Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy của hiệu trưởng các trường THPT tỉnh An Giang - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
_________________

Nguyễn Quốc Khanh
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TÚY
CỦA HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH AN GIANG Chuyên ngành : Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ BÍCH HẠNH


Nguyễn Quốc Khanh

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh
trên thế giới. Cơ chế kinh tế thị trường, hội nhập với thế giới đã có những tác động tích cực tới đời
sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Bên cạnh đó, mặt trái của cơ chế thị trường đã bộc bộ và
ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xã hội, một trong những ảnh hưởng tiêu cực của hội nhập và giao
lưu thế giới là sự du nhập nhanh chóng các hiện tượng lạm dụng và sử dụng chất ma túy. Trường học
cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng tiêu cực của hội nhập nói chung và của ma túy nói riêng. Tác
động của ma túy tới học đường là mối nguy hiểm tiềm ẩn và gây nên những hậu quả không chỉ đối với
bản thân học sinh (HS) bị nghiện mà còn cả với gia đình các em và toàn xã hội.
Hiện nay, tình trạng nghiện ma túy và các tội phạm liên quan đến ma túy thật sự là mối đe dọa
an ninh, trật tự của toàn xã hội. Tệ nạn ma túy đã và đang trở thành hiểm họa của xã hội, là nỗi lo lắng

Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trưởng một số trường
trung học phổ thông (THPT), tìm ra nguyên nhân và đề xuất một số biện pháp quản lý góp phần nâng
cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trưởng các trường THPT tại tỉnh
An Giang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động giáo dục ở các trường THPT tỉnh An
Giang.
3.2- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu
trưởng các trường THPT tỉnh An Giang.
4. Giả thuyết khoa học
4.1- Trong những năm qua, công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh An Giang đã đạt được một số kết quả. Song, thực tế công tác này còn gặp nhiều khó
khăn và hạn chế nhất định.
4.2- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác quản lý của Hiệu trưởng ở các
trường THPT, trong đó phải kể đến những nguyên nhân chủ yếu là: chỉ đạo việc tuyên truyền nhận
thức về tác hại của ma túy cho học sinh THPT còn quá ít thời gian; chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong tham gia hoạt động giáo dục PCMT; Hiệu
trưởng các trường THPT đôi lúc còn chủ quan trong việc chỉ đạo, kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch
hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường.
4.3- Cho nên, cần có những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục PCMT hợp lý nhằm khắc
phục những hạn chế nêu trên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trưởng
các trường THPT.
5.2. Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục PCMT ở một số trường THPT tỉnh
An Giang.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động
giáo dục PCMT ở các trường THPT tỉnh An Giang.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1- Phương pháp nghiên cứu lý luận : Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các loại tài liệu, sách

