Mục lục
Lời mở đầu. 4
Ch ơng I: Những vấn đề cơ bản về công tác tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng. 6
1.1 Khái niệm, vai trò của công tác tiêu thụ sản phẩm.
1.1.1 Khái niệm tiêu thụ sản phẩm. 6
1.1.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm.
8
1.2 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác tiêu thụ và biện pháp
chủ yếu để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. 9
1.2.1 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác tiêu thụ và tăng doanh thu
tiêu thụ sản phẩm. 9
1.2.2 Các biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh tiêu thụ và tăng doanh thu
tiêu thụ sản phẩm. 14
Ch ơng II: Thực trạng công tác tiêu thụ ở Công ty Bóng Đèn
Phích Nớc Rạng Đông. 20
2.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. 20
2.1.1 Quá trình hình thành công ty. 20
2.1.2 Đặc điểm về tổ chức, quản lý sản xuất của công ty. 23
2.1.3 Đặc điểm về quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. 24
2.1.4 Đặc điểm về sản phẩm của công ty. 25
2.1.5 Đánh giá chung về hoạt động của công ty. 27
2.2 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty năm 2000. 28
2.2.1 Công tác lập kế hoạch tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ của công ty. 28
2.2.2 Tình hình tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của
công ty năm 2000. 31
Ch ơng III: Một số phơng hớng và biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh
2
tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Bóng Đèn Phích Nớc Rạng Đông.
35
3.1 Phơng hớng phát triển của công ty trong thời gian tới. 35
có sự cạnh tranh gay gắt, quyết liệt. Vì vậy, làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ
giúp doanh nghiệp có nguồn tài chính để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng, tăng nhanh vòng quay của vốn và đem lại hiệu quả kinh doanh cao. Đồng
thời, qua đó cũng tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trởng, phát triển và hội nhập
với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Xuất phát từ ý nghĩa và vai trò đó, các nhà sản xuất kinh doanh không ngừng
hoàn thiện công tác tiêu thụ sản phẩm sao cho phù hợp với sự cạnh tranh ngày
càng gay gắt, phức tạp của nền kinh tế thị trờng và làm thế nào để đẩy mạnh khả
năng tiêu thụ sản phẩm là cả một quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá một
cách chính xác tình hình mọi mặt của doanh nghiệp mình: tình hình thị trờng, tình
hình đối thủ cạnh tranh, tình hình kinh tế xã hội... Trên cơ sở đó, các nhà lãnh đạo
doanh nghiệp cần có sự quản lý sáng suốt, linh hoạt, nhạy bén và năng động để
vạch ra những hớng đi đúng đắn nhất. Làm tốt đợc những điều đó thì doanh
4
nghiệp mới khẳng định đợc sự tồn tại và phát triển của mình, nếu không doanh
nghiệp sẽ tự đào thải mình ra khỏi thị trờng.
Hoà cùng với không khí chung của nền kinh tế đất nớc, ngành sành sứ thuỷ
tinh công nghiệp Việt Nam đã nhanh chóng tham gia vào quá trình đổi mới, Công
ty Bóng Đèn Phích Nớc Rạng Đông với hoạt động chính là sản xuất kinh doanh
sản phẩm phích nớc nóng và bóng đèn điện các loại, đã không ngừng nâng cao
chất lợng sản phẩm và việc đẩy mạnh tiêu thụ và tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm
đang trở thành vấn đề bức xúc nhất và đợc đặt lên vị trí quan tâm hàng đầu của
công ty.
Xuất phát từ quan điểm này, trong thời gian đợc về thực tập tại Công ty Bóng
Đèn Phích Nớc Rạng Đông, tôi đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tiêu
thụ sản phẩm của công ty thông qua đề tài Thực trạng về công tác tiêu thụ sản
phẩm ở Công ty Bóng Đèn Phích Nớc Rạng Đông.
