nền kinh tế nhiều thành phần có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kì quá độ - Pdf 10

I- Lời Nói Đầu
Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa trong điều kiện một nước kinh tế kĩ thuật lạc hậu, trình độ phát triển sản
xuất thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Suốt một thời gian dài Việt Nam
cũng như nhiều nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) khác đã áp dụng mô hình
kinh tế kế hoạch hoá, tập trung quan liêu, bao cấp mà thực chất là mô hình
kinh tế cứng nhắc, phi thị trường, quá đề cao vai trò của các thành phần kinh
tế XHCN dưới hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, còn các
thành phần kinh tế khác bằng những chính sách, biện pháp hành chính đã áp
đặt, nóng vội để đẩy nhanh tiến độ cải tạo XHCN. Kết quả là thành phần kinh
tế XHCN (quốc doanh và tập thể) phát triển nhanh về số lượng, mở rộng quy
mô và phạm vi hoạt động nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp và ngày
càng có xu hướng giảm sút, sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế
không được phát huy khiến cho nền kinh tế trở nên trì trệ, kém phát triển.
Chúng ta không thể phủ nhận những tác dụng tích cực mà mô hình này đã
mang lại trong thời gian truớc đây, nhưng càng về sau nó càng bộc lộ những
khiếm khuyết, mà chủ yếu là các nhu cầu của xã hội vượt quá khả năng đáp
ứng của một nền kinh tế năng động do thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu và chế độ phân phối bình quân chủ nghĩa. Chính điều đó đã
kìm hãm và làm thui chột động lực và tính cạnh tranh giữa các lực lượng kinh
tế, không huy động và sử dụng được các nguồn lực của đất nước để tạo đà
cho sự phát triển. Đoạn tuyệt với cơ chế cũ, lạc hậu và phát triển kinh tế đã
trở thành đòi hỏi bức thiết và tất yếu đối với Việt Nam.
Để khắc phục những thiếu sót trước đó, từ Đại hội VI của Đảng - Đại hội
Đảng khởi đầu sự nghiệp đổi mới - chủ trương phát triển nền kinh tế thị
trường với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần được nhận thức lại và thực hiện
nhất quán. Đảng ta đã xác định nền kinh tế nhiều thành phần có cơ cấu nhiều
thành phần là một đặc trưng của thời kì quá độ. Mỗi thành phần kinh tế có
vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển
kinh tế nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược, lâu dài trong suốt thời
kì quá độ lên CNXH, nhằm mục tiêu hàng đầu là nâng cao hiệu quả kinh tế

thác, sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế
trong nước. Những thành phần kinh tế này có diện mạo riêng nhưng đều
nằm trong sự thống nhất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lâu
dài, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh lành mạnh góp phần phát triển vững chắc
nền kinh tế nước ta trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập
với kinh tế khu vực và thế giới.
2. Phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2-1. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Trong các thành phần kinh tế ở Việt Nam, mỗi thành phần đều có vai
trò, vị trí và đóng góp nhất định vào nền kinh tế đất nước. Song do tính
3
chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta cần đặc biệt
nhấn mạnh vai trò kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước làm chủ đạo và
cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất ( sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước). Kinh tế
nhà nước bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia,
các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước để có thể
đưa vào vòng chu chuyển kinh tế. Kinh tế nhà nước chiếm giữ ở các vị trí
then chốt của nền kinh tế, đặc biệt trong nền kinh tê sthị trường ở Việt
Nam, kinh tế nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định tới tính
chất định hướng XHCN của nền kinh tế quốc dân
Phát triển kinh tế nhà nước theo hướng là lực lượng mở đường, hỗ trợ,
định hướng cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo mục tiêu kinh
tế, xã hội của đất nước. Kinh tế nhà nước có khả năng, điều kiện về mọi
mặt để đáp ứng tốt nhất cho việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch đầu
tư, xây dựng cải tạo, nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội như giao
thông, điện, các công trình công cộng khác phục vụ sản xuất và đời sống.
Kinh tế nhà nước có điều kiện để đi đầu trong việc tập trung nghiên cứu,