1.1.1.1. Các nước Châu Á
Ở Thái Lan, Luật PCMT đã có từ cuối những năm 1950. Ủy ban bài trừ ma túy của phủ thủ
tướng được thành lập từ cuối những năm 1960. Năm 1982, nhà nước lại thành lập ủy ban đặc biệt trấn
áp hoạt động buôn bán ma túy ở biên giới Thái-Miến (Thái Lan-Myanma). Trong những năm gần đây,
việc lạm dụng ma túy ở Thái Lan đã đến mức báo động, đặc biệt trong HS, SV. Chính phủ Thái Lan đã
thực hiện chương trình “Trường học trắng” trong trường phổ thông nhằm đưa nhà trường và xã hội
xích lại gần nhau hơn. [32]
Các nước Myanmar, Malaixia, Singapore, Brunay, Indonesia, Philippine đều có luật PCMT
và cơ quan chuyên trách PCMT. Nhìn chung luật pháp các nước đều có hình phạt nặng đối với những
kẻ buôn bán hoặc tàng trữ ma túy phi pháp. Trong pháp lệnh chống ma túy đều có án tử hình. Malaixia,
Singapore triển khai công tác giáo dục PCMT thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thành lập
đội thiếu niên tuyên truyền PCMT trong và ngoài nhà trường; tập huấn cán bộ chuyên môn giảng dạy,
biên soạn tài liệu về vấn đề ma túy và phụ trách công tác PCMT trong nhà trường; tăng cường lồng
ghép các nội dung về ma túy và tác hại của ma túy trong các môn học có liên quan để nâng cao ý thức
PCMT trong học sinh.[15, Tr.10]
1.1.1.2. Các nước Châu Mỹ
Mỹ là nước tiêu thụ ma túy lớn nhất thế giới, vấn đề ma túy nghiêm trọng hơn bất cứ quốc gia
nào. Luật chống ma túy Liên bang sớm nhất nước Mỹ là “ pháp lệnh Halition” năm 1914. Năm 1930
chính phủ liên bang thành lập cục chống ma túy trong Bộ Tài chính, tiến hành quản lý chất ma túy,
heroine, cocaine đang lạm dụng lúc đó. Năm 1937, Chính phủ liên bang thông qua “ Pháp lệnh thu thuế
đại ma” hạn chế mở rộng đại ma. Năm 1986, Quốc hội Mỹ thông qua “ pháp lệnh chống lạm dụng ma
túy”, lần đầu tiên đưa ra về mặt pháp luật một cách toàn diện đối với vấn đề lạm dụng ma túy và vấn đề
buôn lậu ma túy. Năm 1986, nhà trường ở nước Mỹ phải là nhà trường không có ma túy. [16, Tr.157]
Các nước Trung và Nam Mỹ đều có luật chuyên về chống ma túy và áp dụng luật hình sự để
trừng trị các loại hoạt động tội phạm vi phạm pháp lệnh cấm ma túy. Những năm 1970 đến nay, luật
cấm ma túy là một loại luật pháp chủ yếu được coi trọng ở các nước, phần lớn các nước đều có cơ quan
chấp pháp chống ma túy.[16, Tr.158]
Nhìn chung, các nước Trung và Nam Mỹ rất coi trọng công tác giáo dục PCMT. Từ năm 1990,
Bộ Giáo dục Pêru bắt đầu triển khai hoạt động chống lạm dụng ma túy trong HS, yêu cầu phụ huynh
HS và GV tích cực phối hợp thực hiện công tác này. Braxin tiến hành tuyên truyền PCMT, thông qua

Ai đã trồng thì phải phá đi, người nào chứa giữ thì phải hủy đi”. [30, Tr.470]
Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) có quy định thêm những hình phạt cụ thể đối với tội phạm ma
túy: gieo trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện. Năm Tự Đức thứ ba (1840), quy định
hình phạt tử hình đối với tội phạm ma túy nghiêm trọng và chú trọng biện pháp điều trị cho người
nghiện hút thuốc phiện. Đặc biệt là vấn đề khen thưởng hậu hỉ cho những người có công phát hiện hoặc
tố giác đúng tội phạm ma túy.
Trong thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp (1858- 1954), công tác PCMT không được chú trọng.
Các cấp chính quyền bấy giờ không hề quan tâm đến việc phòng chống thuốc phiện, tình trạng gieo
trồng, tàng trữ, buôn bán và nghiện hút thuốc phiện ở nước ta lại phát triển. Chính vì vậy, tệ nạn nghiện
hút thuốc phiện làm cho nhiều gia đình tan nát, nhiều người rơi vào hoàn cảnh túng quẩn, sức khoẻ bị
hủy hoại, trí tuệ cạn kiệt... [15, Tr14]
Sau thành công của Cách mạng tháng Tám (1945), mặc dù chính quyền cách mạng còn non trẻ
song vấn đề đấu tranh với tệ nạn thuốc phiện đã được Chính phủ rất quan tâm: Chính phủ đã cấm việc
trồng trọt, buôn bán và sử dụng thuốc phiện ngoài danh mục y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị rõ
ràng trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước:“Cuối cùng tôi đề nghị cấm hút thuốc phiện”. Nghị
định số 150/TTg của Chính phủ ban hành ngày 12/3/1952 ấn định chế độ tạm thời về thuốc phiện;
Ngày 22/12/1952, Chính phủ lại ban hành Nghị định mới số 225/TTg sửa đổi lại Nghị định 150/TTg.
Nhìn chung, đây là cơ sở pháp lý đầu tiên của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh chống thuốc phiện nói
chung.[36]
Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, ở miền Bắc XHCN, tệ nạn trồng, hút thuốc phiện đã căn
bản xóa bỏ được. Trong khi đó, ở Miền nam thời Mỹ- Ngụy, nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy rất phát
triển ở Sài gòn, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ ...
Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (năm 1975) Đảng và Nhà nước ta tiếp tục
chủ trương bài trừ nạn trồng trọt, chế biến, sử dụng các chất ma túy. Cuộc đấu tranh chống nạn ma túy
đã đạt được nhiều kết quả từ năm 1975- 1984. Nhưng từ giữa thập kỷ 80, do việc buông lỏng quản lý
của Nhà nước và gia đình nên tệ nạn ma túy có cơ hội phát triển. Vì thế, để kịp thời ngăn chặn tệ nạn
này ngày 08/4/1991, Chính phủ ra Nghị quyết số 99/CT về việc vận động nhân dân không trồng cây
anh túc.[16]
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản để chỉ đạo công tác
PCMT, cụ thể như:

