Lời mở đầu
Sau quá trình thực tập tìm hiểu hoạt động về đơn vị Ngân hàng Ngoại
Thương Hà Tĩnh, cá nhân tôi đã hiểu được một số nội dng cơ bản của đơn vị về
lịch sử hình thành và quá trình phát triển của đơn vị, tổ chức bộ máy và hoạt
động kinh doanh của đơn vị trong một số năm gần đây. Việc tìm hiểu đơn vị cho
tôi nắm bất được hoạt động ngân hàng trong thị trường mở cửa hội nhập. Từ đó
giúp cho tôi thấu hiểu giửa thực tế của ngành so với quá trình học tập trong
giảng đường. Sau quá trình tìm hiểu vửa qua, “Báo cáo thực tập tổng hợp về đơn
vị Ngân hàng Ngoại Thương Hà Tĩnh được thực hiện sau quá trình tìm hiểu vừa
qua”.
1
1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng ngoại thương Hà
Tĩnh.
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Những năm đầu sau ngày tái lập tỉnh (tháng 9/1991), tình hình kinh tế - xã
hội Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nhỏ bé, ngân sách bội chi lớn, vấn đề giải
quyết việc làm và nâng cao đời sống cho nhân dân trong tỉnh trở thành cấp thiết.
Đứng trước tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra đối với Đảng bộ và nhân dân tỉnh nhà
là tập trung huy động mọi nguồn lực để phát triển sản xuất kinh doanh, mở rộng
các ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP. Xác định rõ vai trò, vị trí của ngành ngân
hàng, lãnh đạo tỉnh đã tích cực chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi để các Ngân hàng
đẩy mạnh mở rộng hoạt động, phục vụ kịp thời các yêu cầu đặt ra của nền kinh
tế địa phương.
Ngân hàng Ngoại Thương Hà Tĩnh (NHNT Hà Tĩnh) được thành lập theo
Quyết định số 68/QĐ-NH5 do Ngân hàng nhà nước cấp ngày 27/3/1993 với khởi
đầu rất nhiều khó khăn cả về vật chất lẫn và con người.
Sau khi được thành lập, Chi nhánh đã gặp rất nhiều khó khăn, nguồn vốn
huy động không đáng kể, môi trường đầu tư hạn hẹp, chưa có các dự án lớn để
cho vay, đội ngũ cán bộ còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ và thiếu kinh nghiệm.
Phòng kinh doanh dịch vụ: 14 người
Phòng hành chính-nhân sự: 8 người
Phòng ngân quỹ: 10 người
Tổ tổng hợp: 2 người
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong NHNT Hà Tĩnh như sau:
Phòng quan hệ khách hành
3
Chức năng: Là phòng đầu mối thiết lập quan hệ khách hàng, duy trì và
không ngừng mở rộng mối quan hệ với khách hàng trên tất cả các mặt hoạt động,
tất cả các sản phẩm của ngân hàng.
Nhiệm vụ:
- Xác định thị trường kinh doanh mục tiêu và đối tượng khách hàng mục
tiêu
- Xây dựng chính sách khách hàng, trực tiếp tham gia giới thiệu cho khách
hàng về các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng ngoại thương có lợi thế và có thể
cung ứng.
- Tổ chức việc đánh giá thực hiện Chính sách khách hàng định kỳ nhằm kịp
thời đề xuất điều chỉnh chính sách hoặc điều chỉnh biện pháp triển khai có hiệu
quả hơn trong trường hợp cần thiết
- Trực tiếp khởi tạo và quản lý mối quan hệ tín dụng với khách hàng
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do cấp trên phân công
Phòng quản lý rủi ro
Chức năng: Nghiên cứu, phân tích, quản lý rủi ro bao gồm rủi ro chung và
rủi ro riêng nhằm đảm bảo phát triển tín dụng, mở rộng mạng lưới hoạt động một
cách an toàn, hiệu quả
Nhiệm vụ:
- Xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng
- Quản lý danh mục đầu tư
- Trực tiếp thẩm định rủi ro đối với từng khoản cấp tín dụng đến khách
hàng
- Tổng hợp và theo dõi số liệu hoạt động của Chi nhánh qua các năm một
cách có hệ thống để đáp ứng các yêu cầu công tác đặt ra.