Nội dung đề tài bao gồm:
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về công tác tiêu thụ sản phẩm của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
bằng sơ đồ sau:
TLSX ( TLLĐ + ĐTLĐ )
T-H
SLĐ
6
...SX.....H
T
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình
chuyển hóa hình thái giá trị của vốn từ hình thái sản phẩm hàng hóa sang hình thái
tiền tề làm cho vốn trở lại hình thái ban đầu khi nó bớc vào mỗi chu kỳ sản xuất.
Qua sơ đồ trên ta thấy, để tiến hành sản xuất thì nhà sản xuất phải bỏ vốn ra để
mua các yếu tố đầu vào nh: t liệu lao động (TLLĐ), đối tợng lao động (ĐTLĐ), và
sức lao động (SLĐ). Lúc này, vốn dới hình thái giá trị đợc chuyển thành vốn dới
hình thái vật chất. Vốn dới hình thái vật chất này đợc đa vào quá trình sản xuất và
sản phẩm sản xuất ra đợc đem đi tiêu thụ và kết quả của khâu tiêu thụ là thu tiền
về. Lúc này đồng vốn lại từ hình thái vật chất quay trở lại hình thái ban đầu của
nó. Đến đây một chu kỳ sản xuất kết thúc, vốn tiền tệ lại đợc sử dụng vào quá
trình tái sản xuất mới.
Nh vậy, tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất, nhằm
thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hóa thông qua hai hành vi:
doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho khách hàng và khách hàng thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán cho doanh nghiệp theo giá trị hàng hóa đó. Khi tiêu thụ đợc
sản phẩm doanh nghiệp sẽ có một khoản thu nhập bán hàng hay còn gọi là doanh
thu về tiêu thụ sản phẩm. Nh vậy, doanh thu tiêu thụ sản phẩm là toàn bộ số tiền
thu đợc khi bán sản phẩm hàng hóa.
Tuy nhiên, doanh thu tiêu thụ sản phẩm không đồng nhất với tiền bán hàng:
tiền bán hàng chỉ đợc xác định khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, đã thu đợc
tiền về, còn doanh thu tiêu thụ sản phẩm đợc xác định ngay cả khi khách hàng cha
Nh ta đã biết, tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng kết thúc một chu kỳ
sản xuất và mở ra một chu kỳ mới. Chỉ thông qua tiêu thụ sản phẩm, đồng vốn ban
đầu của doanh nghiệp chi ra mới trở về hình thái ban đầu của nó. Có tiêu thụ đợc
sản phẩm mới có doanh thu để bù đắp toàn bộ chi phí đã chi ra trong quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất đợc liên tục thực
hiện.
Khi tốc độ tiêu thụ sản phẩm đợc đẩy nhanh góp phần thúc đẩy tốc độ luân
chuyển vốn, tiết kiệm các khoản chi phí trong khâu tiêu thụ, góp phần hạ giá
thành, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất phản
8
ánh hiệu quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, có lợi nhuận,
doanh nghiệp sẽ có tích lũy, khi đó doanh nghiệp mới có điều kiện mở rộng quy
mô sản xuất kinh doanh, đầu t theo chiều sâu, cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của ngời lao động.
Khi tiêu thụ sản phẩm đợc đẩy mạnh, điều đó chứng tỏ phạm vi phát huy các
giá trị sử dụng của sản phẩm đợc mở rộng. Nhờ đó uy tín của doanh nghiệp đợc
nâng cao, tạo ra sự cân đối giữa cung cầu trên thị trờng trong nớc; hạn chế hàng
nhập ngoại khuyến khích sản xuất trong nớc phát triển.
Thông qua tiêu thụ sản phẩm, có đợc doanh thu, doanh nghiệp mới có thể
thực hiện các khoản nghĩa vụ cho Nhà nớc nh thuế, lệ phí và phí. Đây là nguồn thu
quan trọng của ngân sách Nhà nớc để từ đó Nhà nớc có thể triển khai các kế
hoạch, phát triển kinh tế xã hội của mình.
Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế mở hội nhập với các nớc trong khu vực
và quốc tế, thì đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm đợc coi là chiếc cầu nối quan trọng
không chỉ đối với các đơn vị, các vùng kinh tế trong nớc với nhau thành một thể
thống nhất mà còn thiết chặt thêm các mối quan hệ quốc tế, nối liền thị trờng
trong nớc với thị trờng nớc ngoài, thúc đẩy giao lu thơng mại quốc tế ngày càng
phát triển mạnh mẽ. Việc tiêu thụ sản phẩm ra thị trờng nớc ngoài sẽ cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế, đa nớc ta khỏi tình trạng nhập siêu, thúc đẩy sản xuất phát
triển.
doanh thu chủ yếu tập trung vào mùa thu hoạch.
Ngành xây dựng cơ bản với đặc điểm là sản xuất đơn chiếc, theo đơn đặt
hàng thời gian thi công kéo dài, nơi sản xuất cũng chính là nơi tiêu thụ. Việc tiêu
thụ sản phẩm xây lắp chính là bàn giao công trình đã hoàn thành cho đơn vị giao
thầu và thu tiền về. Nó chịu ảnh hởng khách quan của chế độ thanh toán nh áp
dụng các phơng thức thanh toán theo hạng mục công trình và khối lợng hoàn
thành theo giai đoạn quy ớc, thanh toán theo đơn vị hạng mục công trình đã hoàn
thành. Do đó, doanh thu cũng phụ thuộc vào thời gian và tiến độ công việc.
10
b. Khối lợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.
Khối lợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ là nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến
quá trình tiêu thụ, quy mô tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Công thức xác
định số lợng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ của một loại sản phẩm nh sau:
S
l
= S
d
+ S
x
- S
c
Trong đó
S
l
:số lợng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
S
d
:số lợng sản phẩm kết d tính đầu kỳ kế hoạch
S
x
Sản phẩm sản xuất ra có thể đợc phân thành những loại có phẩm cấp khác
nhau nh loại I, loại II, loại III... và giá bán của mỗi loại cũng khác nhaudẫn đến
doanh thu bán của chúng cũng khác nhau khi cùng một khối lợng tiêu thụ. ở
những doanh nghiệp sản xuất thủy hải sản, công nghiệp chế biến, nông nghiệp thì
chất lợng sản phẩm có ý nghĩa rất lớn vì phần lớn sản phẩm có tính chất tơi sống.
Nếu doanh nghiệp biết tổ chức thu hoạch, chế biến, bảo quản kịp thời có phơng
pháp khoa học thì có thể tăng đợc số lợng sản phẩm có phẩm cấp cao, giảm số sản
phẩm có phẩm cấp thấp từ đó có thể tăng đợc doanh thu bán hàng. Ngợc lại, nếu
tăng số sản phẩm có phẩm cấp thấp gây khó khăn cho tiêu thụ và giảm doanh thu
thậm chí có khi không tiêu thụ đợc. Còn trong xây dựng cơ bản nếu thi công
nhanh nhng chất lợng kém dẫn đến hậu quả phải tốn nhiều chi phí và thời gian sửa
chữa, thậm chí phải phá đi làm lại, ảnh hởng đến thời gian bàn giao.
Nh vậy, nâng cao chất lợng sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng tới việc nâng
cao uy tín của doanh nghiệp. Nó là sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho tiêu thụ sản phẩm đợc dễ dàng và nhanh chóng thu đợc
tiền bán hàng.
d. Giá cả sản phẩm tiêu thụ.
Giá cả sản phẩm có tác động rất lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm. Về
nguyên tắc, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa và giá cả xoay quanh
giá trị. Trong cơ chế thị trờng hiện nay, ngoài sự ảnh hởng của quy luật giá trị, giá
cả còn do quan hệ cung-cầu trên thị trờng quyết định do đó doanh nghiệp hoàn
toàn có thể sử dụng giá cả nh một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
Khi doanh nghiệp đa ra một mức giá phù hợp với chất lợng sản phẩm đợc đông
đảo ngời tiêu dùng chấp nhận dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm sẽ thuận lợi hơn và
ngợc lại. Mặt khác, nếu doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt, làm giảm giá thành
sản phẩm, tạo điều kiện cho việc giảm giá bán sản phẩm so với giá bán của sản
12
phẩm cùng loại trên thị trờng sẽ tạo ra một lợi thế trong cạnh tranh giúp doanh
nghiệp có thể thu hút đợc khách hàng của các đối thủ cạnh tranh ngoài ra giá bán
sản phẩm còn có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc xác định thị trờng tiêu
kết thì doanh nghiệp phải tôn trọng quyền lợi của khách hàng, không vì mục đích
lợi nhuận mà tự ý thay đổi cơ cấu sản phẩm, phá vỡ hợp đồng kinh tế đã ký kết
gây thiệt hại cho khách hàng và làm giảm uy tín của doanh nghiệp.