tìm ra nguyên nhân, đề xuất các biện pháp quản lý có tính khả thi giúp người quản lý đạt hiệu quả cao
trong hoạt động PCMT xâm nhập vào trường học, góp phần thực hiện thắng lợi chương trình hành
động PCMT giai đoạn 2001-2005 của Chính phủ.
Trong tạp chí “phòng chống ma túy” của Ủy ban quốc gia PCMT xuất bản do Đại tá Bùi Xuân
Biên, Trung tá-PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm biên tập được phát hành hàng tháng. Các tác giả đã nêu lên
nhiều vấn đề có liên quan đến ma túy. Nó cần thiết và bổ ích cho công tác quản lý hoạt động giáo dục
PCMT trong các nhà trường hiện nay.
Ngoài ra, còn có nhiều khóa luận, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này. Hầu hết các công
trình tập trung nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề ma túy. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn
tỉnh An Giang, trong phạm vi các trường THPT, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác quản lý
hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trưởng. Vì vậy, trong đề tài này, chúng tôi khảo sát thực trạng một
số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục PCMT của Hiệu trường ở một số trường THPT trên địa bàn
tỉnh An Giang.
1.2. Lý luận về hoạt động giáo dục PCMT ở trường THPT
1.2.1. Khái niệm ma túy
Trong Từ điển tiếng Việt, “ ma túy” mới được đề cập trong thời gian gần đây song vấn đề nhận
thức về thuật ngữ ma túy hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau:
Ma túy, theo gốc Hán- Việt, có nghĩa là “làm mê mẩn”. Thuật ngữ chất ma túy (gốc Hy lạp:
Narcotikos) ban đầu được dùng để chỉ các chất có tác dụng gây ngủ, gây mê, ngày nay dùng để chỉ tất
cả các hợp chất tự nhiên và tổng hợp có khả năng gây nên bệnh nghiện. Theo cách hiểu này thì các chất
ma túy được định nghĩa là “Các chất ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm
nhập vào cơ thể con người sẽ gây tác dụng làm thay đổi trạng thái, ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người
đó. Nếu dùng lặp lại nhiều lần sẽ làm cho người dùng bị lệ thuộc vào nó, lúc đó gây tổn thương và
nguy hại cho cá nhân và cộng đồng”. [10, Tr.7]
Trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm ma túy rất đơn giản: Ma túy là các chất kích thích lấy từ
cây cần sa, dùng nhiều thành nghiện [7]. Theo giải thích của từ điển thì khái niệm ma túy được hiểu
đơn thuần chỉ là chất gây nghiện được lấy từ cây cần sa. Giải thích này chưa đầy đủ vì ngoài cần sa ra
còn nhiều loại cây khác hoặc các chất khác, các hợp chất khác có khả năng gây nghiện và đều được coi
là ma túy. [14, Tr.10]
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1982 thì ma túy được hiểu theo nghĩa rộng, là mọi thực