5
Phòng hành chính-Nhân sự
- Thực hiện việc mua sắm, quản lý, theo dõi tài sản, công cụ lao động, vật
tư phục vụ hoạt động chung của cơ quan.
- Tham mưu cho giám đốc trong việc xây dựng kế hoạch lao động, tuyển
dụng, quy hoạch, đào tạo, bòi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ
luật, điều động, nâng lương đối với toàn thể cán bộ, nhân viên trong Chi nhánh.
- Quản lý hồ sơ cán bộ, nhân viên
- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách về tiền lương, tiền thưởng, ăn
ca thực hiện công tác văn thư, lưu trữ
Phòng kế toán thanh toán
- Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kế toán nội bộ, theo dõi vốn, tài sản, thu
nhập, chi phí,tạm ứng, thuế
- Thực hiện công tác thanh toán trong hệ thống và thanh toán bù trừ tại
Ngân hàng Nhà nước.
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán quốc tế; xây dựng cơ bản.
- Tham gia Ban quản lý kho quỹ, xây dựng kế hoạch tài chính và lập báo
cáo tài chính theo định kỳ
Phòng kinh doanh dịch vụ
- Thực hiện các nghiệp vụ về tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá
- Quản lý, theo dõi các tài khoản tiền gửi, tiền vay và bảo lãnh của khách
hàng
- Thực hiện các nghiệp vụ về kinh doanh ngoại tệ, chuyển tiền, kiều hối,
phát hành thẻ, thanh toán thẻ, séc du lịch, thực hiện thu chi tiền mặt
Phòng ngân quỹ:
- Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ về công tác Ngân quỹ trong cơ quan
- Thực hiện việc quản lý kho quỹ
- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê về công tác ngân quỹ theo chỉ định
công suất 1.200 MW; Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch chung Khu kinh tế
Vũng Áng và dự kiến phê duyệt quy hoạch chi tiết vào đầu năm 2008; Khởi
công xây dựng nhà máy chế biến tinh bột sắn của Công ty Cổ phần VEDAN Việt
Nam, Nhà máy Liên hợp gang thép công suất 500.000 tấn/năm của Công ty cổ
phần gang thép Hà Tĩnh đó là những thuận lợi cơ bản để các Ngân hàng trên
địa bàn nói chung và Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Hà Tĩnh nói riêng mở
rộng quy mô và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, năm 2007 giá cả hàng hoá trên thị trường
trong nước và thế giới tăng cao, nhất là giá dầu thô và các sản phẩm từ dầu thô;
các Ngân hàng thương mại, nhất là các Ngân hàng thương mại cổ phần tăng
cường mở rộng mạng lưới, tăng lãi suất huy động vốn, đan dạng hoá các sản
phẩm, dịch vụ, nhất là các sản phẩm bán lẽ tạo sức ép và sự cạnh tranh quyết
liệt giữa các Ngân hàng trong việc huy động vốn, đầu tư tín dụng và phát triển
dịch vụ Ngân hàng. Đối với Chi nhánh Ngân Hàng Ngoại Thương Hà Tĩnh, một
số khách hàng truyền thống có doanh số hoạt động lớn gặp khó khăn trong kinh
doanh đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh
của Chi nhánh trong năm 2007.
