nghiên cứu đề xuất chương trình liên thông từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học ngành vận hành máy tàu biển - Pdf 10



1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
[\

TRẦN VĂN GIÁP

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH LIÊN THÔNG
TỪ BẬC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP LÊN ĐẠI HỌC
NGÀNH VẬN HÀNH MÁY TÀU BIỂN Chuyên ngành : Quản Lý Giáo Dục
Mã số : 5.07.03

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. LÊ SƠN


3.4 Thẩm đònh chương trình đào tạo 93
Kết luận và kiến nghò. 97
Tài liệu tham khảo. 100
Phụ lục. 103
3
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của bản thân đến:
o Đảng ủy, Ban giám hiệu , Phòng Nghiên cứu khoa học và Sau đại học
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
o Q Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học ngành Quản lý giáo dục.
o Q Thầy Cô giáo, Cán bộ Công nhân viên các Phòng, Khoa, Bộ môn
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
o Thầy hướng dẫn PGS.TS. LÊ SƠN .
o Hiệu Trưởng, các thầy ,cô giáo, cán bộ công nhân viên Trường Trung
Học Hàng Hải II, Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam, Trường Đại
Học Giao Thông Vận Tải TP.Hồ Chí Minh .
o Các đồng chí cán bộ kỹ thuật và máy trưởng các Công Ty Vận Tải biển
tại khu vực TP. Hồ Chí Minh.
o Tiến Sỹ khoa học Hoàng Ngọc Vinh – chuyên viên Bộ Giáo Dục Và
Đào Tạo.
o Các bạn học viên lớp Cao học khoá 11 ngành Quản lý giáo dục.
Đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này !


đi ca
ca cho thuyền viên.
- TAFE Technical and Further Education.
- THCN Trung học chuyên nghiệp.
- THHH II Trung học hàng hải II.
- THPT Trung học phổ thông.
- VTĐ Vô tuyến điện. 5
DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chức năng nhiệm vụ về đào tạo và huấn luyện hàng hải.
của Trường THHH II và Trường Đại Học GTVT TP.HCM.
Bảng 2.2 Các chức danh trên tàu biển tương ứng với các bậc đào tạo.
Bảng 2.3 Trang thiết bò đào tạo hàng hải theo yêu cầu của STCW78/95
Bảng 3.1 Chuẩn trình độ THCN và đại học chuyên ngành vận hành
máy tàu biển.
Bảng 3.2 Bảng liệt kê môn học và so sánh thời gian giảng dạy.
Bảng 3.3 Bảng phân bố các học phần theo tuần.
Bảng 3.4 Bài tập lớn và thiết kế môn học.
Bảng 3.5 Thi tốt nghiệp.
Bảng 3.6 Phân bố thời gian toàn khoá học theo tuần lễ .
Bảng 3.7 Đánh giá chương trình đào tạo.

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ , SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ


tạo liên thông. 7
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CHƯƠNG TRÌNH LIÊN THÔNG
TỪ BẬC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP LÊN ĐẠI HỌC
NGÀNH VẬN HÀNH MÁY TÀU BIỂN PHẦN MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài :
Báo cáo chính trò Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng khoá VIII Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam [17] đã khẳng
đònh vò trí và đònh hướng phát triển cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo:
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung,
phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo
dục; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”. Phát huy tinh