f. Thị trờng tiêu thụ sản phẩm.
Khi nói đến sản xuất hàng hóa là phải nói đến thị trờng tiêu thụ vì thị trờng
chính là nơi tiêu thụ sản phẩm và cũng là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những
thông tin quan trọng để xây dựng kế hoạch sản xuất. Trớc khi tiến hành sản xuất,
các doanh nghiệp phải tiến hành điều tra, nghiên cứu thị trờng để nắm bắt nhu cầu,
thị hiếu ngời tiêu dùng, nắm đợc các đối thủ cạnh tranh. Từ đó giúp doanh nghiệp
nên sản xuất những sản phẩm nào và có giải pháp thích hợp để chiến thắng đối thủ
cạnh tranh. Làm tốt công tác thị trờng giúp doanh nghiệp thấy đợc thị trờng nào là
chủ yếu, thị trờng nào là thứ yếu để phân phối lợng sản phẩm hợp lý cho từng thị
trờng, từ đó tăng khối lợng sản phẩm tiêu thụ, tăng doanh thu bán hàng cho doanh
nghiệp. Đồng thời doanh nghiệp cũng cần xác định đợc thị trờng tiềm năng trong
tơng lai làm cơ sở xây dựng cho mình một chính sách thị trờng đúng đắn có nh
vâỵ khả năng mở rộng thị trờng phục vụ cho việc đẩy mạnh tiêu thụ và nâng cao
doanh thu cho doanh nghiệp ngày càng tăng.
g. Công tác tổ chức bán hàng, thanh toán của doanh nghiệp.
Đây cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và tăng
doanh thu cao hay thấp. Công tác tổ chức bán hàng bao gồm nhiều mặt.
- Về hình thức bán hàng: một doanh nghiệp nếu áp dụng tổng hợp các hình
thức bán hàng nh bán buôn, bán lẻ, bán hàng tại kho, bán tại cửa hàng, vận chuyển
đến tận nơi khách hàng yêu cầu... tất nhiên sẽ tiêu thụ đợc sản phẩm hơn là một
doanh nghiệp chỉ áp dụng một hình thức bán hàng đơn thuần nào đó.
Ngoài ra, các doanh nghiệp còn tổ chức mạng lới đại lý phân phối sản phẩm
để mở rộng và chiếm lĩnh thị trờng. Vấn đề đặt ra là cần phải có các biện pháp
thích hợp để khuyến khích các đại lý này hoạt động có hiệu quả nhằm đẩy mạnh
14
khối lợng sản phẩm bán ra và tăng doanh thu cho công ty.
- Về mặt tổ chức thanh toán: việc áp dụng nhiều hình thức thanh toán nh
nếu doanh nghiệp thiếu tôn trọng khách hàng, quảng cáo sai sự thật thì sản phẩm
của doanh nghiệp sẽ bị khách hàng tẩy chay khỏi thị trờng, lúc đó quảng cáo sẽ
phản tác dụng trở lại đối với sản phẩm.
Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hởng trực tiếp đến quá trình tiêu thụ
sản phẩm. Ngoài ra, đờng lối chính sách phát triển kinh tế của Nhà nớc, sự phát
triển của cơ sở hạ tầng nh hệ thống đờng xá, giao thông, liên lạc...cũng đều ảnh h-
ởng đến việc mở rộng hay thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh
nghiệp.
