Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Lời mở đầu
Chúng ta thấy rằng, một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa th-
ơng mại quốc tế và thơng mại nội địa là:Thơng mại nội địa chỉ diễn ra trong
phạm vi một quốc gia và thờng chỉ liên quan đến nội tệ, trong khi đó, thơng
mại quốc tế vợt ra ngoài phạm vi quốc gia và thờng liên quan đến việc sử
dụng các đồng tiền khác nhau để thanh toán chi trả cho nhau. Hầu hết việc
thanh toán chi trả đó đợc thực hiện thông qua hệ thống NH và ngoại hối
chính là lĩnh vực kinh doanh phức tạp và nhiều rủi ro nhất của các NHTM
trên thế giới cũng nh ở nớc ta. TTNH nớc ta đang hội nhập với thị trờng
quốc tế, hơn nữa từ giữa năm 2001 lãi suất USD đã đợc thực hiện theo cơ
chế tự do hoá và hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu tới hơn 90% nhu cầu
vàng tiêu thụ trong nớc. Do vậy, mọi diễn biến về tỷ giá và giá vàng trên thị
trờng quốc tế luôn có tác động đáng kể đến TTNH nớc ta.Trong điều kiện
đó, tất cả các NHTM và TCTD đợc phép kinh doanh ngoại hối phải đối mặt
gay gắt với những diễn biến đó trong hoạt động kinh doanh dịch vụ và cơ
cấu nghiệp vụ của mình.Thực tế này đã cho thấy TTNH có một vị trí rất
quan trọng đối với nền kinh tế của nớc ta.Là một sinh viên đã đợc trang bị
những kiến thức cơ bản về thị trờng ngoại hối, em đã chọn đề tài: Tìm
hiểu về thị trờng ngoại hối với mong muốn đợc hiểu biết rõ hơn về những
diễn biến phức tạp trên TTNH, qua đó đa ra những ý kiến của mình góp
phần hoàn thiện hơn TTNH ở nớc ta hiện nay.
Bài viết của em bao gồm 3 phần lớn:
- Lời mở đầu
- Nội dung
- Kết luận
Trong phần nội dung có 2 phần cơ bản:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về TTNH
Phần 2:Thực trạng hoạt động của TTNH ở Việt Nam - Những tồn tại và giải
pháp
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
Việt Nam.
c. Tiền Việt Nam có nguồn gốc ngoại tệ khác.
Tất cả các ngoại hối nêu trên đợc quản lý theo Luật quản lý ngoại hối của
nớc CHXHCN Việt Nam hiện hành.
- Thị trờng ngoại hối: Là nơi mà ở đó xảy ra việc mua và bán, trao đổi
ngoại hối, trong đó chủ yếu là trao đổi, mua bán ngoại tệ và các phơng
tiện thanh toán quốc tế.
2. Đặc điểm của TTNH
- Thị trờng ngoại hối không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lí hữu
hình nhất định, mà thông qua mạng lới hoạt động toàn cầu của các ngân
hàng trên thế giới.
- Đây là thị trờng toàn cầu, bởi lẽ: thời lợng giao dịch 24\24h ( trừ những
ngày nghỉ); và hầu khắp mọi nơi trên thế giới đều diễn ra việc mua bán
chuyển đổi các đồng tiền khác nhau.
- Trung tâm của thị trờng ngoại hối là thị trờng liên ngân hàng quốc
tế(Interbank) với các thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
2
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
ngoại hối và các NHTƯ. Doanh số giao dịch trên Interbank chiếm 85%
tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu.
- Các nhà kinh doanh duy trì quan hệ liên tục với nhau bằng điện thoại,
telex, fax, hệ thống Swif, mạng vi tínhNgày nay, do thông tin đợc
truyền đi rất nhanh và hiệu quả, cho nên tuy các nhà kinh doanh ở rất xa
nhau về mặt địa lí nhng họ vẫn có cảm giác là đang ngồi đối diện và
cùng hoạt động dới một mái nhà chung .
- Do thị trờng có tính toàn cầu và hoạt động hiệu quả, nên tỷ giá trên các
thị trờng khác nhau hầu nh là thống nhất với nhau.
- Đồng tiền đợc sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, ớc tính chiếm
tới 41,5% trong tổng số các đồng tiền tham gia.
xuất- nhập khẩu hàng hoá, tham gia vào TTNH để thoả mãn nhu cầu
ngoại tệ trong việc sản xuất kinh doanh.
