BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Lương
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG
TRUYỆN NGẮN NAM CAO
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
2
LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn này chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn
tận tình và tạo điều kiện tốt nhất để chúng tôi sớm hoàn thành luận văn từ PGS.TS.
Phùng Quý Nhâm. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy.
Trong quá trình học tập chúng tôi cũng nhận được sự chỉ bảo tận tình của các
0T1.2.1. Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ 3 theo điểm0T 45
0Tnhìn bên ngoài, điểm nhìn tập trung bên trong và điểm nhìn phức hợp0T 45
0T1.2.1.1.Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ 3 theo điểm nhìn
bên ngoài
0T 45
4
0T1.2.1.2. Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ 3 theo điểm nhìn
tập trung bên trong
0T 52
0T1.2.1.3. Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ 3 theo điểm nhìn
phức hợp
0T 60
0T1.2.2.Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đơn
tuyến và điểm nhìn đa tuyến
0T 65
0T1.2.2.1.Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất theo điểm
nhìn đơn tuyến
0T 65
0T1.2.2.2.Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất theo điểm nhìn
đa tuyến
0T 73
0TCHƯƠNG 2: CẤU TRÚC TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN GẮN NAM CAO0T 84
0T2.1. KẾT CẤU TRẦN THUẬT0T 84
0T2.1.1. Kết cấu trần thuật trong văn bản tự sự nói chung0T 84
0T2.1.2. Kết cấu trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao0T 86
0T2.1.2.1. Kết cấu tuyến tính trong truyện ngắn Nam Cao0T 87
0T2.1.2.2. Truyện ngắn Nam Cao với kết cấu tâm lý0T 90
0T2.1.2.3. Truyện ngắn Nam Cao với kiểu kết cấu trần thuật đa tuyến, đơn tuyến0T 95
0T2.1.2.4. Truyện ngắn Nam Cao với kết cấu truyện lồng truyện0T 100
0T3.2.3.4. Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn chua chát, ngậm ngùi, chan
chứa yêu thương
0T 172
0T3.2.3.4. Truyện ngắn Nam Cao với giọng trữ tình, thiết tha, sôi nổi0T 175
0TKẾT LUẬN0T 182
0TTÀI LIỆU THAM KHẢO0T 187
0TPHỤ LỤC0T 196
7
DẪN NHẬP
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Gần đây vấn đề tự sự học đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu rộng ở rất
nhiều bình diện. Từ góc độ lý thuyết về tự sự học, nhiều người nghiên cứu đã vận dụng để
tìm hiểu trên các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn,… và người ta thấy rằng khi soi chiếu
tác phẩm dưới góc độ tự sự học thì những vấn đề trong tác phẩm được nhìn nhận một
cách toàn diện và có cơ sở lý luận vững chắc hơn khi đánh giá nội dung, tư tưởng và giá
trị thẩm mỹ của một chỉnh thể tác phẩm văn học.
Nam Cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, người “kết thúc vẻ vang cho trào lưu
của chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam” (Phong Lê) đã để lại không ít tác phẩm vinh danh
cho tên tuổi của nhà văn này. Tác phẩm của Nam Cao đã được rất nhiều người nghiên cứu
quan tâm. Có những người nghiên cứu rất tỉ mỉ về quê hương, gia đình, về quan niệm
nghệ thuật, về phong cách nghệ thuật, về thi pháp nghệ thuật của tác phẩm Nam Cao mà
đặc biệt là những tác phẩm truyện ngắn trước năm 1945.
Ở phương diện nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Nam Cao, cũng không phải là chưa
có người cày xới tới. Trái lại những tác phẩm của Nam Cao đã từng được cày xới rất
nhiều trong đó có phương diện nghệ thuật tự sự. Nhưng những vấn đề được bàn kỹ nhất
lại hầu như tập trung vào vấn đề Ngôn ngữ nghệ thuật; Nhân vật; Phương thức trần thuật.