49/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành Quy đònh tạm thời về đào tạo liên
thông Dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học. Quyết đònh nói
trên đã chính thức xác nhận tính cần thiết của đào tạo liên thông tại Việt Nam.
Thực ra, trước đó đào tạo liên thông đã được tiến hành nhiều năm nay ở
nước ta dưới hình thức đào tạo chuyên tu nhằm đáp ứng nhu cầu người học và
thực hiện chính sách cán bộ. Nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đã được đào tạo
nâng cao trình độ , chuyển đổi nghề nghiệp , có công ăn việc làm thích hợp ổn
đònh cuộc sống và đóng góp công sức của mình vào sự tiến bộ của xã hội. Tuy
nhiên với hình thức đào tạo này, chúng ta còn một số tồn tại sau [2]:
1 Chưa có những đánh giá và những nghiên cứu về loại hình đào tạo
liên thông này để có chỉ đạo tốt hơn. 9
2 Chưa có những giải pháp và cơ chế chính sách thống nhất chỉ đạo từ
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục .
3 Chưa kiểm soát được chất lượng đào tạo tại các cơ sở tiến hành đào
tạo liên thông.
Đối với ngành Hàng hải Việt Nam , đào tạo liên thông dưới hình thức
chuyên tu - chuyển cấp từ bậc học trung học chuyên nghiệp lên đại học đã bắt
đầu từ năm 1977 . Một trong những nguyên nhân khiến ngành Hàng hải sớm
có đào tạo liên thông là do tiền thân của Trường Đại Học Hàng Hải Việt Nam
và Trường Đại Học Giao Thông Vận Tải TP. Hồ Chí Minh hiện nay là Trường
Trung Học Hàng Hải trước đây và phần lớn thuyền viên tốt nghiệp trung học
phải nhanh chóng học chuyển cấp lên đại học để đáp ứng kòp thời nhu cầu về
nhân lực của ngành .
Cũng như một số ngành khác, đào tạo liên thông trong ngành Hàng hải
ngoài những tồn tại nêu trên còn có những nhược điểm sau :
1 Chương trình đào tạo do chưa được tập trung nghiên cứu một cách
khoa học nên chưa đáp ứng với yêu cầu chất lượng đào tạo hiện nay của

vận dụng vào phân tích mục tiêu đào tạo và các đặc điểm của đối tượng sinh
viên Hàng Hải thì có thể thiết kế được một chương trình liên thông thích hợp
và khả thi.
5- Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về đào tạo liên thông nói chung và liên
thông từ bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học nói riêng.
5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động đào tạo đối với chuyên ngành vận
hành máy tàu biển ở các trường Trung Học Hàng Hải và Đại Học Giao Thông
Vận Tải TP. Hồ Chí Minh trong 03 năm gần đây.
5.3 Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông và
xây dựng chương trình khung (Mục tiêu chương trình, các môn học, cấu trúc và 11
tổ chức các môn học, thời gian đào tạo) đào tạo liên thông cho chuyên ngành
Vận hành máy tàu biển.
6- Giới hạn đề tài
6.1- Về thời gian : Khảo sát thực trạng đào tạo đối với chuyên ngành
vận hành máy tàu biển tại Trường Trung Học Hàng Hải và tại Đại Học Giao
Thông Vận Tải TP. Hồ Chí Minh trong các năm học 1999-2000, 2000-2001,
2001-2002 .
6.2- Về không gian : Nghiên cứu tiến hành trong phạm vi các trường
Trường Trung Học Hàng Hải và tại Đại Học Giao Thông Vận Tải TP. Hồ Chí
Minh .
6.3- Về quy mô : Nghiên cứu tiến hành đối với chuyên ngành Vận
hành máy tàu biển ở mức độ là đề xuất một chương trình đào tạo liên thông từ
bậc trung học chuyên nghiệp lên đại học. Do thời gian và giới hạn ở mức độ
một luận văn cao học , nên luận văn chỉ tập trung vào hai khâu (khảo sát nhu
cầu, thực trạng và thiết kế xây dựng chương trình ) trong bốn khâu thuộc mô
hình quản lý của tiến sỹ U. E. Deming (Mỹ ). Hai khâu chưa được xem xét tới


CHƯƠNG 1  TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
 MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
 KHÁI NIỆM VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO XÂY
DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
 THIẾT KẾ QUI TRÌNH XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG

14
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu :

and Further Education). Căn cứ vào khung trình độ quốc gia, hầu hết các
trường đại học đều có chính sách thỏa thuận công nhận tín chỉ ở bậc học dưới.
Để có thể liên thông giữa các bậc học thì cần thiết phải có bằng diploma hoặc
advance diploma để liên thông lên đại học và trên đại học.
Trong chính sách liên thông có hướng dẫn chi tiết về những điều kiện
để học sinh có thể vào học một hoặc một vài khóa học trong nhà trường nhằm
tạo điều kiện tốt nhất cho họ có thể theo học. Trên cơ sở hợp tác giữa các
trường chuyên nghiệp và các trường đại học, những chi tiết cụ thể về thỏa
thuận chuyển tín chỉ sẽ do khoa ở các trường chòu trách nhiệm ban hành. Cơ
quan quản lý cao nhất của mỗi bậc học này là AVCC (Australian Vice-
Chancallors Committee) phụ trách khối đại học và ANTA (Australian National
Training Authority) chòu trách nhiệm trong khối giáo dục kỹ thuật và nghề
nghiệp (Vocational Education and Training - VET) trong việc ban hành qui
đònh, những nguyên tắc và chỉ dẫn điều hành mang tính hệ thống về đào tạo
liên thông đối với các bậc học.
* Tại Canada : Đào tạo liên thông cũng tiến hành từ thập niên 60 cuả
thế kỷ XX với các hình thức giống như Mỹ và Australia. Liên thông thực hiện
trên cơ sở thoả thuận giữa các hệ thống , cơ sở đào tạo và các chương trình
đào tạo. Bộ Giáo dục British Colombia (Canada) tham gia quản lý nhà nước
trong đào tạo liên thông để đảm bảo chất lượng đào tạo và công bố những văn
bản hướng dẫn để cho quá trình liên thông diễn ra thuận lợi.
* Tại Đông Nam Á : Đào tạo liên thông còn tương đối mới nên còn
nhiều vấn đề cần giải quyết. Trong khu vực, chỉ có Singapor là nước có
chương trình đào tạo liên thông khá mềm dẻo, hiệu quả và đa dạng nhằm đáp 16
ứng nhu cầu đa dạng về nhân lực. Sinh viên hoàn tất một bằng diploma về
polytechnic có thể vào học hầu hết các khoá học ở bậc đại học với những
chuyên ngành tương ứng. Trong khi đó, ở Thái Lan, những học sinh học ở

nghiệp đại học là 6 đến 6,5 năm .
* Một hình thức liên thông khác nữa cũng đã tồn tại nhiều năm khi Bộ
Giáo Dục Và Đào Tạo ban hành chính sách đào tạo hai giai đoạn, cho phép
học sinh học xong giai đoạn I ở trường này có thể chuyển sang học tiếp giai
đoạn II ở một vài trường khác cùng khối ngành.
Các hình thức đào tạo liên thông nói trên có ưu điểm là giúp cho người
học tận dụng hết năng lực và động cơ học tập để có thể học một lúc nhiều
trường hoặc học ở những trường mong đợi mà ban đầu chưa được vào học do
điểm thi đầu vào thấp. Tuy nhiên các hình thức trên cũng đã bộc lộ những
điểm yếu là:
- Học sinh yếu học lực học ở những trường đòi hỏi học lực cao nên chất
lượng học thấp.
- Do có thể chuyển trường khi chuyển giai đoạn nên các trường thường
bò động về lưu lượng học sinh.
- Trong hầu hết các trường đào tạo liên thông vẫn chưa đònh rõ ràng
chuẩn trình độ, chuẩn kỹ năng , chuẩn kiến thức ở mỗi bậc học mà học sinh tốt
nghiệp cần phải có, vì vậy chương trình đào tạo xây dựng chưa thực sự hoàn
chỉnh.
Về tính khoa học , Đào tạo liên thông chưa được nghiên cứu nhiều ở
Việt Nam. Công trình quốc gia nghiên cứu về đào tạo liên thông được ghi nhận
là đề tài khoa học cấp Bộ , mã số B96-49-29 mang tên “ Sự khác biệt và liên
thông giữa hai cấp Đại học và Cao đẳng trong bậc giáo dục đại học” do Viện
Khoa Học Giáo Dục Việt Nam thực hiện ( TS. Đỗ Công Vònh – chủ nhiệm đề 18
tài ) tháng 12 năm 1997 [30] đã đề cập đến những cơ sở của việc đào tạo liên
thông trong kỷ nguyên mới, những yêu cầu và điều kiện liên thông, các con
đường thực hiện liên thông và giới thiệu thiết kế mẫu chương trình đào tạo liên
thông . Ngòai công trình nói trên, còn có một số nghiên cứu khác dưới dạng