2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh
Công tác huy động vốn;
Nét nổi bật của thị trường tiền tệ trong năm 2007 là sự cạnh tranh gay gắt
giữa các ngân hàng thương mại nhà nước trên địa bàn thông qua việc chào mời
đa dạng các sản phẩm huy động ( ví dụ như tiết kiệm kỳ hạn lẽ, kỳ hạn không
cam kết với lãi suất cao, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, thẻ thanh
toán ).Trước tình hình đó, Chi nhánh luôn linh hoạt thay đổi các mức lãi suất
cho phù hợp nhằm thu hút khách hàng. Trong năm, Chi nhánh điều chỉnh lãi suất
VND, USD tăng nhẹ để tương ứng với mặt bằng chung của NHNT Việt Nam
cũng như các ngân hàng thương mại trên địa bàn, áp dụng các mức lãi suất khác
nhau đối với các kỳ hạn khác nhau của các khoản tiền gửi. Năm 2007, Chi nhánh
8
luôn có các giải pháp tích cực để tăng cường huy động vốn như điều chỉnh lãi
tổ chức kinh tế quy VND năm 2006 đạt 83 tỷ đồng, kế hoạch năm 2008 đạt 162
tỷ quy VND, tính đến cuối năm 2007 thị phần đạt 27,3%).
Tiền gửi có kỳ hạn quy VND đạt 539 tỷ đồng, tăng 43,2% so với cuối năm
2006, số tuyệt đối quy VND tăng 163 tỷ đồng (Tiền gửi có kỳ hạn quy VND
năm 2006 đạt 376 tỷ đồng, kế hoạch năm 2008 đạt 639 tỷ đồng, tính đến cuối
năm 2007 thị phần đạt 18,5%).
Tiền gửi khác quy VND ước đạt 18,6 tỷ đồng, giảm 46,5 so với cuối năm
2006, số tuyệt đối quy VND giảm 16 tỷ đồng (Tiền gửi khác quy VND năm
2006 đạt 35 tỷ đồng, tính đến cuối năm 2007 thị phần đạt 43,7%).
Do nguồn vốn huy động tại địa bàn mất cân đối giữa VND và ngoại tệ và
không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng nên Chi nhánh tiếp tục vay
vốn ngắn hạn của NHNT Việt Nam với số tiền là 255 tỷ đồng, tăng 39,3% so với
cuối năm 2006.
Khi áp lực cạnh tranh trong huy động vốn trên địa bàn giữa các Ngân hàng
Thương mại nhà nước càng trở nên gay gắt, để nguồn vốn của chi nhánh tăng
trưởng ổn định và bền vững đòi hỏi chi nhánh trong năm 2008 phải nổ lực tìm
các giải pháp nâng cao chất lượng phục vụ, đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, đồng thời thực thi khẩn trương và
nghiêm túc chủ trương của Ban lãnh đạo về việc đa dạng hoá cơ cấu đội ngũ
khách hàng, trong đó chú trọng phát triển đối tượng khách hàng bán lẽ và khách
hàng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Về công tác hoạt động tín dụng:
Bám sát định hướng hoạt động tín dụng năm 2006 là “Tăng cường công tác
khách hàng, tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng và hướng tới chuẩn mực quốc
tế” của NHNT Việt Nam, Chi nhánh đã triển khai thực hiện tốt mô hình tín dụng
10
mới đối với khách hàng là Doanh nghiệp theo hướng kiểm soát rủi ro chặt chẽ
hơn. Bên cạnh đó, Chi nhánh tiếp tục nghiên cứu các quy trình, quy chế và nâng
cao các công cụ quản lý mà NHNT đề ra như: Ban hành quy trình xét duyệt
khoản cho vay trên 10% vốn tự có; Hướng dẫn quy chế cho vay khách hàng; sửa
điện, xây dựng cơ sơ hạ tầng, Phát triển khu công nghiệp Kỳ Anh, Cảng biển
Vũng Áng và Mỏ sắt Thạch Khê. Cụ thể, phòng giao dịch Kỳ Anh đi vào hoạt
động cho đến nay đã được 02 năm và đã phát huy hết khả năng hoạt động tín
dụng một cách có hiệu quả, thu hút được một số lượng lớn khách hàng đến giao
dịch. Tuy phòng giao dịch Hồng Lĩnh hoạt động với khoảng thời gian chưa lâu
và đang còn gặp nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh với các Ngân hàng Thương
mại Nhà nước khác trên địa bàn nhưng phòng giao dịch Hồng Lĩnh đã sớm phát
huy được vị thế của Vietcombank.