Và có nhiều bài nghiên cứu những vấn đề đó khá thành công. Vấn đề về cốt truyện hay
giọng điệu trần thuật, điểm nhìn trần thuật cũng đã được những người nghiên cứu trước
nghiên cứu chuyên sâu đã từng bàn đến rất nhiều xoay quanh tác giả, tác phẩm Nam Cao.
Với đề tài khoa học này, luận văn tập trung làm sáng rõ hơn những vấn đề cơ bản
xoay quanh Chủ thể trần thuật; Kết cấu trần thuật; Lời văn và giọng điệu trần thuật trong
truyện ngắn của Nam Cao. Trong mỗi vấn đề lớn đó người viết cố gắng bóc tách nghiên
9
cứu những khía cạnh nhỏ hơn nhằm làm nổi bật lên mối liên hệ tác động qua lại của
chúng với nhau để tạo nên một chỉnh thể tác phẩm truyện ngắn hấp dẫn của Nam Cao.
Mặc dù nghiên cứu riêng biệt, cụ thể song cần chỉ ra sợi dây liên kết giữa các yếu tố với
nhau để thấy rằng mỗi một tác phẩm nghệ thuật là sự kết hợp hài hòa của nhiều yếu tố
nghệ thuật mang lại chứ không phải là “đặc quyền” của bất kỳ một yếu tố nghệ thuật
riêng lẻ nào. Cũng vậy, giữa chủ thể trần thuật; Kết cấu trần thuật; Lời văn và giọng điệu
trần thuật có một mối liên hệ khăng khít với nhau trong truyện ngắn Nam Cao, cũng như
trong bất kỳ một tiểu thuyết hay truyện ngắn nào.
3. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
3.1. Khái quát vấn đề lịch sử nghiên cứu
Tác phẩm của nhà văn Nam Cao bắt đầu được chú ý kể từ năm 1941 khi Lê Văn
Trương viết lời giới thiệu cho tập “Đôi lứa xứng đôi” cho NXB Đời Mới. Nhưng mãi đến
những năm thập niên 60 thì tác phẩm của Nam Cao mới được giới nghiên cứu phê bình
thực sự quan tâm. Có thể kể Hà Minh Đức là người đầu tiên chấp bút nghiên cứu phê bình
về Nam Cao qua công trình Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc xuất bản năm 1961.
Mạch nước như được khai thông, kể từ sau Hà Minh Đức có hàng loạt những chuyên luận
nghiên cứu về Nam Cao, chưa kể những bài báo, bài viết phê bình lẻ tẻ khác. Những cuốn
nổi bật có thể kể Nam Cao đời văn và tác phẩm (Hà Minh Đức, 1977); Nam Cao, phác
thảo sự nghiệp và chân dung (Phong Lê, 1997); Nam Cao, người kết thúc vẻ vang trào
lưu văn học hiện thực (Phong Lê, 2001)
Bên cạnh đó hàng loạt các hội thảo về Nam Cao được tổ chức. Có thể kể những
cuộc hội thảo khoa học tiêu biểu nhân 40 năm ngày mất của Nam Cao 1951 – 1991 (tháng
11/ 1991) và nhân 80 năm ngày sinh của Nam Cao 1917 – 1997 (tháng 10/
1997)…Những buổi hội thảo khoa học tôn vinh nhà văn Nam Cao càng chứng tỏ vị trí và
Người viết đã cố gắng tìm hiểu trong các tài liệu nghiên cứu về tác phẩm Nam Cao,
song cũng chỉ tìm thấy rất ít các ý kiến đánh giá về vấn đề còn được xem là khá mới mẻ
11
này. Quả là nghiên cứu về tác phẩm của Nam Cao chiếm một số lượng đáng kể, nhưng
hầu hết là tìm hiểu trên phương diện nội dung và phong cách nghệ thuật. Vấn đề thi pháp
học ngày nay cũng được vận dụng rộng rãi vào nghiên cứu truyện ngắn Nam Cao. Bên
cạnh đó nghiên cứu từ góc độ tự sự học cũng đem đến cho người đọc một cách tiếp cận
mới . Do việc vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu tác phẩm còn khá mới mẻ nên có
những vấn đề chưa thực sự được đi sâu bàn tới cũng là điều đương nhiên.
