BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Lê Thị Ngọc Thảo
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
HUYỆN MỎ CÀY, TỈNH BẾN TRE LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VÕ VĂN NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 20113
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô Ban Giám hiệu trường Đại học
sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, quí Thầy, Cô ở phòng sau đại học, Thầy , Cô
trong khoa Tâm lý-giáo dục, quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý
giáo dục Khoá 19 của trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình
giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành .ăn. Đặc biệt chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với người
hướng dẫn khoa học:
TS. Võ Văn Nam, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên chúng tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở Gíáo dục và đào tạo Bến Tre,
lãnh đạo huyện Mỏ Cày; xin cảm ơn Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp thuộc 6
trường trung học phổ thông huyện Mỏ Cày – Bến Tre, các cơ quan, ban ngành,
GDCD : Giáo dục công dân
GDĐĐ : Giáo dục đạo đức
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GV : Giáo viên
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HS : Học sinh
HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
NXB : Nhà xuất bản
QLGD : Quản lý giáo dục
SHDC : Sinh hoạt dưới cờ
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TDTT : Thể dục thể thao
XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
5
MỤC LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục toàn diện. Ngày 21 tháng 10 năm 1964, khi về thăm trường đại học sư
phạm Hà Nội, Bác Hồ đã dạy:“Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một
bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ
nghĩa. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức cách
mạng, đó là cái gốc quan trọng”.
Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là: Nhằm xây dựng những con
người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội, có đạo
trạng học sinh THPT sa sút về mặt đạo đức ngày càng có chiều hướng gia tăng. Bên
cạnh đó, công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức còn nhiều hạn chế, cần được
nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm để tìm ra những vấn đề cần giải quyết và xác định
những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh. Xuất
phát từ những vấn đề trên , tác giả chọn “Thực trạng công tác quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến
Tre” làm đề tài luận văn Thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu:
-Xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
-Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre trong giai đoạn hiện nay.
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
-Khách thể: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục toàn diện cho
học sinh trường THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre .
-Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre .
8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông.
-Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh tại các trường THPT huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
-Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT trong huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
5. Giả thuyết khoa học:
Giả thuyết 1: Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng
các trường THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre thực hiện khá tốt việc xây dựng kế
hoạch giáo dục đạo đức; công tác kiểm tra , đánh giá được tiến hành thường xuyên,
học, những nhận định, đánh giá của các chuyên gia giáo dục, cán bộ quản lý có
nhiều kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức ở trường THPT .
-Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê SPSS 11.5
nhằm xử lý các kết quả đã khảo sát.
7.Những đóng góp mới của luận văn:
-Góp phần bổ sung cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh cấp THPT.
-Đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và khách quan về thực trạng quản lý
hoạt động giáo dục đạo đức ở các trường THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
-Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre .
10
8. Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung của luận văn được chia thành 3 phần như sau:
UChương I:U Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho học sinh THPT.
UChương IIU: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh THPT ở huyện Mỏ Cày , tỉnh Bến Tre.
UChương IIIU: Các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
THPT ở huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những
nguyên tắc,yêu cầu,chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con người trong các
thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người.
2TKhổng tử đặt lên hàng đầu
nhân cách và đạo đức của người dạy, sự làm gương quan trọng hơn lời giảng (Thân
giáo trọng ư ngôn giáo). Ông xây dựng học thuyết “Nhân-Trí-Dũng”, trong đó,
“ Nhân” là lòng thương người-là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con
người.Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, ông có chủ trương nổi tiếng
truyền lại đến ngày nay “ Lễ trị”. Lấy “Lễ” để ứng xử ở đời. Muốn vậy , mỗi người
phải biết tu thân làm gốc.[33]
Ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo
đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thì
con người sẽ có hạnh phúc. Theo ông, muốn xác định được chuẩn mực đạo đức phải
bằng nhận thức lý tính với phương pháp khoa học .
Aristoste (384-322 TCN) xem đạo đức là cái thiện của cá nhân, còn chính trị là
cái thiện của xã hội.
Thế kỷ XVII, Komenxky (1592-1670)- Nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã
có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm “ Khoa sư phạm vĩ
đại”. Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở cho nền
giáo dục hiện đại sau này. Komensky có khả năng như là bẩm sinh trong việc nắm
bắt tâm lý trẻ em và hiểu được cả những khía cạnh tinh vi nhất của tâm hồn trẻ. Ông
nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ
em như những cây non trong vườn ươm: “Để cây đó lớn lên một cách lành mạnh,
nhất thiết phải được sự quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót…”.Komensky có một
quan niệm triết lý nổi bật về sự hòa nhập giữa con người và thế giới tự nhiên và ông
cực lực phản đối việc dùng bạo lực đối với trẻ em. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các
nhà giáo và tất cả những ai làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gương
13
trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một
cách chân chính…”. Ông coi những trẻ em yếu kém về học tập và hạnh kiểm như là
những trái chín muộn, nếu ta biết cách giáo dục và kiên trì giáo dục thì cũng sẽ đem
tập thể và giáo dục cá nhân. Ông đã nêu lên nhiều kinh nghiệm phối hợp các lực
lượng giáo dục xã hội, gia đình, nhà trường, tận dụng những điều kiện xã hội, tự
nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ. Những tác phẩm về giáo dục đạo đức như
"Giáo dục con người chân chính như thế nào", "Giáo dục cộng sản đối với lao động"
vẫn được sử dụng và có giá trị to lớn trong công tác giáo dục thế hệ trẻ.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam:
Phải khẳng định rằng đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách.