trình kinh tế trọng điểm, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế từng vùng,
miền, địa bàn, phát huy lợi thế, khả năng về mọi mặt, làm thay đổi bộ mặt
kinh tế cả nước. Kinh tế nhà nước còn được sử dụng vào việc thực hiện
các chương trình vay vốn, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm…
Như vây, để kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo, dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng XHCN ta cần hoàn
thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu và nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước, đổi mới và phát huy ưu thế về kĩ thuật
và công nghệ, liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu
quả kinh tế xã hội, thực hiện vai trò và chức năng công cụ quản lí vĩ mô
của Nhà nước, đổi mới cơ chế quản lí kinh tế trong các doanh nghiệp Nhà
nước trên cơ sở bảo đảm chế độ tự chủ, sản xuất kinh doanh của các đơn vị
kinh tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa các loại lợi ích kinh tế, chú ý thích
đáng lợi ích kinh tế của người lao động.
2-2. Kinh tế tập thể cùng phát triển với kinh tế nhà nước
Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do
người lao động tự góp vốn, cùng kinh doanh, tự quản lí theo nguyên tắc
tập trung, bình đẳng, cùng có lợi.
5
Kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác dựa
trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những
người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh… thuộc các thành phần kinh
tế, không giới hạn địa bàn hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách
nhiệm. Trong quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhiều chủ trương đổi mới và phát triển kinh tế tập thể nhằm phát huy vai
trò tích cực của nó. Kinh tế tập thể đã có những bước đổi mới một cách
sâu rộng, phát triển sâu rộng, phát triển các hình thức hợp tác đa dạng,
chuyển đổi mô hình tổ chức, nguyên tắc hoạt động và cơ chế quản lí nội bộ
để thích ứng với điều kiện mới.

đổi mới và phát triển thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể phải
được đặt trong khuôn khổ mối quan hệ tương hỗ với phát triển các thành
phần kinh tế khác trên cơ sở tôn trọng những quy luật khách quan của nền
kinh tế thị trường.
2-3. Kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là một giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng
hoá. Đó không phải là một thành phần kinh tế mà là một khu vực kinh tế
gồm hai thành phần: thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần
kinh tế tư bản tư nhân, “hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và
các loại hình doanh nghiệp tư nhân đã phát triển rộng khắp trong nước”
(Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảngkhoá IX). Kinh tế tư
nhân như một động lực thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển trong nền
kinh tế thị trường. Ngược lại, nền kinh tế thị trường chính là môi trường
trong hoạt động và phát triển các thành phần kinh tế, trong đó có thành
phần tư nhân. Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định rõ quan điểm
với kinh tế tư nhân là: kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân được
khuyến khích và phát triển, không hạn chế việc mở rộng kinh doanh và có
thể áp dụng nhiều hình thức liên doanh với các doanh nghiệp khác. Đồng
thời chú trọng nâng cao hiệu quả quản lí Nhà nước đối với hoạt động của
kinh tế tư nhân, bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế, nhằm đáp
ứng tốt hơn các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước.
Thứ nhất, cần tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho kinh tế tư
nhân phát triển. Trong chiến lược, quy hoạch phát triển nền kinh tế quốc
dân, cũng như từng ngành, từng đơn vị kinh tế cần xác định rõ hướng phát
triển của các thành phần kinh tế, trong đó chú trọng tới kinh tế tư nhân.
7
Gắn liền với chiến lược, quy hoạch ấy cần có chính sách, cơ chế kèm theo
để tạo động lực hoặc có biện pháp hỗ trợ, khuyến khích theo hướng phát
triển đã định. Ngoài ra, cần xây dựng và phát triển đồng bộ luật pháp,

8
tế tư nhân, trong lĩnh vực nông nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ
về cây, con giống, khuyến nông, nuôi trồng…, có biện pháp thu mua, bảo
quản, chế biến sau thu hoạch để tránh tình trạng thừa sản phẩm, gây tổn
thất cho người sản xuất, lãng phí cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ năm, cần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, xoá bỏ mặc cảm của xã
hội với khu vực kinh tế tư nhân, trước hết là trong đội ngũ công chức, nhà
nước. Từng bước xoá bỏ sự phân biệt đối xử về tín dụng, thuế, mặt bằng
đang gây khó khăn cho phát triển kinh tế tư nhân ở địa phương. Hơn nữa,
quản lí nhà nước nên chuyển từ can thiệp trực tiếp của các cơ quan quản lí
nhà nước sang hỗ trợ, hướng dẫn, định hướng cho sự phát triển kinh tế tư
nhân.
Ngoài ra, cần chú trọng kinh tế cá thể, tiểu chủ, cùng với nó là phát
triển các doanh nghiệp tư nhân, công ti trách nhiệm hữu hạn và công ti cổ
phần có sự phát triển nhanh. Hộ kinh doanh cá thể đáp ứng những sản
phẩm thoả mãn nhu cầu của xã hội và xuất khẩu, thu hút một lượng lao
động lớn, nhằm giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, nâng cao mặt
bằng kinh tế chung.
Chúng ta cần nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh, có mức
tăng trưởng cao hơn hiện nay, thu hút hơn nữa nhiều nguồn lực của tư
nhân vào đầu tư phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tư nhân còn có nhiều hạn
chế, yếu kém như phần lớn có quy mô nhỏ, vốn ít, trình độ quản lí còn
thấp, sức cạnh tranh còn yếu, một số đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện
tốt những quy định của pháp luật đối với người lao động, không ít đơn vị
vi phạm pháp luật, trốn thuế, gian lận, làm hàng giả, kinh doanh trái
phép… Điều đó đòi hỏi phải tăng cường quản lí với kinh tế tư nhân.
2- 4. Kinh tế tư bản nhà nước
Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế bao gồm các hình thức
liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và
ngoài nước, mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh.