Đề cập đến vai trò của nhà văn với tư cách là người kể chuyện trong truyện ngắn
Nam Cao, nhà nghiên cứu Phong Lê đã phát hiện ra được những sự khác nhau trong tư
cách xuất hiện trong mỗi truyện ngắn của nhà văn. Với bài viết: “Người trí thức kiểu
Nam Cao và chiến thắng của chủ nghĩa hiện thực” (1968), tác giả Phong Lê khái quát
rằng: “Đọc hầu hết sáng tác của Nam Cao, thấy hình ảnh nhà văn gần như có mặt khắp
mọi nơi. Lúc ở vị trí nhân vật chính như Thứ, Điền, Hộ, Ngạn, Du…lúc ở vị trí một nhân
vật phụ để quan sát, nhìn ngắm, cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ những người lao động”
[61; 117]
Phần đông những người nghiên cứu thường chỉ đưa ra các nhận định mà chưa đi
chứng minh một cách cặn kẽ, phần vì do khung khổ nội dung nghiên cứu, phần vì đó chưa
phải là đối tượng nghiên cứu chính của họ. Song cũng đã có những ý kiến xác đáng.
Nguyễn Ngọc Thiện với “Bút pháp tự sự đặc sắc trong “Sống mòn”, Nghĩ tiếp về
Nam Cao” (1992), đã viết: “Không phải lúc nào ông cũng để nhân vật nói về mình ở ngôi
thứ nhất mà nhiều khi ông sử dụng một thứ ngôn ngữ của người khác trong ngôn ngữ
nhân vật, như cách giải thích M.Bakhtin ngôn ngữ song thanh” [106; 503]. Cùng với việc
xác định vị trí của nhà văn trong truyện vị trí của nhân vật cũng xuất hiện khá nhiều ở
ngôi thức nhất và cả ở những ngôi khác.
Phạm Xuân Nguyên với “Nam Cao và sự lựa chọn chủ nghĩa hiện thực (Nghĩ tiếp
về Nam Cao) (1998) khi đi sâu phân tích đặc điểm tâm lý nhân vật cũng đã chú ý đến vị
trí của ngôi kể trong truyện khi miêu tả tâm lý nhân vật. Ông cho rằng: “Nam Cao đã lấy
giá trong Sống mòn: “Trong Sống mòn, tác giả thể hiện lối kể chuyện với nhiều điểm
13
nhìn: lúc thì điểm nhìn của người kể chuyện, lúc thì truyện được kể và nhìn theo nhân
vật” [106 ; 499]
Vũ Thăng với Một vài đặc điểm thi pháp truyện Nam Cao (2000), đã khẳng định
rằng: “Đọc tác phẩm Nam Cao càng lúc càng thấy xuất hiện nhiều điểm nhìn. Tác giả,
người kể chuyện và nhân vật cùng kể, cùng giãi bày lòng mình trước độc giả” [103; 56].
Tác giả đã lấy một vài truyện ngắn tiêu biểu để chứng minh cho quan điểm của mình. Tác
giả cũng cho thấy trong truyện ngắn của Nam Cao có sự chuyển đổi điểm nhìn “từ người
kể chuyện sang nhân vật, đẩy lên một bước nữa để nhân vật phân thân vào các nhân vật
khác…Nhân vật được soi rọi từ nhiều chiều, nhiều phía, cứ hiện dần lên, cũng đi lại, hoạt
động, nói năng như chính con người trong cuộc sống” [103; 65]. Có thể thấy những đóng
góp của tác giả trong phần nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tìm hiểu
nghệ thuật tự sự của tác phẩm Nam Cao. Song tác giả chưa chú ý đi sâu vào phân tích
điểm nhìn từ phía tác giả và điểm nhìn từ phía người đọc mà chỉ xoáy sâu vào điểm nhìn
của nhân vật và tô đậm điểm nhìn của người kể chuyện. Trên tinh thần đó chúng tôi sẽ
tiếp tục khơi dòng và triển khai những vấn đề mà chúng tôi nhận thấy cần được quan tâm
hơn nữa.