Dới tác động của nhiều nhân tố nh vậy, tính toán mức độ ảnh hởng của từng
nhân tố và tìm ra cách giải quyết tối u để thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm là nhiệm vụ
của mỗi doanh nghiệp để tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của đơn vị mình.
1.2.2 Các biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh tiêu thụ và tăng doanh thu tiêu thụ
sản phẩm.
Qua phân tích các nhân tố ảnh hởng đến việc đẩy mạnh thị trờng và tăng
doanh thu tiêu thụ sản phẩm, trên cơ sở đó có thể đề ra các phơng hớng, biện pháp
cơ bản để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và tăng doanh thu của doanh nghiệp nh sau:
a. Tăng khối lợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ.
Đây là biện pháp ảnh hởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Khối l-
ợng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng thì khả năng doanh thu tiêu thụ cũng tăng
và ngợc lại.
Để tăng khối lợng sản xuất và tiêu thụ thì trớc hết trong khâu sản xuất doanh
nghiệp phải tăng khối lơợng sản phẩm sản xuất ra bằng cách nâng cao năng suất
lao động. Để nâng cao năng suất lao động thì một mặt doanh nghiệp phải thờng
xuyên đầu t mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị hiện đại, sử dụng tối đa công suất
máy móc thiết bị, mặt khác doanh nghiệp phải thờng xuyên tổ chức đào tạo, nâng
cao tay nghề cho ngời lao động, kết hợp với sử dụng các biện pháp kinh tế nhằm
16
khuyến khích tinh thần hăng say lao động sản xuất của ngời lao động từ đó có thể
tạo ra khối lợng sản phẩm lớn nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ.
hàng đến với doanh nghiệp. Nhng khi sản phẩm đã bớc vào giai đoạn bão hòa thì
doanh nghiệp lại hạ giá bán xuống và đặc biệt lúc sản phẩm đã ở giai đoạn suy
thoái thì doanh nghiệp phải giảm giá mạnh hơn để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và
thu hồi vốn. Đôi khi dựa vào mục đích của mình chẳng hạn với mục tiêu mở rộng
thị trờng thu hút đợc sự chú ý của ngời tiêu dùng, doanh nghiệp có thể định giá
bán thấp, khi sản phẩm có uy tín nhất định trên thị trờng , thực hiện mục tiêu mở
rộng thị trờng thì doanh nghiệp sẽ dần dần nâng giá bán lên một mức nhất định
nhằm tăng thêm lợi nhuận vì khi hạ giá bán, doanh nghiệp đã chấp nhận mất đi
một phần lợi nhuận không nhỏ, thậm chí còn chịu lỗ. Nếu tiếp tục kéo dài sẽ dẫn
tới tình trạng thua lỗ, thậm chí còn phá sản.
Trong điều kiện hiện nay, giá cả sản phẩm đợc sử dụng hết sức linh hoạt
trong công tác tiêu thụ, các doanh nghiệp rất coi trọng sử dụng biện pháp giảm giá
nh giảm giá theo khối lợng sản phẩm tiêu thụ, giảm giá cho những đối tợng u tiên,
giảm giá trong thời gian ngắn,... để kích thích tiêu thụ. Ngoài ra, các doanh nghiệp
còn luôn phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm tạo cơ sở cho việc hạ
giá bán hợp lý để tăng khả năng cạnh tranh, tăng tiêu thụ trên thị trờng.
d. Lựa chọn kết cấu tiêu thụ sản phẩm hợp lý.
Một kết cấu tiêu thụ sản phẩm hợp lý sẽ dẫn đến khả năng tiêu thụ và doanh
thu đợc nâng cao. Doanh nghiệp lựa chọn kết cấu sản phẩm hợp lý cho mình trên
cơ sở nắm vững nhu cầu thị trờng, xem thị hiếu tiêu dùng tập trung vào mặt hàng
nào là chủ yếu từ đó nâng cao tỷ trọng của mặt hàng đó trong kết cấu sản phẩm,
trên cơ sở nắm đợc nhu cầu cao của thị trờng, doanh nghiệp có khả năng bán với
giá cao những sản phẩm có nhu cầu lớn đó dẫn đến tăng khả năng doanh thu cho
doanh nghiệp. Trong trờng hợp sản xuất có đơn đặt hàng thì doanh nghiệp phải
dựa trên năng lực sản xuất hiện có của mình trớc hết phải thực hiện đầy đủ các đơn
đặt hàng để tránh gây thiệt hại cho khách hàng, tăng uy tín cho doanh nghiệp,
đồng thời doanh nghiệp cũng phải tận dụng hết những năng lực sản xuất thừa để
đáp ứng tối đa nhu cầu thị trờng.