Năm Số người nghiện có hồ sơ quản lý
2005 158.000 người
2006 129.999 người
2007 178.305 người
2008 173.603 người
2009 146.731 người
Cuối năm 2009, cả nước có 4.788/11.017 xã, phường, thị trấn không có tệ nạn ma túy, chiếm
tỷ lệ 43,46% tổng số xã phường của cả nước, tỷ lệ này cũng gần bằng so với năm 2004 [1]. Hàng năm,
nhà nước phải chi hàng trăm tỷ đồng cho công tác PCMT ở Việt Nam, số tiền trên được dùng cho việc
chữa trị, cai nghiện, giáo dục nghề, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội sau chữa trị, cai nghiện
cho các đối tượng nghiện ma túy.[33] Cũng theo thống kê, tính đến cuối năm 2009, cả nước có trên
156.800 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có tới hơn 60% số người nhiễm bệnh qua tiêm
chích ma túy; hơn 40% các vụ án do người nghiện ma túy gây ra và 85,5% người nghiện ma túy có tiền
án, tiền sự.
Đặc biệt nghiêm trọng, ma túy đã lan vào học đường trên qui mô cả nước, đã có một bộ phận
HS và cả GV là nạn nhân của tệ nạn ma túy. Theo báo cáo tổng kết công tác phối hợp PCMT trong
trường học giai đoạn 2001-2005 của Bộ GDĐT thì số HS, SV có liên quan đến ma túy, cụ thể như sau:
[3, Tr.28]
Năm Số liệu HS-SV có liên quan đến ma túy
2000 1. 533 người
2001 1.376 người
2002 1.187 người
2003 979 người (trong đó: 503 HS, 177 SV, 299 GV)
2004 600 người
2005 1.234 người (riêng Sơn La có 333 HS, SV và GV)
Trong thời gian qua, công tác giáo dục PCMT trong các nhà trường đã được đẩy mạnh, bước
đầu số HS và GV nghiện ma túy và liên quan đến ma túy đã giảm nhưng chưa có cơ sở vững chắc và
đảm bảo sự ổn định, bền vững. Tệ nạn ma túy không chỉ hủy hoại sức khoẻ, đời sống vật chất và tinh
thần của bản thân người nghiện, mà còn gây tác hại nghiệm trọng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế-
văn hóa- xã hội của mỗi cộng đồng dân cư, mỗi quốc gia và toàn thế giới. Vì vậy, cần phải tổ chức các