Vũ Khắc Chương, với Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của Nam Cao
(2000), có đề cập đến vấn đề điểm nhìn trần thuật từ phía người kể chuyện, và nhân vật.
Tác giả khẳng định: “Trong nhiều truyện ngắn của mình, Nam Cao còn trao cái nhìn khi
thì cho nhân vật này, lúc thì cho nhân vật khác chứ không chỉ cho một nhân vật” [13; 49].
Chứng minh bằng một vài truyện ngắn, tác giả cũng chưa chú ý đến điểm nhìn của tác giả
và điểm nhìn từ phía người đọc. Sự di chuyển điểm nhìn nhân vật tác giả cũng mới chỉ
lướt qua, chưa thực sự làm bật nổi được cái điểm đặc sắc này trong truyện ngắn của Nam
Cao về phương diện nghệ thuật tự sự.
Trần Ngọc Dung với Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam những
năm 1930 – 1945 có đề cập đến vấn đề nghệ thuật trần thuật. Song với tác giả truyện
ngắn Nam Cao “trần thuật chủ yếu theo quan điểm nhân vật”. Tác giả lấy một đoạn trong
15
được tác giả xây dựng theo diễn tiến của quá trình hoạt động của nhân vật Chí Phèo”
[12; 42]. Qua việc phân tích các thành phần của cốt truyện Chí Phèo, tác giả đã khẳng
định: “Nam Cao đã sử dụng một kết cấu độc đáo,…góp phần vào việc khắc họa nhân vật
cả hai mặt bên ngoài và nội tâm”. Có thể thấy, việc phân tích cốt truyện là một việc làm
rất quan trọng để tìm hiểu tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Tuy tác giả chỉ chọn một tác
phẩm làm ví dụ minh họa song Lê Tư Chỉ đã cho thấy được một khả năng tiếp cận hữu
hiệu tác phẩm từ góc độ cốt truyện.
Bùi Việt Thắng với chuyện luận “Truyện ngắn những vấn đề lý thuyết và thực tiễn
thể loại” (2000) đã có một sự kiến giải về lý thuyết kết cấu một cách rõ ràng, dễ hiểu. Tác
giả cũng vận dụng một số tác phẩm của Nam Cao để luận giải cho những vấn đề lý
thuyết. Tác giả chọn tác phẩm Chí Phèo vì đây là một truyện ngắn rất tiêu biểu của Nam
Cao thể hiện cho một loại kết cấu nào đó. Với Chí Phèo ông cho rằng: “truyện được kết
cấu theo lối ngay cao trào,…chủ đề về sự tha hóa của con người được biểu hiện sâu sắc
qua thân phận của Chí Phèo nhờ vào sự phát hiện tâm lý của nhân vật, và do đó đặc
trưng kết cấu của tác phẩm của Nam Cao nói chung là kết cấu tâm lý” [102; 102]. Tuy
không đi sâu nghiên cứu về Nam Cao, nhưng những gợi mở trên góc độ lý thuyết của tác
giả sẽ trợ giúp rất nhiều cho người nghiên cứu đi vào tìm hiểu các loại kết cấu trong
truyện ngắn Nam Cao.