18
Nh vậy, kết cấu sản phẩm hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp đẩy mạnh đợc khối l-
thông tin về một mặt hàng nào đó, về hình ảnh của doanh nghiệp, qua hoạt động
quảng cáo khách hàng có thể biết đợc tính năng, công dụng của sản phẩm, nhận
thấy u thế của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại trên thị trờng. Dẫn đến lôi kéo
khách hàng, kích thích nhu cầu tiêu dùng giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh tiêu
thụ sản phẩm của mình.
h. Một số biện pháp tài chính khác để thúc đẩy tiêu thụ và tăng doanh thu tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
- Chiết khấu bán hàng: là số tiền doanh nghiệp bán theo quy định của hợp
đồng đã thỏa thuận dành cho khách hàng trong trờng hợp khách hàng thanh toán
sớm tiền hàng hoặc mua sản phẩm với khối lợng lớn. Chiết khấu bán hàng đợc
tính theo tỷ lệ (%) trên doanh thu hóa đơn cha có thuế GTGT.Thông thờng chiết
khấu bán hàng đợc chia làm nhiều bậc, khách hàng thanh toán ngay đợc hởng tỷ lệ
chiết khấu cao, thanh toán trong một thời gian ngắn đợc hởng mức chiết khấu thấp
hơn, nếu thanh toán chậm thì không đợc hởng tỷ lệ chiết khấu thậm chí còn chịu
tỷ lệ lãi suất trên số tiền trả chậm theo lãi suất vay vốn ngân hàng. Đối với chiết
khấu bán hàng tính theo khối lợng sản phẩm bán ra cũng vậy, khách hàng mua sản
phẩm đạt đến một mức nào đó sẽ đợc hởng tỷ lệ chiết khấu cao, ở một mức nào đó
sẽ không đợc hởng chiết khấu.
Đây cũng là biện pháp tài chính quan trọng đợc sử dụng khá phổ biến trong
các doanh nghiệp ở nớc ta hiện nay. Tuy nhiên, cần có những tỷ lệ chiết khấu
thích hợp sẽ hấp dẫn khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình thì
công tác tiêu thụ sản phẩm mới đợc thuận lợi, nhanh chóng thu hồi và quay vòng
vốn.
- Cớc phí vận chuyển: hiện nay để tạo thuận lợi cho khách hàng nhất là khách
hàng ở xa, các doanh nghiệp sản xuất hầu nh đảm nhận vận chuyển cho khách
hàng. Bản chất việc vận chuyển hàng hóa không phải là một công cụ tài chính khi
khách hàng phải trả đầy đủ cớc phí vận chuyển nhng khi doanh nghiệp giảm giá c-
ớc phó vận chuyển hoặc vận chuyển miễn phí thì số tiền đó lại trở thành một công
cụ tài chính phục vụ cho công tác tiêu thụ sản phẩm. Đòn bẩy cớc phí vận chuyển
20
Chơng II
Thực trạng công tác tiêu thụ ở Công ty Bóng Đèn Phích Nớc
Rạng Đông.