Hoạt động đầu tư tín dụng ngắn hạn của Chi nhánh trong năm 2007 tập
trung chủ yếu vào các lĩnh vực: kinh doanh thương mại, dịch vụ-du lịch, thu mua
chế biến thuỷ sản xuất khẩu, xây dựng cơ bản, thu mua nguyên liệu nhựa và
giấy, cho vay tiêu dùng. Những khách hàng lớn như: Công ty cổ phần Xây dựng
475, công ty TNHH Xây dựng & Thương mại Kiêm Dung, Công ty cổ phần
Muối & Thương mại Hà Tĩnh, Công ty cổ phần Du lịch Hà Tĩnh, Công ty cổ
phần sách thiết bị trường học Hà Tĩnh, Công ty cổ phần vật tư nông nghiệp,
Công ty cổ phần Gạch Ngói Cầu Họ, Công ty cổ phần tư vấn-xây lắp điện Hà
Tĩnh, Tổng công ty khoáng sản & thương mại Hà Tĩnh, Công ty cổ phần đầu tư
và xây dựng số I Hà Tĩnh, Công ty cổ phần sông đà 9, Công ty cổ phần
MITRACO Hà Tĩnh, Công ty TNHH xây dựng & thương mại Hoàng Ngọc,
Công ty cổ phần SIMCO Sông Đà, Công ty Trồng rừng & Sản xuất nguyên liệu
giấy HANVIHA, Công ty TNHH Dịch vụ Du Lịch Quỳnh Viên, Công ty cổ
phần Thương mại Nam Hiếu, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng nhà máy
Nhiệt Điện Vũng Áng I, Công ty TNHH Ngàn Phố, Công ty TNHH vật liệu xây
12
dựng Trung Nam, Công ty cổ phần Thương mại Hồng Lam, Công ty Cổ phần
XNK và Thương mại Hà Tĩnh…
Hoạt động đầu tư tín dụng trung, dài hạn trong năm 2007 tập trung giải
ngân 03 dự án mà Chi nhánh tham gia đồng tài trợ đó là: Nhà máy xi măng Bút
Sơn, Nhà máy xi măng Hạ Long và dự án phóng vệ tinh của tập đoàn Bưu Chính
Viễn Thông Việt Nam. Đến 31/12/2007 Chi nhánh đã giải ngân được 157 tỷ
Cơ cấu cho vay:
Phân theo loại tiền:
Dư nợ cho vay VND ước đạt 650 tỷ đồng, tăng 44,2% so với cuối năm
2006 (Dư nợ cho vay VND năm 2006 đạt 451 tỷ đồng).
Dư nợ cho vay ngoại tệ quy VND ước đạt 210 tỷ đồng, tăng 102,4% so với
cuối năm 2006 (Doanh số cho vay ngoại tệ quy VND năm 2006 đạt 104 tỷ
đồng).
Phân theo thời gian:
Dư nợ cho vay ngắn hạn quy VND ước đạt 464 tỷ đồng, tăng 47,9% so với
cuối năm 2006 (Dư nợ cho vay ngắn hạn quy VND năm 2006 đạt 314 tỷ đồng).
Dư nợ cho vay trung, dài hạn quy VND ước đạt 396 tỷ đồng, tăng 64,5% so
với cuối năm 2006 (Dư nợ cho vay trung, dài hạn quy VND năm 2006 đạt 241 tỷ
đồng).
Chất lượng tín dụng:
Dư nợ nhóm 1 “Nợ đủ tiêu chuẩn”: 830 tỷ đồng, tăng 51% so với cuối năm
2006.
Dư nợ nhóm 2 “Nợ cần chú ý”: 4,6 tỷ đồng, tăng 44,7% so với cuối năm
2006.