Tác giả Vũ Thăng với Một vài đặc điểm thi pháp truyện Nam Cao (2000) có đề cập
đến vấn đề kết cấu trong truyện ngắn Nam Cao. Tuy chưa thực sự đi chứng minh rốt ráo
vấn đề này nhưng tác giả cũng đã có những khái quát khá xác đáng. Tác giả cho rằng:
“Đa số truyện Nam Cao có kết cấu mở, truyện không có cốt truyện, từng quãng đời nhân
vật với bao thăng trầm được chêm vào tác phẩm, đẩy tình huống truyện vận động theo
một xu thế mà mỗi một lần có thay đổi lại là một điểm nhấn, một bước ngoặt quyết định
xu hướng tác phẩm và tính cách nhân vật” [103; 99]. Tác giả đã lấy một số tác phẩm để
chứng minh cho nhận định của mình như Dì Hảo, Ở hiền, Chí Phèo, Mua danh, Tư cách
mõ, Sống mòn. Tác giả cũng nói đến một số kiểu kết cấu trong truyện ngắn Nam Cao.
16
nước mắt, Đời thừa, Giăng sáng, Mua nhà, Quên điều độ, Cái mặt không chơi
được…được xây dựng theo hướng đó” [25; 158]. Có thể nói, những phát hiện này là
những đóng góp mới trong hành trình phám phá truyện ngắn Nam Cao. Chúng tôi có cơ
17
sở đi vào khai thác chứng minh nhận định này rõ hơn ở trong bài nghiên cứu khoa học
này
Nhiều ý kiến cho rằng truyện ngắn của Nam Cao rất ít sự kiện. Trong đó có ý kiến
của Nguyễn Đăng Mạnh – Nhớ Nam Cao, nghĩ tiếp về mấy bài học sáng tác của anh
(1990). Ông nhận định: “Một trong những đặc sắc của ngòi bút Nam Cao là đã mạnh dạn
đưa cái hàng ngày vào văn học, nghĩa là chẳng cần sự kiện gì quan trọng, chẳng cần gì
kịch tính lớn lao”. Điều này lý giải việc cốt truyện của Nam Cao tuy không có nhiều
truyện giàu sự kiện nhưng nó vẫn tạo được sự hấp dẫn đặc biệt, nhờ nó được tạo dựng
bởi các yếu tố chặt chẽ nơi kết cấu của tác phẩm
Trong bài viết Phong cách truyện ngắn Nam Cao (in trong Nam Cao con người và
tác phẩm) (2000), Vũ Tuấn Anh có đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó tác giả cũng chú ý
đến vấn đề cấu trúc truyện ngắn của Nam Cao. Tác giả cho rằng: “Cấu trúc truyện Nam
Cao thường nương theo trục thời gian, dõi theo cuộc đời nhân vật hoặc một chặng dài
của đời. Ông cũng là người xây dựng thành công loại truyện không có cốt truyện”
[1;196]. Tác giả cũng mới dừng lại ở mức độ khái quát chứ chưa thực sự đi sâu vào
nghiên cứu cụ thể vấn đề cốt truyện trong truyện ngắn Nam Cao
Tác giả Vũ Khắc Chương trong cuốn Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam
Cao (2000) có đưa ra cách phân chia của mình về cốt truyện của truyện ngắn Nam Cao.
Tác giả cho rằng “nếu đứng ở góc độ sự kiện thì có thể chia tác phẩm Nam Cao thành hai
mảng lớn: mảng tác phẩm có sự kiện và mảng tác phẩm ít sự kiện” [13;61]. Thực ra đây
mới chỉ là một cách phân chia cốt truyện của Nam Cao trong rất nhiều cách phân chia
khác.
3.3.3. Những nhận xét về tình huống trong truyện ngắn Nam Cao
Với những truyện ngắn trước năm 1945 của Nam Cao đã có một vài người nghiên
cứu về tình huống, nhưng những truyện sau năm 1945 chưa được chú ý nhiều về vấn đề
của mỗi nhà văn. Chi tiết có một vai trò rất quan trọng đối với thể truyện ngắn.
19
So với các vấn đề khác thì vấn đề về chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn Nam Cao
ít có một bài viết nào chuyên nghiên cứu về vấn đề này. Rất có thể nhiều người cho chi
tiết chỉ là một khía cạnh nhỏ nên chưa thực sự quan tâm tới. Chúng tôi cho rằng vấn đề
chi tiết nghệ thuật là một vấn đề không nhỏ chút nào. Vì vậy, chúng tôi sẽ cố gắng nghiên
cứu khai thác vấn đề chi tiết nghệ thuật trong truyện ngắn Nam Cao.