2.1 Khái quát chung về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
2.1.1 Quá trình hình thành công ty.
Công ty Công ty Bóng Đèn Phích Nớc Rạng Đông ngày nay có tên giao dịch
là RangDong Light Source and Cacuum Flask Company, trực thuộc Tổng cty sành
sứ thủy tinh Công nghiệp và cũng trực thuộc Bộ Công nghiệp quản lý. Công ty đợc
khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 1959 theo thiết kế của Trung Quốc, đến
tháng 6 năm 1962 thì hoàn thành và đi vào sản xuất thử. Đến ngày 27 tháng 1 năm
1963. công ty chính thức đi vào sản xuất. Công ty nằm trong khu công nghiệp Th-
ợng Đình, trên Km7 quốc lộ 6, tại 15 phố Hạ Đình-Thanh Xuân-Hà Nội với diện
22
tích mặt bằng khoảng 5 hecta. Trên mặt bằng nhà máy hiện nay có 45 hạng mục
công trình với diện tích xây dựng là 20696 m2 cha kể diện tích sân bãi và đờng sá.
Tháng 6 năm 1994 chính thức đổi tên nhà máy thành Công ty Bóng Đèn Phích N-
ớc Rạng Đông theo Quyết định số 667/QĐ-TCLĐ ngày 30 tháng 6 năm 1994 của
Bộ Công nghiệp nhẹ. Qua gần 40 năm thành lập và phát triển, đến nay Công ty
Bóng Đèn Phích Nớc Rạng Đông đã lớn mạnh, trở thành một cái tên quen thuộc
với mọi ngời dân Việt Nam. Quá trình phát triển đợc chia thành 3 giai đoạn:
* Giai đoạn 1: (từ ngày thành lập đến 1975)
Đây là giai đoạn phát triển của công ty trong thời kỳ đất nớc có chiến tranh,
đi vào sản xuất đợc 3 năm thì cuộc chiến tranh phá hoại leo thang ra miền Bắc.
Nhà máy bị tàn phá nặng nề, toàn bộ cán bộ và công nhân viên cùng với vật t, máy
móc, thiết bị của công ty phải sơ tán về các cơ sở ở Hà Tây và Hải Hng. Công
nhân vừa phải bám máy sản xuất, vừa phải cầm súng chiến đấu. Trong điều kiện
hết sức khó khăn đó nên công ty không thể khai thác hết đợc công suất nh thiết kế.
Năm 1975 mức sản lợng tối đa cũng chỉ là:
Bóng đèn tròn: 1.700.000 chiếc
Ruột phích: 200.000 chiếc
thay cho ủ rơm
1986: Đa vỏ phích in tipô vào sản xuất thay cho phun sơn,
vỏ phích có quai xách
Bóng đèn
1976: Cơ giới hoá khâu sản xuất đèn ôtô, nâng công suất 1
triệu chiếc/năm
1978: Đa dây tóc xoắn kép vào sản xuất bóng đèn thờng
thay cho dây xoắn đơn là bớc nhảy vọt về chất lợng
1979: Chế tạo đa vào sử dụng dây chuyền sản xuất đèn th-
ờng 3
1986-1988: Thực hiện đề tài nâng cấp chất lợng bóng đèn
về tuổi thọ, keo gắn đầu, bao bì
* Giai đoạn 3: (từ 1989 đến nay)
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần V, nớc ta bớc vào giai đoạn mới chuyển từ
24
kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc theo định
hớng XHCN. Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc đều rất lúng túng trong việc
chuyển mình từ trạng thái sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nớc giao, các nguồn
lực đầu vào do Nhà nớc cung cấp và sản phẩm sản xuất ra đợc Nhà nớc bao tiêu
sang trạng thái tự thân vận động.
Nhà nớc chỉ cấp vốn ban đầu còn lại các khoản vốn khác thì doanh nghiệp
phải tự lo.Công ty đã tự tìm cho mình một hớng đi đúng đắn cho sự phát triển. Từ
tình trạng công ty phải đóng cửa liền 6 tháng vì hàng ngoại lấn át, sản phẩm đơn
điệu, chất lợng cha cao, không tiêu thụ đợc đến duy trì sản xuất ổn định liên tục,
sản lợng tăng ko ngừng để đáp ứng cho nhu cầu thị trờng. Công ty vẫn tiếp tục có
những cải tiến công nghệ sản xuất:
25
Lĩnh vực sản xuất Cải tiến kỹ thuật
Thuỷ Tinh
1991-1993: Thiết kế các lò thuỷ tinh đốt bằng hơi than,
26