Dự nợ nhóm 3 “Nợ dưới tiêu chuẩn”: 23,9 tỷ đồng, tăng 86,6% so với
năm 2006.
14
Dư nợ nhóm 5 “Nọ có khả năng mất vốn”: 1,3 tỷ đồng, tăng 16,5% so với
cuối năm 2006.
Thu hồi nợ tồn đọng:
Thu hồi nợ tồn đọng từ các đơn vị giải thể (từ ngày 01/01/2007 đến
31/10/2007): 92 triệu.
Quỹ dự phòng rủi ro hiện nay (Từ 01/01/2007 đến 31/10/2007): 30,5 tỷ
đồng (Trong đó: dự phòng chung: 86 tỷ đồng, dụ phòng cụ thể: 21,9 tỷ đồng).
Đặc biệt trong năm 2007, Chi nhánh không sử dụng từ quỹ DPRR đã trích
lập để xử lý đối với khách hàng.
hợp đồng thanh toán lương qua tài khoản với Chi nhánh. Số lượng phát hành the
Connect 24h ước đạt đến 31/12/2007 là 10.000 thẻ. Doanh số thanh toán thẻ
ATM trong 07 máy đến cuối năm 2007 ước đạt 170 tỷ đồng.
Công tác kho quỹ:
Dịch vụ thanh toán, ngân quỹ tiếp tục được đẩy mạnh trong năm 2007, đáp
ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu sản xuất, kinh doanh và đời sống trên địa bàn. Công
tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh không ngừng được đẩy mạnh
bằng chương trình thanh toán điện tử, làm cho tốc độ chu chuyển vốn trong nền
kinh tế tăng, độ chính xác cao và an toàn hơn trước. Cùng với việc tăng cường
hoạt động của máy rút tiền ATM, đã thu hút thêm lượng khách hàng tham gia
thanh toán tại Chi nhánh.
Tuy số lượng tiền và khách hàng giao dịch tiền mặt ngày càng lớn, nhưng
nhờ chấp hành nghiêm túc quy trình, thủ tục nghiệp vụ và sự phấn đấu tích cực
của đội ngũ cán bộ kho quỹ nên hoạt động thu chi tiền mặt đảm bảo, kịp thời,
chính xác, đáp ứng tốt các yêu cầu của khách hàng, không để xảy ra sai sót,
nhầm lẩn, hệ thống kho quỹ đảm bảo an toàn tuyệt đối.
Tổng thu tiền mặt ước đạt: 1.828 tỷ đồng.
16
Tổng chi tiền mặt ước đạt: 1889 tỷ đồng.
Thu từ quỹ NHNN ước đạt: 220 tỷ đồng.
Chi nộp vào NHNN ước đạt: 152 tỷ đồng.
Tổng thu ngoại tệ ước đạt: 17 triệu USD.
Tổng chi ngoại tệ ước đạt: 17 triệu USD.
Thu tiền từ TW về ước đạt: 1,5 triệu USD.
Chi tiền nộp TW ước đạt: 8,47 triệu USD.
Phát hiện tiền giả trong năm 2007 số tiền là 17.760.000 đồng, đã tiến hành
lập biên bản và nộp về Ngân hàng Nhà nước đầy đủ, tiền giả ngoại tệ không
có.Số tiền thừa trả cho khách hàng: Tổng số món 140, số tiền 244.000.000 đồng.
Các mặt công tác khác:
Công tác kiểm tra nội bộ và tiếp dân:
Trong năm 2007, Chi nhánh đã mở rộng đầu tư tín dụng trên địa bàn nhất là
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân,
tăng cường cho vay có đảm bảo bằng tài sản, tăng cường đội ngũ cán bộ, duy trì
và khống chế tỷ lệ nợ xấu.