3.4. Vấn đề Lời văn và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao
3.4.1. Những nhận xét đánh giá về lời văn trong truyện ngắn Nam Cao
Trước năm 1961, vấn đề lời văn đã bắt đầu được manh nha nói tới qua lời tựa viết
cho Đôi lứa xứng đôi của Lê Văn Trương (1941), rồi ý kiến đánh giá nhận xét của
Nguyễn Đình Thi sau khi Nam Cao đã hi sinh.
Năm 1961 Hà Minh Đức đánh dấu bước nghiên cứu công phu, hệ thống đầu tiên về
Nam Cao qua công trình: “Nam Cao – Nhà văn hiện thực xuất sắc” (in lại trong Nam
Cao, đời văn và tác phẩm - 1997). Trong đó tác giả đã chú ý đến ngôn ngữ trong truyện
ngắn Nam Cao. Ông viết: “Ngôn ngữ trong tác phẩm Nam Cao giản dị như nội dung các
truyện mà tác giả miêu tả. Nam Cao ưa lối đặt câu ngắn, gọn, phô diễn tư tưởng, biểu đạt
ý tình một cách chính xác, bình dị. Tác giả tránh được sự cầu kỳ, phô trương khi vận
dụng ngôn ngữ” [28; 178]. Đó là sự đánh giá rất xác đáng của tác giả đối với đặc điểm
chính trong ngôn ngữ của Nam Cao. Tác giả đã nhận thấy sự biến hóa, linh hoạt trong
việc sử dụng ngôn ngữ trong truyện ngắn Nam Cao.
Xét ở khía cạnh nội dung, Lê Đình Kỵ trong bài viết Nam Cao - con người và xã
hội cũ (1964) đã cho rằng “văn Nam Cao lạnh lùng và sôi nổi, tàn nhẫn mà độ lượng,
chua chát mà thông cảm… không ru mà lay tỉnh, không ve vuốt mà quất vào người” [58;
61]. Một phần đặc điểm của văn Nam Cao như thế là có sự tác động của thực tế cuộc sống
đầy bất công, ngang trái lúc bấy giờ. Tuy nhận định trên còn mang tính chất chung chung
nhưng rõ ràng tác giả đã có một sự đánh giá rất xác đáng.
Trong Lời giới thiệu Nam Cao – Tác phẩm (1975) (in lại trong Nam Cao – đời văn
và tác phẩm - 1997), Hà Minh Đức lại tiếp tục phát hiện ra những điều mới mẻ trong ngôn
21
giả mang chất giọng riêng của Nam Cao, giàu suy nghiệm triết lý có thể xem như là âm
chủ, nhưng chất giọng đó không lấn át, không che khuất ngôn ngữ nhân vật” [62; 119].
Điều này có ích rất lớn cho chúng tôi khi nghiên cứu các kiểu lời văn trong truyện ngắn
Nam Cao.
Sau này đến khi viết Nam Cao – Văn và đời, Phong Lê tiếp tục phân tích mở rộng
quan điểm đã nêu trên. Ông cho rằng: “Một ngôn ngữ tác giả mang giọng điệu riêng
không lẫn. Và một ngôn ngữ nhân vật, người nào giọng ấy, không ai giống ai”. Tác giả đã
cho thấy một nét đặc trưng trong ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao. Mỗi loại ngôn ngữ của
nhân vật, ngôn ngữ tác giả đều mang một sắc thái giọng điệu riêng không lẫn làm nên sự
đa dạng, phong phú trong ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao.
