CA DAO
Phân tích ý nghĩa và tính biểu cảm hai bài ca dao:
"Thân em như tấm lụa đào" và "Thân như củ ấu gai".
Bài làm
1. Có biết bao bài ca dao nói về "thân em", nói về thân phận
cuộc đời của cô gái nơi thôn xóm đồng quê, sau bờ dâu ruộng lúa:
"Thân em như tấm lụa đào,
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai".
Lụa đào là lụa hồng, rất đẹp rất quý. So sánh "Thân em như
tấm lụa đào", o thôn nữ tự hào về nhan sắc xinh đẹp của mình, một
vẻ đẹp mơn mởn đào tơ. Câu thứ hai biểu lộ nỗi niềm băn khoăn,
bâng khuâng của thiếu nữ về chuyện tình duyên, chuyện gia thất
tương lai: "Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai". "Ai" là đại từ nhân
xưng phiếm chỉ, là anh trai cày xóm dưới làng trên. Câu hỏi thể
hiện ít nhiều băn khoăn. Ngày xưa, cha mẹ "đặt đâu con ngồi đó",
không có chuyện tự do yêu đương, nên cô gái đến tuổi "cập kê"
mới có nỗi niềm ấy.
2. Bài ca dao thứ hai, cô gái làng quê chân lấm tay bùn, mộc
mạc chất phác lại có cách ví von khác:
"Thân em như củ ấu gai,
Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen".
Củ ấu gai thường có hai, ba sừng, có nhiều ở đồng sâu, đồng
trũng, ao dưới đìa trên. Vỏ ấu thì đen, cơm ấu, ruột ấu thì trắng.
Hai tính từ "trắng" và "đen" tương phản. Qua đó, o thôn nữ tự
hào nói về mình: em đen là đen giòn, vì siêng năng hay lam hay
làm, dầm mưa dãi nắng nên nước da em "đen"; đen mà khoẻ mạnh
đảm đang, đen mà trinh trắng tâm hồn.
Con gái ở đâu, thời nào cũng vậy, có cô "mỏng mày hay hạt",
"cổ kiêu ba ngấn", "má phấn môi son", "tóc liễu mày ngài", Có
cô lại nước da bánh mật, đen giòn, Qua cách so sánh, cô gái tự
hào về cái "duyên thầm" của mình, về tâm hồn của mình. Không
"những lo phiền", là "không yên một bề". Nghệ thuật sử dụng điệp
ngữ rất đặc sắc, đã làm nổi bật tình thương nhớ, nỗi lo phiền lớp
lớp dâng lên trong lòng thiếu nữ, có lúc thao thức thâu canh. Sáu
chữ "khăn", hai chữ "đèn", hai chữ "mắt"; chữ "thương", chữ
"nhớ" đều được láy lại năm lần; các chữ "lo", "không yên", "lo
phiền" xoắn lại như cuộn tơ vò. Hai câu lục bát cuối bài ca dao vừa
làm cho nhịp thơ giãn ra, vừa diễn tả tiếng thở dài khẽ cất lên trong
tâm hồn "em":
"Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề".
"Một bề" ở đây là chuyện tình duyên, chuyện chồng con sắp
tới. Thương, nhớ, lo, phiền là tâm trạng của "em". Có yêu nhiều, có
tự ý thức về thân phận mình, tình duyên mình mới có tâm trạng ấy.
"Khăn thương nhớ ai" là một viên ngọc đẹp trong ca dao Việt
Nam.
2. Ngày xưa có anh trai cày từng mơ ước:
"Ước gì anh lấy được nàng,
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân"
Bài ca dao này lại nói lên điều mơ ước của thôn nữ:
"Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi".
Một cách nói quá, nói giảm thật ý nhị, đậm đà: "sông rộng
một gang". Cũng nói đến chuyện "bắc cầu". Vì là "cầu ái cầu ân"
nên không cần cầu khỉ, câu tre lắt lẻo, câu treo, cầu mây mà chỉ
là cầu dải yếm. "Sông rộng một gang" thì chỉ cần "cầu dải yếm" là
đủ, là vừa, là khéo. "Cầu dải yếm" là một hình ảnh độc đáo bậc
nhất, trữ tình bậc nhất trong ca dao dân ca. Cách sông nhưng chẳng
phải lụy đò vì đã có cầu dải yếm "để anh sang chơi", để đôi ta trao
Lo vì một nỗi không yên một bề".