2. Ngành đào tạo trong từng bậc học và giữa các bậc học phải thống
nhất về tên gọi để tạo sự kết nối giữa hai bậc học.
3. Chương trình khung giáo dục cao đẳng chưa áp dụng thống nhất tại
các trường Cao đẳng.
4. Tài liệu học tập của bậc THCN vừa thiếu vừa không đồng bộ, nhất
là giáo trình, sách tham khảo mỗi trường sử dụng một tài liệu riêng, thiếu nhất
quán trong việc biên soạn sách giáo khoa khiến cho công việc kiểm tra liệt kê
nội dung mất rất nhiều thời gian , công sức và khó thực hiện.
5. Nghiên cứu về xây dựng và phát triển chương trình đào tạo trong các
trường chưa được quan tâm đúng mức thiếu chuyên gia xây dựng và phát triển
chương trình nên khi tiếp cận chương trình mới còn máy móc, lúng túng.
6. Giáo viên ở bậc THCN còn rất nhiều hạn chế về trình độ sư phạm,
về trình độ chuyên môn, cũng như nghiên cứu khoa học nên hiệu quả hợp tác
còn thấp khi xây dựng chương trình.
7. Còn tồn tại những quan điểm lệch lạc về ĐTLT và những nguyên
nhân khác tạo những cản trở vô hình cho quá trình xây dựng.
Đây cũng chính là những trở ngại đặt ra khi thực hiện đề tài. Tuy nhiên
xét về tính lòch sử của vấn đề nghiên cứu, đề tài có những thuận lợi sau :
1 Đào tạo liên thông đã chính thức trở thành chính sách trong giáo dục
– đào tạo ở nước ta.
2 Tuy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo liên thông ở
nước ta, nhưng những công trình nghiên cứu đã có cũng đã đặt được những nền
móng cơ bản để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra. 20
3 Đối với ngành Hàng hải, vì Việt Nam là thành viên của Tổ Chức
Hàng Hải Quốc Tế ( IMO ) nên chuẩn đào tạo về chuyên môn cơ bản phải
tuân theo quy đònh của IMO ở các bậc học.
4 Chuyên ngành và tên gọi của chuyên ngành ở bậc trung học và đại

này tới bậc học kia một cách liên tục với điều kiện thoả mãn một lượng tín chỉ
về thành tích học tập của bậc học trước đó mà có liên quan đến bậc học được
chuyển tới”
PGS.TS. Nguyễn Đại Thành- Vụ trưởng vụ THCN Bộ Giáo Dục & Đào
Tạo, trong Hội thảo Xây dựng chương trình đào tạo liên thông tại Hà Nội
tháng 10/2001, đã đưa ra đònh nghóa:
Đào tạo liên thông là quá trình đào tạo cho phép công nhận và
chuyển đổi kết quả học tập và rèn luyện của người học từ bậc học này
tới một số bậc học khác trong hệ thống đào tạo. Như vậy, liên thông có
thể hiểu với nghóa liên kết và chuyển đổi giữa các ngành học và bậc học
với nhau [2].
Theo đònh nghóa được đưa ra tại hội thảo Hà Nội 10/2001 thì ĐTLT là
một “quy trình cho phép và chuyển đổi “. Như vậy có thể hiểu ĐTLT bao gồm
hai khối công việc : 1- Kỹ thuật phát triển chương trình đào tạo ( để có thể kế
thừa kiến thức và kỹ năng ) ; 2- Thể chế chính sách vận hành điều khiển quá
trình này ( cho phép nối ghép với nhau giữa các khối kiến thức và kỹ năng ).
1.2.2 Các hình thức ĐTLT
Hiện nay trên thế giới tồn tại một số hình thức liên thông như sau:
- Liên thông dọc ( Vertical Articulation ): người học chuyển từ bậc học
thấp lên bậc học cao hơn trong cùng một ngành học như từ THCN lên cao
đẳng, THCN lên đại học, cao đẳng lên đại học.
- Liên thông ngang (Horizotal Articulation ): người học di chuyển trong
cùng bậc học để có thể học thêm những ngành tương tự hoặc khác ngành. 22
- Liên thông chéo ( Diagonal Articulation ): người học di chuyển sang các
bậc học khác nhau với chuyên ngành đào tạo không giống bậc học trước.
- Liên thông ngược ( Reversed Articulation ): người học chuyển từ bậc
học cao hơn xuống bậc học thấp hơn để rèn luyện những kỹ năng cần thiết có