Mặt khác, tổ chức Đoàn- Đội trong nhà trường chưa thực sự là lực lượng nòng cốt trong công
tác PCMT, chưa là nơi để các thành viên trao đổi với nhau những quan điểm về cuộc sống, những ước
mơ và hoài bão, về những mối quan tâm thường ngày giúp nâng cao nhận thức và hoàn thiện bản thân.
Tổ chức và kỷ luật của Đoàn - Đội ở cơ sở còn lỏng lẻo, sinh hoạt chỉ mang tính hình thức. Các nhà
trường thiếu các biện pháp kiên quyết về việc làm trong sạch môi trường trong và ngoài nhà trường,
chưa nắm chắc tình hình và đánh giá đúng thực trạng HS nghiên ma túy hoặc có nguy cơ nghiện ma túy
để có biện pháp phòng ngừa và đấu tranh ngăn chặn; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động
người dân tham gia PCMT.
1.2.3. Công tác giáo dục PCMT trong nhà trường
1.2.3.1. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường [26, Tr.62]
Vị trí: Giáo dục PCMT ở nhà trường phổ thông là một trong các hoạt động giáo dục có vị trí
quan trọng trong quá trình giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ trong giai
đoạn hiện nay. Với đặc điểm tâm lý cùng với sự thiếu kinh nghiệm sống của tuổi mới lớn, học sinh
đang là “con mồi” tấn công của tệ nạn ma túy, các em rất dễ bị lôi cuốn vào tệ nghiện hút, buôn bán ma
túy. Vì vậy, nhà trường phổ thông có nhiệm vụ kết hợp với gia đình và xã hội tổ chức các hoạt động
giáo dục có nội dung PCMT nhằm “miễn dịch” cho HS trước tệ nạn ma túy, để các em trở thành những
con người sống có bản lĩnh, luôn nói không với các tệ nạn xã hội nói chung và đặc biệt là tệ nạn ma
túy.
Vai trò: giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông có tác dụng nâng cao sức đề kháng của HS
trước một tệ nạn xã hội đang phát triển, hình thành ở họ một tâm thế đúng đắn trước những vấn đề liên
quan tới tệ nạn ma túy. Tổ chức giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông có hiệu quả sẽ góp phần
tích cực vào việc thực hiện mục tiêu chung xã hội không có ma túy.
1.2.3.2. Mục tiêu, nội dung giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông
a. Mục tiêu [26, Tr.63]
Giáo dục về mặt tri thức: giúp HS có những hiểu biết cần thiết về các chất ma túy, hiểu rõ tính
chất nguy hại của tệ nạn ma túy đối với bản thân, gia đình, nòi giống, cộng đồng xã hội và đất nước;
hiểu được hiện trạng về tệ nạn ma túy ở địa phương, trong nước và trên thế giới; hiểu được những thủ
đoạn lôi kéo, rủ rê các em vào con đường nghiện hút ma túy; hiểu và nắm vững luật pháp Việt Nam đối
với các tội phạm về ma túy. Từ đó, mỗi HS cần hiểu và biết cách phòng chống tệ nạn ma túy với đầy
đủ trách nhiệm của mình.

Giáo dục PCMT tích hợp, lồng ghép vào một số môn học trên lớp: thông qua việc tích hợp, lồng
ghép nội dung giáo dục PCMT vào nội dung giảng dạy, trước hết là các môn học có liên quan trực tiếp
ở trường THPT như: Sinh học, GDCD, Hóa học ... để cung cấp cho HS những hiểu biết về các vấn đề
có liên quan đến ma túy, tệ nạn ma túy; việc tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục PCMT vào các môn
học, cần đảm bảo những nội dung cơ bản, phù hợp của giáo dục PCMT, đồng thời đảm bảo đặc trưng
nội dung và tính hệ thống của các môn học; việc tích hợp được tiến hành một cách tự nhiên, nhẹ nhàng,
không gò bó; có thể tiến hành ở các mức độ khác nhau, tùy nội dung kiến thức có trong bài học.
Giáo dục PCMT thông qua HĐGDNGLL: hình thức lên lớp nội khóa với các nội dung tích hợp,
lồng ghép trong chương trình các môn học nhằm trang bị kiến thức về ma túy, xây dựng thái độ và
hành vi ứng xử phù hợp với lứa tuổi HS trong các nhà trường. HĐGDNGLL một mặt củng cố, mở
rộng, khắc sâu những hiểu biết đã có; mặt khác, quan trọng hơn là tạo ra sân chơi lành mạnh, cuốn hút
các em vào các hoạt động bổ ích, để các em không bị rủ rê vào các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn
nghiện ma túy. Các hoạt động cụ thể là: tổ chức các buổi nói chuyện với chủ đề PCMT, tổ chức báo
cáo ngoại khóa bộ môn về chủ đề PCMT; thi tìm hiểu về HIV/AIDS, về các tệ nạn xã hội, về PCMT
dưới các hình thức bài viết dự thi của cá nhân, hùng biện, kính vạn hoa, tiếp sức đồng đội...; tổ chức
các hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, các hoạt động xã hội, các hình thức sinh hoạt câu lạc bộ...
nhằm thu hút sự tham gia đông đảo của HS vào các hoạt động lành mạnh, bổ ích; tổ chức thi vẽ tranh
với chủ đề PCMT; tổ chức truyền thông PCMT, các tệ nạn xã hội vào các đợt cao điểm 26/6 ngày toàn
dân PCMT và ngày 1/12 ngày thế giới phòng chống HIV/AIDS; lập hộp thư vì “tương lai bè bạn” để
học sinh phát hiện cho nhà trường những bạn có biểu hiện sử dụng ma túy, chất gây nghiện...
1.3. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.3.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động mang tính xã hội, khoa học, nghệ thuật của chủ thể quản lý tác động lên
đối tượng quản lý, khách thể quản lý một cách hợp quy luật, qua các chức năng quản lý (lập kế hoạch,
tổ chức, điều khiển, kiểm tra) trong một hệ thống xác định nhằm làm cho hệ thống vận hành đến mục
tiêu quản lý đã định.
Theo Đại từ điển Tiếng việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB văn hóa thông tin, 1999; khái
niệm quản lý được định nghĩa là:
- Tổ chức và điều khiển các hoạt động của một số đơn vị, cơ quan.
- Trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì.