Với sự tiếp cận ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao ở đặc điểm lý thuyết về lời văn nghệ
thuật, Lại Nguyên Ân trong Nghĩ tiếp về Nam Cao (1992). Với bài viết Nam Cao và cuộc
cách tân đầu thế kỷ XX, tác giả cho rằng ngôn ngữ Nam Cao: “tổ chức được những
mạng lưới phức tạp gồm cả ngôn ngữ bên ngoài và ngôn ngữ bên trong, cả ngôn ngữ tác
giả, ngôn ngữ nhân vật, thậm chí cả ngôn ngữ đan xen và nhòe lẫn vào nhau của hai
ngôn ngữ ấy” [4; 123]. Chính đặc điểm ngôn ngữ này có tác dụng xây dựng được những
đường dây tâm lý phức tạp của nhân vật, mà bộc lộ tâm lý qua ngôn ngữ vốn là một sở
trường của Nam Cao khi ông khắc họa nhân vật.
Là một người cũng rất chú ý đến ngôn ngữ văn xuôi Nam Cao, Nguyễn Văn Hạnh
trong luận đề văn chương Nam Cao – một đời người, một đời văn (1993), đã khẳng định:
“trong tác phẩm của Nam Cao, người ta vẫn nhận rõ hiện tượng nhiều tiếng nói: tiếng
nói của tác giả, tiếng nói của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất – nhân vật “tôi” – và tiếng
nói của nhiều nhân vật khác” [42; 33]. Tác giả đã nhận thấy tính chất đa thanh trong
ngôn ngữ Nam Cao. Đây là một ý kiến khá quan trọng cho người viết có định hướng
nghiên cứu về lời văn đa giọng trong truyện ngắn Nam Cao.
Với chuyên luận Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng (1998), Bùi
Công Thuấn khi nói đến những đặc điểm tạo nên phong cách Nam Cao. Tác giả đã chú ý
đến mặt ngôn ngữ và khái quát ngắn, gọn mà tinh tế: “có thể coi những kiểu câu ngắn này
Trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1978) Phan Cự Đệ có đề cập đến vấn đề
giọng điệu của người kể chuyện trong truyện ngắn Chí Phèo: “Giọng điệu trêu chọc của
người kể chuyện cứ tăng dần dần từng nấc và đến một lúc nào đấy ngôn ngữ của nhân vật
bật ra dưới dạng thức một ngôn ngữ trực tiếp” [24; 364]. Vấn đề chủ yếu mà tác giả đề
cập ở đây là vấn đề ngôn ngữ song thanh tạo ra các giọng điệu theo lý thuyết về ngôn ngữ
song thanh của M.Bakhtin. Đó là cơ sở để tạo ra các loại giọng điệu có tác động phức tạp
với nhau.
Trong hội thảo khoa học 40 năm ngày mất của Nam Cao (1951 - 1991) có nhiều
chuyên luận nghiên cứu về giọng điệu tác phẩm Nam Cao. Trong bài “Lối văn kể chuyện
của Nam Cao” Phan Diễm Phương dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ đã chỉ ra “Lối kể
chuyện bằng nhiều chất giọng: nghiêm nghị và hài hước, trân trọng, nâng niu và nhạo,
đay, mỉa. Chất giọng này thể hiện ở nhiều cấp độ, nhưng nhiều hơn cả là “sự trộn lẫn
giọng kể trong cùng một truyện” [88; 258]. Tác giả đã lấy ra những truyện tiêu biểu để
giải thích một cách thuyết phục cho nhận định của mình. Tác giả đã cho thấy tính phức
điệu trong giọng văn Nam Cao.
Nguyễn Văn Hạnh, với Một đời người, một đời văn (1993) cũng một lần nữa khẳng
định tính chất đa thanh trong “hiện tượng nhiều tiếng nói: Tiếng nói của tác giả, tiếng nói
của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất – nhân vật tôi – và tiếng nói của nhiều nhân vật
khác” [42; 41]. Chính hiện tượng đa thanh ấy nó tạo nên sự đa giọng trong tác phẩm Nam
Cao. Đó cũng là những đóng góp hết sức quí báu để chúng tôi tiếp thu khi đi nghiên cứu
sự phức hợp giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao.