- CTĐT là những điều được dạy trong nhà trường ( nhìn một cách tổng
quan)
- CTĐT là một tập hợp của các môn học ( xét về cách sắp xếp các môn
học)
- CTĐT là cái được dạy bên trong, và ngoài trường học nhưng được đònh
hướng bởi nhà trường ( nhìn từ góc độ xà hội ).
- CTĐT là cái mà người học trải qua như một kết quả giáo dục – đào tạo
(nhìn từ góc độ của người học ).
- V.v…
Như vậy, tương tự như khái niệm giáo dục , khái niệm chương trình đào
tạo có thể hiểu theo nghóa rộng và nghóa hẹp.Trong phạm vi nghiên cứu mà đề
tài đặt ra , chúng ta chỉ giới hạn khái niệm chương trình đào tạo theo nghóa hẹp
là tập hợp các môn học được dạy trong nhà trường [5]. Chương trình đào tạo
theo nghóa hẹp được xem là chương trình khung đào tạo. Chương trình đào tạo
nói chung và chương trình đào tạo liên thông nói riêng thường được xây dựng
theo một quy trình nhất đònh.
Trước khi bước vào thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo,
chương trình đào tạo liên thông chúng ta xem xét khái niệm xây dựng chương
trình đào tạo, xây dựng chương trình liên thông .
1.3.2- Khái niệm xây dựng chương trình đào tạo liên thông:
Xây dựng chương trình liên thông là nhằm tạo ra hệ thống các vấn
đề tạo điều kiện cho các bậc học và các nghề liên thông được với nhau.
Các vấn đề nêu trên là cơ chế liên thông, công nhận và chuyển đổi
tín chỉ kết quả học tập, quản lý đào tạo… Các vấn đề này liên kết với nhau 24
thành một hệ thống chặt chẽ đảm bảo quá trình liên thông diễn ra thông
suốt và theo trật tự qui đònh [4].
1.4 Thiết kế quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông.

Vận dụng vòng quản lý chất lượng Deming , Richard A. Swanson [ 33 ],
đã đưa ra quy trình xây dựng chương trình đào tạo gồm 5 giai đoạn:
1 Phân tích ( Analyze ) : nhằm xác đònh được nhu cầu đào tạo
2 Thiết kế ( Design ) : Thiết kế chương trình đào tạo và các bài học.
3 Triển khai ( Develop ) : triển khai cơ sở vật chất và phương pháp giảng
dạy.
4 p dụng ( Implement ) : Thực hiện chương trình đào tạo.
5 Đánh giá ( Control ) : Đánh giá chương trình đào tạo.
Theo Tác giả William Blank [32] chương trình xây dựng trải qua 11 bước:
1. Xác đònh và mô tả các đặc điểm của nghề
2. Xác đònh những yêu cầu chính của đối tượng người học
3. Xác đònh các công việc của nghề
4. Phân tích các công việc của nghề và bổ sung những kiến thức (chuyên
đề) cần thiết
5. Viết mục tiêu thực hiện của các công việc
6. Sắp xếp theo thứ tự các công việc và các mục tiêu thực hiện
7. Phát triển các bài kiểm tra thực hiện (thực hành)
8. Phát triển các bài kiểm tra kiến thức (lý thuyết)
9. Phát triển các hình thức hướng dẫn học tập
10. Phát triển các hệ thống quản lý việc học tập
11. Bổ sung và đánh giá chương trình đào tạo
Theo TS. John Collum (Trung tâm Giáo dục và Đào tạo lao động thuộc
Đại học Ohio, tiểu bang Ohio của Hoa kỳ ) đưa ra CTĐT nghề theo CDOT
(Curriculum Development for Occupational Training) trong hội thảo về “Xây
dựng chương trình và phát triển giảng dạy” tổ chức 17/8/1993 tại Columbo,
Srilanka:
1. Phân tích nhu cầu đào tạo
2. Nghiên cứu về nghề

Trích đoạn Xaực ủũnh múc tiẽu ủaứo táo Thửùc tráng ủaứo táo ngaứnh vaọn haứnh maựy taứu bieồn tái Trửụứng Trung Hóc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status