- Các NHTM , các tổ chức trung gian tài chính khác tham gia vào TTNH
nhằm tự doanh và cung cấp dịch vụ.
Các hoạt động cụ thể của Ngân hàng bao gồm:
- - Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng nhằm mục đích thanh toán hợp
đồng ngoại thơng.
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
3
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
- - Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng ( hoặc cho chính mình ) nhằm
mục đích thực hiện đầu t nớc ngoài trực tiếp hay gián tiếp.
- - Mua và bán ngoại tệ cho khách hàng hoặc cho chính mình nhằm điều
chỉnh trạng thái ngoại hối của đồng tiền có thể giảm rủi ro ngoại hối.
- - Mua và bán ngoại tệ nhằm mục đích đầu cơ trong việc dự tính sự biến
động của tỷ giá.
- NHTƯ và các cơ quan chức năng của chính phủ: tham gia không vì mục
tiêu lợi nhuận mà nhằm kiếm soát, đảm bảo khả năng thanh toán của
quốc gia đối với thị trờng quốc tế.
Do TTNH Việt Nam còn sơ khai, có độ thanh khoản thấp, tỷ giá kém
linh hoạt và cha thực sự trở thành công cụ điều tiết cung cầu ngoại tệ,
cho nên sự can thiệp của NHNN trên TTNH đóng vai trò quan trọng
trong việc điều tiết cung cầu ngoaị tệ, nhằm bôi trơn và giúp cho TTNH
đợc hoạt động thông suốt. Ngoài chức năng tổ chức và quản lý hoạt
động thị trờng, NHNN còn thực hiện chức năng ngời mua bán cuối cùng
trên thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực tế, do dự trữ
ngoại tệ của NHNN mỏng, không ổn định, lại qua nhiều tầng nấc quản
lý, do đó, NHNN cha thể làm tốt vai trò là ngời mua bán cuối cùng trên
thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng, nên tình trạng căng thẳng về ngoại tệ
thờng xảy ra,
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
4
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
giao dịch ấn định. Vì tại phiên giao dịch này có sự hiện diện của các nhà
chức trách tiền tệ, đồng thời tỷ giá đợc xác định tại phiên giao dịch này đợc
công bố và chính thức là cơ sở tham chiếu có tính chất pháp định cho nhiều
trờng hợp trong giao dịch. Chính yếu tố có tổ chức này cùng với việc yết giá
duy nhất đối với từng đồng tiền (nhng không có nghĩa là chỉ có một tỷ giá
duy nhất) áp dụng các lệnh mua- bán đợc đa ra trớc một giờ nhất định, đã
khiến nhiều doanh nghiệp yêu cầu Ngân hàng của họ giải quyết các dịch vụ
liên quan đến ngoại tệ cho họ tại phiên ấn định để họ đợc hởng tỷ giá chính
thức để dễ áp dụng và cũng dễ kiểm soát.
Căn cứ vào thực tế của mỗi nớc có cách tổ chức thị trờng này một cách
riêng biệt, tuy nhiên có những nét đặc trng cơ bản của phiên ấn định nh sau:
- - Phiên giao dịch ấn định bao gồm các thành viên là các Ngân hàng th-
ơng mại và có sự tham gia chính thức của NHTƯ, tiến hành giao dich
với từng ngoại tệ.
- - Tỷ giá đợc yết giá theo hình thức gián tiếp với đồng tiền của nớc tổ
chức phiên. Trong phiên giao dịch mỗi loại ngoại tệ đợc xác định một tỷ
giá đợc gọi là tỷ giá ấn định, từ tỷ giá này trong giao dịch sẽ tính đợc
tỷ giá mua- bán bằng cách áp dụng biên độ biến động riêng cho từng
loại ngoại tệ.
- Giới hạn các đồng tiền đợc giao dịch tại phiên ấn định, không phải đồng
tiền nào cũng đợc giao dịch tại thị trờng này.
4.2.2. Thị trờng tiền gửi:
Đây là thị trờng tiến hành các hoạt động cho vay và đi vay (huy động- cho
vay) bằng ngoại tệ với những điều kiện cụ thể, thời hạn xác định và xác
định giá của vốn giao dịch. Cũng nh thị trờng thoả thuận tuỳ ý, thị trờng
tiền gửi mang tính quốc tế, hoạt động không ngừng và do quy luật cung-cầu
chi phối. Điều này có nghĩa là thị trờng tiền gửi bị tác động bởi các sự kiện
gồm đồng thời cả hai giao dịch: giao dịch mua và giao dịch bán cùng một
số lợng đồng tiền này với đồng tiền khác, trong đó kỳ hạn thanh toán của
hai giao dịch này là khác nhau, tỷ giá của hai giao dịch đợc xác định tại
thời điểm ký kết hợp đồng.