Trong Phân tích tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp (1995), Nguyễn Thị Dư
Khánh cũng nhận thấy tính nhiều giọng của ngôn ngữ người kể chuyện rất đa dạng “khi
xuất hiện trong tư cách người kể chuyện ẩn mình, có lúc lại trong tác phẩm ấy bỗng xuất
hiện với tư cách người trực tiếp kể chuyện của mình hoặc kể chuyện người khác” [56;
40]. Với việc nhà văn đặt nhân vật ở nhiều góc độ có thể xuất hiện nhiều giọng khác
nhau. Nhưng tất cả các giọng riêng ấy đều không bị nhòe lẫn, mờ nhạt mà nó vẫn có một
giọng chủ âm, chủ đạo. Ta có thể nhận thấy “giọng thông cảm xót xa, giọng ân cần an ủi,
24
chứa những yếu tố hài như những cung bậc, sắc điệu của chất giọng, có khi chất hài thể
hiện trong từ ngữ”. Ông cũng có nhận xét tinh tế rằng : “cái hài trong giọng điệu là mặt
nổi của cái bi đát” “cái yêu thương mới là bề sâu trong chất giọng của Nam Cao” [108;
202]. Có thể chính chất giọng này đã chi phối rất nhiều những trang viết của Nam Cao
trong những truyện ngắn có cốt truyện tâm lý.
Nguyễn Đăng Mạnh cũng đặc biệt chú ý chất nhiều giọng trong truyện ngắn Một
đám cưới (1998), ông cho rằng “cái tài lớn lao của Nam Cao trong thiên truyện – Một
đám cưới, là có khả năng nhập vai vào tất cả các nhân vật. Nghĩa là suy nghĩ theo nhân
vật, nói bằng ngôn ngữ, bằng giọng điệu của nhân vật…câu chuyện là sự hòa âm của
nhiều giọng điệu khác nhau, dường như là sự sống tự nó cất lên như thế” [77; 455]. Một
lần nữa tác giả đã cho thấy tài năng sáng tạo trong lối hành văn của Nam Cao, tuy không
đi vào nhiều tác phẩm mà chỉ giới hạn nghiên cứu một tác phẩm cụ thể nhưng tác giả
cũng phần nào cho thấy những đặc sắc trong giọng điệu của Nam Cao
Cùng ý kiến với nhiều người khác, trong Nam Cao – nhìn từ cuối thế kỷ (1998)
Phong Lê cũng trên tinh thần so sánh tác phẩm của Nam Cao với một số tác phẩm nhà
văn khác Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài để thấy ở văn Nam
Cao so với văn của các nhà văn khác thì “ở văn Nam Cao gần như có đủ chất liệu: hài và
bi, trào phúng và chính luận, triết lý và trữ tình, nghịch dị và nhàm tẻ, thô nhám và chất
thơ”. Nhưng văn Nam Cao cũng là “một sự tổng hợp nhiều chất liệu, nhiều giọng điệu, và
đồng thời là một giọng riêng không lẫn với bất cứ ai” [65; 113]. Cũng như nhiều người
khẳng định, tác giả cũng nhận thấy Nam Cao có một giọng văn đặc trưng không lẫn với
bất kỳ một giọng văn của tác giả khác cùng thời.
Với Bích Thu trong Lời đề dẫn cho cuốn Nam Cao tác gia và tác phẩm (1998), tác
giả dường như có một nhận định tổng quát khá thuyết phục: “Nam Cao không tạo ra một
giọng điệu chủ đạo thống lĩnh. Ông đã có đóng góp lớn trong việc đa thanh hóa giọng
điệu tự sự. Việc sử dụng giọng điệu căn cứ vào đối tượng và hiện thực mà tác phẩm phản
ánh. Nhưng ngay trong một tác phẩm cụ thể, mỗi đoạn mỗi tứ vẫn có sự chuyển hóa
giọng điệu tạo nên trữ lượng thẩm mỹ không vơi cạn trong sáng tác Nam Cao”. Tác giả