Vì vậy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của các cấp chính quyền,
các nhà giáo dục và của toàn xã hội. Việt Nam là đất nước có truyền thống dân tộc
với nhiều giá trị tốt đẹp, đã trở thành những giá trị triết học Việt Nam. Đó là
phương châm: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau
cùng”, là “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, là “Cái nết đánh
chết cái đẹp” Từ các triều đại phong kiến trước đây, các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc đã được lưu vào sử sách, trở thành những nội dung giảng dạy trong
các trường học thời bấy giờ.
Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nước ta có nhiều sách dạy về luân
lý, dạy làm người, dạy giao tiếp. Đó là của các tác giả: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của, Đỗ Thận, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Hữu Độ, Lê Văn Siêu, Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Các tác phẩm được dùng làm
sách giáo khoa, sách dùng cho người dạy, sách đọc ở nhà Trong đó có “Phong hóa
điều hành”, “Cờ bạc nha phiến”, “Huấn nữ ca” (dịch), “Gia huấn ca” (dịch) của
Trương Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Đạo đức và luân lý” của
Phan Chu Trinh. [37].
Phan bội Châu, trong tác phẩm “Khổng học đăng”, với quan điểm tiến bộ đã
đúc kết những tinh hoa của Khổng học, chắt lọc tính nhân bản sâu sắc, phát huy
15
những phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và xã hội. Nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm là những đức tính cần phải được mọi người trau dồi,
bằng văn kiện mang ý nghĩa chỉ đạo sâu sắc là “ Mục tiêu chủ yếu là giáo dục toàn
diện, đức dục , trí dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính
trị tư tưởng, nhân cách , khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành”.[35]
Nghị quyết TW II còn nhấn mạnh “ Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ
bản quan trọng nhất cho sự toàn diện của đất nước, coi trọng nhân cách , lý tưởng
và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành”. [35]
Rõ ràng với tư tưởng này, Đảng và Nhà nước ta đã đặt con người vào vị trí
trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.Thấm nhuần quan điểm này, nhà
trường chúng ta đã coi nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh trở thành một trong
những nhiện vụ trọng tâm. Lý tưởng giáo dục của nhà trường không ngoài mục đích
hình thành và phát triển nhân cách cao đẹp cho học sinh. Đó là con đường tham gia
tích cực vào sự tiến bộ của xã hội.
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công
phu.Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiêm; giáo trình đạo đức học, GS-TS
Nguyễn Ngọc Long- chủ biên, Phạm Khắc Chương- Hà Nhật Thăng; Giáo trình đạo
đức học Mác-Lê nin, PGS-TS Vũ Trọng Dung chủ biên.
Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được rất nhiều tác giả nghiên cứu:
-Thứ trưởng Võ Thuần Nho viết bài “ Một số vấn đề lý luận và tư tưởng về
giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học”. Báo nghiên cứu giáo dục số 6/1980;
-Đặc trưng của đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức ( Hoàng An-1982);
-Giáo dục đạo đức trong nhà trường (Hà Thế Ngữ-Đặng Vũ Hoạt,1988);
-Tác giả Đặng Vũ Hoạt với bài “Đổi mới công tác của giáo viên chủ nhiệm với
việc giáo dục đạo đức cho học sinh”. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 8/1992;
-Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế
thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên,1994);
-Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức ( Nguyễn Sinh Huy, 1995);
-Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc-1997 );
17
-Tác giả Phạm Khắc Chương-Thiều Thị Hường với bài “ Thực trạng và một số
quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở các
trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp” , năm 2006;
-Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục : “Một số giải
pháp công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường THPT huyện
Cẩm Xuyên-Hà Tĩnh”, năm 2008.
…
Nhìn chung, trong những năm qua giáo dục đạo đức trong nhà trường của
nước ta được quan tâm rất nhiều.Các công trình trên đã phân tích vấn đề dưới nhiều
góc độ khác nhau, rất đa dạng , phong phú và có chiều sâu. Các hội thảo khoa học
về giáo dục đạo đức cho học sinh trung học, cho sinh viên đại học đã được tổ chức
ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành. Tuy nhiên, ở tỉnh Bến Tre nói chung và
huyện Mỏ Cày nói riêng về lý luận và thực tiễn vấn đề này chưa được nghiên cứu
một cách có hệ thống dựa trên đặc điểm đặc thù của địa phương.Vì vậy qua đề tài
này chúng tôi mong rằng sẽ giúp cho hiệu trưởng các trường THPT tìm ra được
nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức ở trường phổ thông trong tỉnh nhà.