Theo PGS. TS. Đặng Quốc Bảo “ Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành,
phân phối các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã
hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở
thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ. Cho nên quản lý giáo dục
được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc
dân”. [34, Tr. 124]
Theo PGS. TS. Trần Kiểm “ Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có
ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,
công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”. [12, Tr. 37- 38]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo
đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt
Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự
kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [18, Tr.35]
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của
chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý ) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo
dục nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Quản lý giáo dục bao giờ
cũng phải được định hướng tới những mục đích, mục tiêu nhất định. Có thể khái quát khái niệm quản
lý giáo dục qua sơ đồ sau đây: [13, Tr. 9]

SƠ ĐỒ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
tạp khác trong nhà trường đều hướng vào mục tiêu này. Quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá
trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập- tự giáo dục của trò diễn ra trong quá trình dạy học
và giáo dục. Có thể nói rằng, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình dạy học- giáo dục.
1.3.4. Khái niệm về quản lý hoạt động giáo dục PCMT
Quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông là hệ thống các tác động có mục
đích của Hiệu trưởng tới CB, GV, NV và HS nhằm tổ chức hoạt động giáo dục PCMT đạt được mục
tiêu và kế hoạch giáo dục của nhà trường. [26, Tr.67]
1.3.5. Vai trò và nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường THPT [35]
Vai trò: Hiệu trưởng là người lãnh đạo nhà trường, chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của
nhà trường; là nhà sư phạm mẫu mực, nhà giáo dục có tâm hồn, hết lòng yêu mến trẻ; xây dựng mối
quan hệ tốt với địa phương, vận động toàn xã hội tham gia sự nghiệp giáo dục; là người lãnh đạo cấp
cơ sở trong sự nghiệp giáo dục và là người đi đầu trong phong trào nghiên cứu khoa học giáo dục.
Nhiệm vụ: là người tổ chức bộ máy của nhà trường; xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ năm học; quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý và tổ chức giáo dục học sinh; quản lý hành
chánh, tài chính, tài sản trong nhà trường; thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo
viên, nhân viên và học sinh.
1.4. Nội dung quản lý hoạt động giáo dục PCMT
Nội dung Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông được
trình bày theo cách tiếp cận các chức năng quản lý, nội dung cụ thể như sau:
1.4.1. Kế hoạch hóa hoạt động giáo dục PCMT ở trường THPT
Xây dựng kế hoạch là điểm khởi đầu cho một chu trình quản lý khoa học mà người quản lý
nào cũng phải thực hiện. Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục PCMT cũng phải bắt đầu từ việc xây
dựng kế hoạch. Đầu mỗi năm học, Hiệu trưởng chỉ đạo các bộ phận trong nhà trường xây dựng kế
hoạch công tác, trong kế hoạch đó có nội dung giáo dục PCMT; đặc biệt là kế hoạch của ban chỉ đạo,
kế hoạch tổ nhóm chuyên môn, tổ chủ nhiệm, kế hoạch GVCN, kế hoạch Đoàn- Đội và Công Đoàn.
Đối với hoạt động giáo dục PCMT: mục tiêu chung nhất là phấn đấu 100% nhà trường
không có ma túy, đây là hoạt động giáo dục được thực hiện thông qua việc tích hợp, lồng ghép vào một
số môn học trên lớp và thông qua các HĐGDNGLL khác. Vì vậy, kế hoạch hoạt động giáo dục PCMT
cũng phải được tích hợp vào kế hoạch của các tổ nhóm bộ môn và tích hợp vào HĐGDNGLL.
Kế hoạch giáo dục PCMT được xây dựng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trường, đáp