Giao dịch hoán đổi ngoại hối đợc thực hiện theo một trong hai hình thức
sau:
Một là, kết hợp giữa một giao dich trao ngay và một giao dịch có kỳ hạn
( Spot-Forward swap )
Hai là, kết hợp giữa hai giao dịch có kỳ hạn, nhng có ngày giá trị khác nhau
(Forward- Forward swap)
Thực chất của giao dịch này là ngời bán cam kết sẽ mua lại chính lợng
ngoại tệ đã thoả thuận bán sau một thời gian nhất định với tỷ giá đợc xác
định tại thời điểm thoả thuận mua, bán. Trong giao dịch hoán đổi, tỷ giá và
ngày giá trị của giao dịch mua và bán đợc xác định nh giao dịch trao ngay
nếu là giao dịch trao ngay và nh giao dịch có kỳ hạn, nếu là giao dịch có kỳ
hạn. Bằng cách hoán đổi này, các bên tham gia có đợc ngoại tệ mình mong
muốn. Ví dụ: một công ty của Đức có khoản nợ bằng USD với lãi suất cố
định, thông qua hoán đổi ngoại tệ, công ty có thể chuyển số nợ này sang nợ
bằng EUR, qua đó tránh đợc rủi ro do biến động tỷ giá hối đoái giữa EUR
và USD.
5.3. Giao dịch quyền chọn
Quyền lựa chọn cho phép ngời mua có quyền (nhng không bắt buộc)
mua hoặc bán một số lợng ngoại tệ với tỷ giá ấn định ( tỷ giá thực hiện vào
thời hạn quy định).Một hợp đồng quyền chọn cho phép ngời mua có quyền
mua một số lợng ngoại tệ theo những điều kiện của quyền chọn gọi là
quyền chọn mua. Một hợp đồng quyền chọn cho phép ngời mua có quyền
bán một số lợng ngoại tệ với những điều kiện quy định trớc gọi là quyền
chọn bán. Để có đợc quyền chọn mua hoặc bán, ngời mua phải nộp phí- gọi
là phí quyền. Phí quyền thông thờng phải trả ngay khi ki hợp đồng. Thời
hạn của hợp đồng quyền chọn chính là thời gian duy trì quyền chọn. Thời
chắn đợc thực hiện. Để các hợp đồng tơng lai đợc giao dịch với số lợng lớn
và giảm bớt chi phí thì chỉ tồn tại một số ít ngày giá trị. Tại sở giao dịch
Chicagô ( CMF ) chỉ có 4 ngày giá trị trong năm- đó là vào thứ 4 của tuần
thứ 3 trong các tháng 3,6,9 và 12. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong giao
dịch tơng lai thì giá các hợp đồng đợc yết sao cho đô la Mỹ ( USD) là đồng
tiền định giá còn các ngoại tệ khác đóng vai trò đồng tiền yết giá.
Nếu không tồn tại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối, tức là mọi dự đoán về
tỷ giá trong tơng lai là chính xác thì tỷ giá trong các hợp đồng tơng lai
chính là tỷ giá giao ngay dự đoán tại thời điểm hợp đồng đến hạn.
Để ký kết hợp đồng tơng lai, điều bắt buộc đối với cả ngời mua và ngời bán
phải có một khoản tiền kí quỹ. Khoản kí quỹ ban đầu thông thờng bằng 4%
giá trị của hợp đồng. Khoản kí quỹ này đợc duy trì trên tài khoản mở tại sở
giao dịch để đảm bảo khả năng thanh toán cho các bên cuối mỗi ngày. Lời
hay lỗ mà các bên tham gia đợc hởng hay phải chịu đợc trích từ tài khoản kí
quỹ này. Khi số tiền kí quỹ giảm xuống dới mức qui định thì những ngời
nắm giữ hợp đồng tơng lai phải nộp bổ xung. Nếu ngời nắm giữ hợp đồng t-
ơng lai không thực hiện nghĩa vụ kí quỹ bổ xung thì sở giao dịch sẽ tự động
thanh lý hợp đồng.
