106, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế
hoạch và Đầu tư bố trí vốn ngân sách Nhà nước hàng năm cho hoạt động tín dụng
ĐTPT. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín dụng
ĐTPT không chỉ nâng cao hơn nữa vai trò của hoạt động này đối với sự phát triển của
nền kinh tế mà còn thể hiện một sự đổi mới đáng ghi nhận trong việc ban hành Chính
sách và quan điểm cải cách nền tài chính công của nước ta.
21
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
21
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
1.2. Nguồn vốn hoạt động
Nguồn vốn hoạt động bao gồm vốn điều lệ do NSNN cấp; vốn từ phát hành trái
phiếu Chính phủ; vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài của Chính phủ dùng để cho vay lại
và vốn do QHTPT huy động từ các TCTC, TCTD.
Nguồn vốn đã được mở rộng cả về quy mô và hình thức. Tuy nhiên nguồn vốn hoạt
động vẫn còn phụ thuộc nhiều vào NSNN. Để khắc phục những hạn chế của Nghị định
43 và để giảm bớt gánh nặng cho NSNN Nghị định 106 đã quy định cụ thể, rõ ràng hơn
về nguồn vốn hoạt động. Nguồn vốn được chia thành: Vốn NSNN và vốn QHTPT huy
động. Trong đó, vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ được giao cho QHTPT phát hành
và thuộc về vốn QHTPT huy động. Đây là sự thay đổi trong chính sách thể hiện rõ sự
đổi mới theo hướng giảm bao cấp, nhằm khai thác tối đa nguồn lực xã hội cho sự phát
triển và nâng cao hơn nữa tính tự chủ, độc lập của tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng
ĐTPT.
Năm 2000, tỷ lệ vốn NSNN, vốn vay từ các Quỹ theo chỉ thị của Chính phủ chiếm
92,7% nguồn vốn của QHTPT. Đến cuối năm 2003, tỷ lệ này chỉ còn 48,2%. Đặc biệt từ
năm 2002, QHTPT đã huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ trên
thị trường Chứng khoán tạo ra công cụ đầu tư tài chính dài hạn 10 năm, 15 năm xuất

thành thị và nông thôn. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ một số điểm chưa phù hợp cụ thể là về
đối tượng tín dụng ĐTPT.
Đối tượng hưởng ưu đãi là các dự án đầu tư tại các vùng khó khăn thuộc một số
ngành nghề theo quy định. Điều này đãm làm hạn chế khả năng vay vốn của các dự án
bởi để đảm bảo tính hiệu quả đầu tư thì một số dự án khó có thể đầu tư tại các vùng khó
khăn. Bên cạnh đó các đối tượng hưởng ưu đãi rất rộng rãi, lên tới gần 40 nhóm đối
tượng gây ra tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả. Để khắc phục điều này Nghị định
106 đã quy định lại về đối tượng hưởng ưu đãi trong đó không phân biệt địa bàn đầu tư
và thu hẹp các đối tượng được hưởng ưu đãi. Từ gần 40 nhóm đối tượng giảm xuống
còn trên 14 nhóm đối tượng. Các đối tượng vay vốn tín dụng thuộc các ngành công
nghiệp nặng bị thắt chặt thì các ngành công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy hải sản
23
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
23
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: Th.s Nguyễn Thị Hoa
lại được mở rộng diện ưu đãi. Các đối tượng tập trung vào các lĩnh vực, sản phẩm quan
trọng cần khuyến khích của nền kinh tế như dự án trồng rừng nguyên liệu giấy, bột giấy,
dự án sản xuất giống gốc, giống mới; dự án cung cấp nước sạch, các dự án xây dựng nhà
máy thủy điện lớn, dự án sản xuất ô tô chở khách; sản xuất và lắp ráp đầu máy xe lửa;
đầu tư nhà máy đóng tàu biển…
1.4. Các hình thức tín dụng ĐTPT .
Hoạt động tín dụng ĐTPT Nhà nước được thực hiện dưới nhiều hình thức khác
nhau. Nếu như trước năm 2000, hoạt động tín dụng ĐTPT chỉ được thực hiện dưới một
hình thức duy nhất là cho vay ưu đãi, thì nay đã được thực hiện dưới ba hình thức: cho
vay đầu tư và cho các dự án vay theo hiệp định của Chính phủ, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
và bảo lãnh tín dụng đầu tư.
Theo xu hướng hình thức cho vay đầu tư sẽ giảm và tăng cường hơn nữa hình
thức bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư để tiến tới giảm dần sự bao cấp khi
nền kinh tế đi sâu vào hội nhập.
1.4.1 Hình thức cho vay ĐTPT.

2000 2001 2002 2003 2004
1
Cho vay (tỷ đồng)
4850 7831 9376 13511 10648
2
Dư nợ (tỷ đồng)
9271 14771 21837 31963 38392
3
Tỷ lệ nợ quá hạn (%)
2% 2.50% 3% 3.70% 3.20%
Nguồn: QHTPT
Qua bảng số liệu cho ta thấy nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn được giải ngân
mỗi năm tương đối lớn, đáp ứng nhu cầu vốn cho nhiều dự án, chương trình lớn của
Chính phủ. Từ năm 2000 đến năm 2003 vốn giải ngân tăng từ 4850 tỷ đồng lên đến
13511 tỷ đồng. Đến năm 2004 cơ chế cho vay thay đổi theo hướng thu hẹp đối tượng
cho vay nên vốn giải ngân giảm xuống còn 10648 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc giải ngân vẫn
chưa được tiến hành một cách hiệu quả nên tốc độ giải ngân còn chậm. Năm 2001 tốc độ
giải ngân đạt 61,4%, năm 2002 giảm xuống còn 19,73% và đến năm 2003 tăng lên đến
44,1%. Chất lượng tín dụng chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao và ngày càng có xu
hướng tăng thêm. Từ 2% năm 2000 đã tăng lên 3,7% năm 2003. Điều này cho thấy công
tác thẩm định dự án, công tác thanh tra kiểm tra và quản lý nguồn vay còn chưa tốt.
25
SV: Nguyễn Thị Huyền Trang Lớp: KTPT 46
25

Trích đoạn Tổ chức thực hiện Nguồn vốn hoạt động: Đối tượng của tín dụng ĐTP T: Các hình thức tín dụng đầu tư phát triển:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status