trưởng chỉ đạo xử lý khi phát hiện học sinh nghiện ma túy [26].
1.4.3. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục PCMT.[26]
Bất cứ hoạt động nào, khi tổ chức hoạt động thì Hiệu trưởng phải tổ chức kiểm tra để đánh giá
chất lượng, hiệu quả giáo dục. Từ đó, rút kinh nghiệm và điều chỉnh tổ chức hoạt động nhằm đạt được
chất lượng và hiệu quả cao hơn. Việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục PCMT nằm trong
kế hoạch kiểm tra của nhà trường.
Nội dung kiểm tra bao gồm :
- Thực hiện giáo dục PCMT qua lồng ghép, tích hợp nội dung vào các môn học có liên quan và
các HĐGDNGLL có nội dung PCMT.
- Công bố chế độ khen thưởng những GV, HS có thành tích đóng góp cho hoạt động giáo dục
PCMT
- Công bố chế độ xử lý HS nghiện ma túy
- Yêu cầu GVCN kết hợp với GVBM phát hiện những HS có những biểu hiện bất thường
- Có lịch làm việc hàng tháng với GVCN, đội ngũ cán bộ tự quản, bí thư đoàn trường, GT, Bảo
vệ nhằm phát hiện kịp thời HS có biểu hiện nghiện ma túy
- Xây dựng hộp thư giám sát và phát hiện HS có liên quan đến ma túy
Phương pháp kiểm tra: nghiên cứu sản phẩm của HS, quan sát hoạt động, trao đổi trò chuyện
cùng HS, báo cáo của GVCN, cán bộ lớp, Bí thư Đoàn, dự giờ giáo viên hoặc dự sinh hoạt tổ chuyên
môn.
Tiểu kết chương một
Giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông là một trong những nội dung giáo dục rất quan
trọng nhằm góp phần giáo dục học sinh- thế hệ trẻ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.
Các em chính là những con người phát triển một cách toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ, có kỹ
năng sống, luôn vững vàng trước những cám dỗ của tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn ma túy.
Quản lý hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường phổ thông là hệ thống các tác động có mục
đích của Hiệu trưởng tới giáo viên, học sinh, cán bộ công nhân viên nhằm tổ chức các hoạt động giáo
dục đạt được mục tiêu và kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Hoạt động giáo dục PCMT trong nhà trường sẽ đạt hiệu quả nếu đội ngũ giáo viên hiểu được
trách nhiệm quan trọng của họ và nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục PCMT với các hình thức
đa dạng, phong phú, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh và phù hợp với thời điểm và