1.2. Một số khái niệm cơ bản:
1.2.1. Đạo đức:
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức:
Đạo đức là một phạm trù lịch sử có tính giai cấp thuộc lĩnh vực đời sống tinh
thần, là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc, có cơ sở tồn tại xã hội.
Theo tác giả Trần Hậu Kiêm:“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt,
bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội.
Nó ra đời,tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh
hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích , hạnh phúc của con người và sự tiến bộ
19
xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”
[23].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin:“Đạo đức là một hình thái ý thức
qua lại giữa xã hội và cá nhân để chuyển hoá những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn
mực,giá trị đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân, làm cho cá
nhân đó trưởng thành về mặt đạo đức , công dân và đáp ứng yêu cầu xã hội.
Đạo đức có các chức năng cơ bản là:
-Chức năng nhận thức;
-Chức năng giáo dục;
-Chức năng điều chỉnh hành vi.
Ba chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau: có nhận thức đúng về xã hội,
về những quan điểm , những hành vi, những chuẩn mực đạo đức thì mới giúp con
người định hướng được lý tưởng, tình cảm, thái độ ứng xử với cộng đồng và môi
trường, mới hình thành được những quan điểm, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo
đức cơ bản được xã hội chấp nhận, mới thấy được giá trị của nó.Từ đó, con người
mới có khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng
như tự đánh giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân mình để điều chỉnh
hành vi của mình theo đúng chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Như vậy, đạo đức tồn tại trong mọi dạng ý thức, hoạt động và giao lưu ,trong
toàn bộ hoạt động sống của con người trong suốt thời gian tồn tại và phát triển của
họ, dù diễn ra trong hoàn cảnh và điều kiện nào, mọi hình thái ý thức hoạt động và
giao lưu nếu được ý thức đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất và nội dung của
quan hệ đạo đức đều có khả năng ảnh hưởng đến sự hình thành mặt đạo đức của
nhân cách.
Chính vì vậy, trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay, với nền kinh
tế mở cửa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN, đạo đức cũng có những thay đổi nhất định về tư duy nhận thức, về
quan niệm và cách nhìn của từng thành viên trong xã hội. Nhiều người đã có những
quan niệm lệch lạc, không biết chọn lọc những giá trị tốt đẹp của những chuẩn mực
21
đạo đức xã hội mà học đòi , lai căng. Do vậy, định hướng giá trị đạo đức hiện nay
phải theo đúng đường lối lãnh đạo của Đảng là sự kế thừa những truyền thống tốt
phẩm chất,quan điểm,niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất ,
thẩm mỹ, lao động. [22]
Trong luận văn này , giáo dục được hiểu như một quá trình sư phạm tổng thể:
là hoạt động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong các cơ
sở giáo dục tác động đến học sinh nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ…cho học sinh.
*Các chức năng của giáo dục:
-Chức năng văn hoá tư tưởng
-Chức năng kinh tế- sản xuất
- Chức năng chính trị- xã hội.
*Các con đường giáo dục:
-Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp.
-Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
1.2.3. Giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một quá trình giáo dục bộ phận của quá
trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ
phận khác như : giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao
động, giáo dục hướng nghiệp…
Giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành và phát triển các phẩm
chất đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục
đích được tổ chức có kế hoạch , có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình
thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục.Từ đó,
giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá
nhân với cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên…Nội dung
phẩm chất đạo đức, tư tưởng của con người bao gồm lập trường chính trị, thế giới
quan và phẩm chất đạo đức. Do đó giáo dục đạo đức mà ta nói đến bao gồm giáo
23
dục thế giới quan, nhân sinh quan , giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục các
phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người mới cho học sinh. Như vậy, giáo dục đạo
đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị , tư tưởng và giáo dục pháp luật.
đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
-Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển , điều hành.
Theo C. Mác,quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao
động, nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua
hoạt động của con người và thông qua quản lý .C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi
lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối
lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân
và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế
sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng”. [42]
Từ những cơ sở lý luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:
“Quản lý là tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng
đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan”. [42]
Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
-Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp
nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý ,các khách thể khác chịu các tác
động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần.
-Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng
và khách thể quản lý. Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng.
-Chủ thể quản lý phải thực hành việc tác động và phải biết tác động. Vì thế
chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả.
-Chủ thể có thể là một người, một nhóm người; còn đối tượng có thể là con
người (một hoặc nhiều người), giới vô sinh hoặc giới sinh vật.
Quản lý còn có tác dụng định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác
định mục tiêu và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân, của tổ chức vào mục tiêu
25
chung đó.Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân
trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý đã xác định. Tạo ra động