Đối với các khách hàng tiềm năng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các
hộ kinh doanh và tư nhân cá thể. Chi nhánh đã bố trí cán bộ tích cực tiếp cận, tìm
hiểu nhu cầu của khách hàng, có các giải pháp phù hợp để thu hút và tạo điều
kiện cho các đối tượng này thiết lập quan hệ vay vốn, thanh toán.
Đối với các khách hàng có quan hệ tiền gửi lớn, Chi nhánh thường xưyên
có các chính sách khuyến khích, động viên phù hợp Với các trường hợp khác,
khi khách hàng có nhu cầu rút tiền trước thời hạn, hoặc có nhu cầu vay vốn thì
Chi nhánh luôn đáp ứng một cách kịp thời, thủ tục thuận tiện, với mức lãi suất
hợp lý.
Để thực hiện chính sách khách hàng đạt hiệu quả, Chi nhánh thường xuyên
quán triệt, nhắc nhở đội ngũ CBCNV phải tích cực học tập nâng cao nhận thức,
18
năng lực công tác, có tinh thần vượt khó, tạo lập phong cách giao tiếp đúng đắn.
Hàng tháng, việc thực hiện chính sách khách hàng là một trong những tiêu chí
quan trọng để chấm điểm lương đối với CBCNV trong cơ quan.
Nhưng bên cạnh những mặt mạnh đó thì công tác khách hàng của Chi
nhánh vẫn còn tồn tại và hạn chế những mặt chưa làm được.
Do thị trường hạn hẹp, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương Mại Nhà
nước diễn ra ngày càng khốc liệt, hiệu quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp
trên địa bàn còn thấp, ngành nghề không đa dạng, vốn tự có ít chủ yếu hoạt động
bằng vốn vay ngân hàng nên rủi ro cho các Ngân hàng là rất lớn. Sự phối kết hợp
giữa các ngành các cấp chưa đồng bộ ảnh hưởng đến việc giải ngân, các biện
pháp cưỡng chế thu hồi nợ của các Ngân hàng Thương mại.
Chậm đa dạng hoá cơ cấu khách hàng:
Nhận thức được đội ngũ khách hàng của Chi nhánh chủ yếu là các doanh
nghiệp lớn và luôn chịu áp lực bị chia sẽ bởi sự cạnh tranh tất yếu từ các phía
tổ chức đoàn thể quần chúng. Chỉ đạo công đoàn, Đoàn thanh niên thường xuyên
quan tâm, bồi dưỡng các đoàn viên thanh niên xuất sắc bổ sung vào hàng ngũ
của Đảng, tăng cường sức chiến đấu cho Đảng.
Thường xuyên giáo dục Đoàn viên công đoàn nhận thức đầy đủ mục đích, ý
nghĩa của việc thực hiện quy chế dân chủ. Coi đây là điều kiện để mọi người
phát huy tài năng, sáng tạo của mình góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt
động kinh doanh của Chi nhánh.
Thường xuyên tổ chức thực hiện nội quy, quy chế làm việc một cách
nghiêm túc, luôn đảm bảo giờ giấc, trang phục làm việc. Tuân thủ vào đảm bảo
nghiêm ngặt các chế độ thông tin, báo cáo, giữ gìn thông tin nội bộ ngành cũng
như thông tin khách hàng.
20
Tạo mọi điều kiện cho CBCNV không ngừng nghiên cứu, học tập, phát huy
hết khả năng làm việc của mình trong môi trường hoạt động kinh doanh của một
Ngân hàng cổ phần.
Tích cực tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm, dịch vụ tiện ích, hình ảnh
của Vietcombank để tăng thêm sự nhận thức cho khách hàng về hoạt động của
một Ngân hàng hiện đại.
Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa ban lãnh đạo, cấp uỷ, công đoàn. Tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo an toàn vốn , tài sản, không để xảy
ra nhầm lẫn, sai sót trong chuyên môn nghiệp vụ cũng như trong hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh.
Thực hiện tốt phong trào “Thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí,
chống tiêu cực, chống các tệ nạn xã hội” nhằm góp phần xây dựng cơ quan luôn
luôn trong sạch vững mạnh.