quốc dân, được khuyến khích phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-
xã hội gắn liền với thu hút công nghiệp hiện đại, tạo việc làm và đề ra
nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế, pháp lí để thu hút nguồn vốn
đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có tác
dụng hỗ trợ, bổ sung cho phát triển kinh tế, là cầu nối mở rộng kinh tế với
các nước, tăng nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài hiện nay chiếm hơn 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 35%
10
giá trị công nghiệp, 23% giá trị xuất khẩu và hơn 13% tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) cả nước không kể dầu khí. Do đó, Đại hội lần thứ IXcủa Đảng
đã xác định nhiệm vụ không ngừng cải thiện nhằm nâng cao môi trường
kinh tế, pháp lí và khả năng cạnh tranh trong việc thu hút và sử dụng
nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ nhất, xây dựng chiến lược và quy hoạch cụ thể nhằm thu hút FDI,
trong đó cần chú trọng công tác dự báo, cập nhật thông tin thị trường trong
nước, quốc tế, bảo đảm sự thống nhất giữa quy hoạch, các ngành, địa
phương. Đồng thời phải xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong các năm tới và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ấy.
Thứ hai, cần cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện hệ thống pháp luật
liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài: xây dựng hệ thống luật hấp
dẫn, thông thoáng, rõ ràng, ổn định và mang tính khu vực. Sửa đổi thuế
thu nhập cá nhân đối với người lao động Việt Nam làm việc trong các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đa dạng hoá các hình thức đầu tư nước
ngoài để khai thác thêm các lĩnh vực thu hút đầu tư mới. Đẩy nhanh việc
thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, ban hành danh
mục, lĩnh vực cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của các
công ti cổ phần Việt Nam trên thị trường chứng khoán.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách về đầu tư nước ngoài: tiếp tục thực hiện
lộ trình giảm chi phí đầu tư.Với đất đai, có thể miễn giảm tiền thuế đất cho

có thể phát huy khả năng trong những khu vực nông nghiệp nông thôn,
vùng miền núi khó khăn.Trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu, kinh tế nhà
nước, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
là những trụ cột giúp nền kinh tế cạnh tranh trên thị trường thế giới. Các
thành phần kinh tế khác vẫn tồn tại như một thực thể khách quan, xuất
phát từ đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, đáp ứng nhu cầu đa dạng của
xã hội, bổ sung và phối kết hợp với các trụ cột trên tạo thành một nền kinh
tế lành mạnh và đa dạng.

12
III- Kết Luận
Thực hiện chính sách phát triển các thành phần kinh tế là một bộ phận
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta - từ chỗ
không thừa nhận kinh tế tư nhân đến chỗ thừa nhận kinh doanh nhỏ ở một
số ngành nghề, từ chỗ bó hẹp quy mô sản xuất đến chỗ không hạn chế về
quy mô và lĩnh vực mà luật pháp không cấm. Mỗi lần thay đổi tư duy là
một lần nhận thức của chúng ta được mở rộng và đầy đủ hơn, thúc đẩy các
thành phần kinh tế đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết
công ăn việc làm, tạo cơ hội cho những chủ thể kinh tế, các doanh nhân
mới năng động, sáng tạo phát huy mọi tiềm năng, nội lực tạo ra một tổng
hợp lực thật sự cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN.
Trong nền kinh tế thị trường thời kì quá độ lên CNXH của nước ta hiện
nay, việc phát triển các thành phần kinh tế lại càng có ý nghĩa quan trọng.
Những thành tựu đã đạt được đã đạt được trong công cuộc xây dựng và
phát triển kinh tế trong 20 năm đổi mới, đặc biệt là những năm gần đây đã
chứng minh cho quan điểm của Đảng về chủ trương phát triển kinh tế
nhiều thành phần, khẳng định sự tồn tại lâu dài của nhiều thành phần kinh
tế trên con đường tiến lên CNXH: “các thành phần kinh tế đều là bộ phận
cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng

15
MỤC LỤC
Trang
I- Lời Nói Đầu 1
II. Nội Dung 3
1. Tính tất yếu khách quan của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ
lên chủ nghĩa xã hội 3
2. Phát triển các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa 3
2-1. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước 3
2-2. Kinh tế tập thể cùng phát triển với kinh tế nhà nước 5
2-3. Kinh tế tư nhân 7
2- 4. Kinh tế tư bản nhà nước 9
2- 5. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 10
3. Các thành phần kinh tế bổ sung, giúp đỡ nhau phát triển 12
III- Kết Luận 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status