Bài làm
Ca dao nói về tình yêu trai gái có muôn hình nghìn vẻ. Có
tiếng hát tự tình giao duyên. Có lời giã bạn muôn vàn thiết tha lưu
luyến. Có tương tư thương nhớ chờ mong. Bài ca dao "Khăn
thương nhớ ai" là một khúc tương tư của thiếu nữ, mà "sầu đong
càng lắc càng đầy", càng thương càng nhớ, càng nhớ thương càng
lo phiền thao thức.
1. Bài ca dao gồm có 12 câu. Mười câu đầu viết theo thể nói
lối, mỗi câu có 4 chữ. Khăn, đèn, mắt là 3 hình ảnh ẩn dụ - hoán dụ
- nhân hoá thể hiện tình thương nhớ người yêu của cô gái đa tình.
Hai câu cuối viết theo thể lục bát nói lên nỗi lo phiền của thiếu nữ
tương tư.
a. Sáu câu đầu nói về "khăn", lấy khăn để giãi bày tâm sự
thầm kín. Ba câu hỏi tu từ liên tiếp xuất hiện: "Khăn thương nhớ
ai Khăn thương nhớ ai Khăn thương nhớ ai ". Mỗi lần lại có
một cách thổ lộ khác, tất cả đều biểu lộ một nét tâm trạng "thương
nhớ" day dứt khôn nguôi rất điển hình.
"Thương nhớ" bổi hổi bồi hồi, chân tay uể oải, buồn quá
không muốn cử động khác nào "khăn rơi xuống đất". Có lúc nỗi
"thương nhớ" cồn cào ruột gan, đứng ngồi không yên tựa như
"khăn vắt lên vai". Lại có khi "thương nhớ" lớp lớp sóng dồi, càng
nhớ thương càng buồn tủi, cô đơn. Bao nhiêu lệ đã tuôn rơi và chỉ
biết "khăn chùi nước mắt". Có yêu lắm mới nhớ nhiều. Càng
thương nhớ càng buồn cô đơn, và chỉ biết khóc thầm như ai đó:
"Nhớ ai, em những khóc thầm,
Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa".
ở đây, "khăn" là khách thể trữ tình, là đối tượng để cô gái đa
tình, si tình cùng tâm sự, cùng giãi bày, cùng thổ lộ, để san sẻ nỗi
thương nhớ đầy vơi trong lòng. "Khăn" đồng thời là ẩn dụ; lòng
" Trăng soi trước mặt ngờ chân bước,
Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào.
Một nước một non, người một ngả,
Tương tư không biết cái làm sao !"
("Tương tư")
Tản Đà, một thi sĩ phong tình:
" Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy,
Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.
Tương tư một mối hai người biết,
Ai đọc thơ này đã biết chưa ?"
("Ngày xuân tương tư")
Xuân Diệu đa tình, đắm đuối:
"Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm ! Em ơi !".
("Tương tư chiều")
Và Nguyễn Bính mộng mơ:
"Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai hỏi ai người biết cho "
("Tương tư")
Đọc lại một đôi vần thơ viết về tương tư, ta càng cảm thấy cái
ý vị thương nhớ lo phiền của thiếu nữ được thể hiện trong bài ca
dao "Khăn thương nhớ ai", một bài ca dao rất độc đáo, lúc nào đọc
cũng cảm thấy rất hay và mới mẻ. Phải chăng vì thế mà nhà văn
Hoài Thanh đã ca ngợi "là một trong những câu ca dao hay nhất
của Việt Nam".
2. Sau khi mượn "khăn", "đèn", "mắt" để giãi bày, thổ lộ tình
"thương nhớ", nỗi buồn tương tư, cô gái nói lên nỗi "lo phiền" của
mình:
"Đêm qua em những lo phiền,
Lo vì một nỗi không yên một bề".