Kết quả hoạt động kinh doanh:
Nhờ sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của tập thể đoàn kết nên Chi nhánh
đã thực sự góp phần phát triển nền kinh tế Tỉnh nhà đồng thời đó là sự phát triển
và lớn mạnh của Chi nhánh. Tổng thu nhập ước đạt: 91 tỷ đồng, tăng 17,7% so
với năm 2006; lợi nhuận ước đạt: 1 tỷ đồng; Chi ngân sách ước đạt: 200 triệu
ATM để tạo thuận lợi cho khách hàng trong giao dịch. Tích cực tiếp cận các dự
án đang triển khai trên địa bàn để có hướng đầu tư phù hợp.
Giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, nhân viên về tinh thần
trách nhiệm trong công tác, ý thức, thái độ phục vụ khách hàng tận tình, chu đáo
và đạt hiệu quả cao nhất, năng động và nhanh nhạy trong việc xử lý công việc.
Tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của các ngành liên quan để thu hồi nợ quá
hạn, nợ tồn đọng. Có các biện pháp xử lý phù hợp đối với các khách hàng gặp
khó khăn trong kinh doanh để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng.
22
Chậm đa dạng hóa cơ cấu khách hàng: Trong bối cảnh khách hàng trên địa
bàn luôn chịu áp lực bị chia sẻ bởi sự cạnh tranh tất yếu từ phía các Ngân hàng
Thương mại trên địa bàn dù Ban lãnh đạo đã nhấn mạnh nhiệm vụ đa dạng hóa
đối tượng khách hàng đặc biệt là tập trung vào việc phát triển đối tượng khách
hàng bán lẽ, khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng việc triển khai còn
chậm, chưa đồng bộ, thiếu giải pháp chưa quyết liệt, mạnh mẽ nên mục tiêu đề ra
chưa đạt được.
Chậm đổi mới công tác khách hàng: Công tác tiếp thị, quảng cáo về sản
phẩm, dịch vụ để nâng cao uy tín và thương hiệu Vietcombank chưa được triển
khai mạnh mẽ, việc thực hiện còn bị động, thiếu bài bản nên kết quả đạt được
còn hạn chế.
Thêm vào đó Chi nhánh cũng cần có sự khắc phục trong mọi mặt, đặc biệt
là việc có chủ trương và có kế hoạch thực hiện các mục tiêu đề ra một cách cụ
thể cần có sự linh hoạt và sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các phòng ban để
phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Có như vậy mới giữ được khách hàng và
uy tín cũng như vị thế của Vietcombank trong bối cảnh cạnh tranh như hiện nay
và trong tương lai. Bên cạnh đó việc nâng cấp các thiết bị hoạt động cũng cần
được cũng cố tạo điều kiện cho cán bộ làm việc có hiệu quả cao.
3 Phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch năm 2008
3.1 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế của Tỉnh trong năm 2008
Tốc độ tăng trưởng GDP: 12%
quản lý điều hành, đảm bảo sự năng động, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Tiếp tục tuyển dụng và bổ
sung thêm cán bộ để đáp ứng yêu cầu phát triển của Chi nhánh trong những năm
tới.
24
Kết Luận
Nhìn lại chặng đường hơn 14 năm xây dựng và trưởng thành, Chi
nhánh NHNT Hà Tĩnh luôn bám sát mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế-xã
hội của địa phương. Vận dụng linh hoạt và tạo các chủ trương, giải pháp của
ngành vào thực tiễn hoạt động. Trong công tác huy động vốn, Chi nhánh đã kết
hợp hài hoà giữa các biện pháp nghiệp vụ và chính sách khách hàng để thu hút
tối đa mọi nguồn tiền nhàn rỗi. Song thị phần của đơn vị trên địa bàn còn thấp.
Vì vậy, cần phải nâng cao tính sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của tập thể lãnh đạo
và cán bộ công nhân viên Chi nhánh.
25