Phía Đông Bắc giáp với tỉnh Đồng Tháp dài 107,628 km.
Nằm trên trục giao thông của tam giác kinh tế lớn: thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Cần Thơ
và Thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia), An Giang còn sở hữu nhiều cửa khẩu quốc gia, quốc tế quan
trọng bao gồm cả đường bộ lẫn đường thủy như: cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên (Huyện Tịnh Biên), Vĩnh
Xương (TX. Tân Châu), Khánh Bình (Huyện An Phú). Diện tích toàn tỉnh là 3.536,76 km
2
chiếm
1,05% diện tích toàn quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng ĐBSCL (đứng thứ 4 trong vùng). An
Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Long Xuyên, TX Châu Đốc, TX Tân
Châu và 08 huyện là An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh
Biên với 156 đơn vị xã, phường, thị trấn. Đường giao thông thủy, bộ khá thuận tiện. Đường bộ với trục
chính là Quốc lộ 91 nối với quốc lộ 2 của Campuchia; sông Tiền và sông Hậu là những tuyến giao lưu
đường thủy quan trọng tạo nên một hệ thống giao thông nối các tỉnh trong vùng ĐBSCL với các nước
Campuchia, Lào, Thái Lan và vùng biển Đông. Đây là điều kiện hỗ trợ cho việc mở cửa, hội nhập phát
triển kinh tế - xã hội của toàn vùng với các nước trong khu vực ASEAN.
Với 73% diện tích là đất phù sa mầu mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, diện tích mặt
nước ngọt lớn, An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo và thủy sản. Hiện nay sản lượng lúa của An
Giang lớn nhất toàn vùng; sản lượng thủy sản đứng thứ ba, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng theo
địa phương lớn nhất toàn quốc.
Ngoài ra, An Giang còn có rừng, núi, và tài nguyên khóang sản, những di tích văn hóa vật thể và
phi vật thể là những điều kiện tốt để tỉnh có thể phát triển một nền kinh tế có tính chủ lực xen lẫn tính
đa dạng.
Căn cứ vào vị trí địa lý tự nhiên, An Giang hình thành hai vùng rõ rệt:
- Vùng đất cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, chiếm 30% diện tích, là vùng đồng bằng rất
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
- Vùng Tứ giác Long Xuyên nằm ở phía Tây sông Hậu, chiếm 70% diện tích của tỉnh, được chia
thành 2 tiểu vùng: vùng đồng bằng và vùng núi. Vùng núi có nhiều khối núi lớn, không thành dãy như
các núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô... Ngoài những tiềm năng về khóang sản, vùng núi An Giang còn có
nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử- văn hóa và hệ thống động thực vật phong phú là những
điểm du lịch có khả năng thu hút được lượng khách du lịch lớn.

thủy sản khác là 9.682 tấn đạt 87,9% so cùng kỳ; tôm 39 tấn tăng 5,41% so cùng kỳ.
* Sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ:
Năm 2009, tốc độ tăng trưởng nhưng chưa cao. Chương trình khuyến công của tỉnh tiếp tục
hoạt động hiệu quả, với những chính sách cho vay hỗ trợ vốn, ưu đãi đầu tư, đào tạo nghề cho người
lao động, xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm giới thiệu sản phẩm, phát triển sản phẩm làng nghề
...nhằm góp phần ổn định sản xuất công nghiệp. So với cùng kỳ năm 2008, công nghiệp khai thác mỏ
tăng mạnh 15,12%, công nghiệp sản xuất, phân phối điện nước tăng 12,14%, riêng công nghiệp chế
biến tăng 13,22% cao hơn cùng kỳ (12,07%). Hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định hơn, góp phần
đáng kể vào tăng trưởng là ngành thương nghiệp, nhà hàng- khách sạn, vận tải kho bãi, tài chính tín
dụng.
2.1.2.2.Tình hình xã hội
Trong năm 2009, do ảnh hưởng của tình hình suy thóai kinh tế thế giới, giá cả nhiều mặt
hàng tăng cao trong một thời gian dài đã tác động bất lợi đến sản xuất và đời sống của người dân.
Nhưng với những nổ lực và quyết tâm cao, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh An Giang đã đưa
nền kinh tế vượt qua khó khăn, cùng với các chính sách an sinh xã hội của nhà nước được thực hiện kịp
thời, đúng đối tượng, chính sách kích cầu, chính sách hỗ trợ lãi suất, miễn thuế, giản nộp thuế ...phần
nào giúp cơ sở giảm chi phí. Bên cạnh đó, các chương trình 120 (giải quyết việc làm); chương trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status