6. Các nhân tố tác động tới hoạt động của TTNH
Trong dài hạn:
- Mức giá cả tơng đối: Theo thuyết ngang giá sức mua (PPP), khi giá hàng
nội tệ ( ví dụ giá hàng Việt Nam) tăng lên ( giá hàng ngoại giữ yên), thì cầu
về hàng VN giảm xuống và đồng VNĐ có xu hớng giảm giá để cho hàng
VN có thể vẫn bán đợc tốt. Mặt khác nếu giá hàng Trung Quốc tăng lên sao
cho giá tơng đối của hàng VN giảm xuống thì cung về hàng VN tăng lên
và đồng VNĐ có xu hớng tăng giá bởi vì hàng VN sẽ tiếp tục bán đợc tốt
ngay cả với giá trị cao hơn của đồng nội tệ.
Về lâu dài, một sự tăng lên trong mức giá của một nớc ( tơng đối so với
mức giá nớc ngoài) làm cho đồng tiền của nớc đó giảm giá, trong khi sự
giảm xuống của mức giá tơng đối của một nớc làm cho đồng tiền của nớc
Trong ngắn hạn:
- So sánh lợi tức dự tính đối với tiền gửi trong nớc và nớc ngoài
Thuyết về cầu tài sản cho rằng nhân tố quan trong nhất tác động đến cầu về
tiền gửi trong nớc (VNĐ) và tiền gửi nớc ngoài( USD) là thu nhập dự tính
về tài sản đó so sánh với nhau. Khi ngời Việt Nam và ngời nớc ngoài dự
tính rằng lợi tức về tiền gửi VNĐ là cao hơn so với lợi tức về tiền gửi nớc
ngoài, thì sẽ có một cầu cao hơn về tiền gửi VNĐ và một cầu thấp hơn về
tiền gửi USD.
- Điều kiện ngang giá tiền lãi
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó có sự lu thông vốn, nghĩa
là, ngời ngoại quốc có thể dễ dàng mua tài sản Việt Nam, chẳng hạn nh gửi
tiền VNĐ , và ngời Việt Nam cũng dễ dàng mua tài sản nớc ngoài nh tiền
gửi USD chẳng hạn. Bởi vì tiền ngân hàng ngoại quốc và tiền gửi ngân hàng
Việt Nam có rủi ro nh nhau và tính lu thông nh nhau và bởi vì có ít trở ngại
cho việc lu thông vốn, thì rất là có lí do để cho rằng các tiền gửi là những
vật thay thế hoàn hảo, nếu lợi tức dự tính về tiền gửi VNĐ cao hơn tiền gửi
nớc ngoài, thì cả ngời nớc ngoài và ngời Việt Nam sẽ chỉ muốn giữ tiền gửi
Việt Nam và sẽ không thích giữ tiền gửi nớc ngoài. Mặt khác, nếu lợi tức dự
tính về tiền gửi nớc ngoài cao hơn về tiền gửi VNĐ, thì ngời nớc ngoài và
ngời Việt Nam sẽ không muốn giữ tiền gửi VNĐ và chỉ muốn giữ tiền gửi
nớc ngoài. Để cho những lợng cung tiền hiện có về tiền gửi VNĐ cũng nh
tiền gửi nớc ngoài đợc ngời ta nắm giữ, thì phải đảm bảo rằng không có sự
khác nhau trong lợi tức dự tính về những khoản tiền gửi đó.Hay nói một
cách khác, điều kiện ở đây là: lãi suất trong nớc bằng lãi suất nớc ngoài
cộng với mức tăng giá dự tính của đồng ngoại tệ. Nếu lãi suất trong nớc cao
hơn lãi suất nớc ngoài, có nghĩa là có sự tăng giá dự tính dơng của ngoại tệ
bù vào mức lãi suất nớc ngoài thấp hơn. Một lãi suất trong nớc 15% đối lại
với mức lãi suất nớc ngoài 10% có nghĩa là mức tăng giá dự tính của ngoại
tệ phải là 5% ( hoặc tơng đơng, tức là mức sụt giá dự tính của đồng nội tệ
phải là 5%.
bao gồm tỷ giá mậu dịch (hay tỷ giá chính thức), tỷ giá phi mậu dịch ( bao
gồm cả tỷ giá kiều hối) và tỷ giá kết toán nội bộ, đồng thời triệt tiêu môi tr-
ờng và mọi điều kiện để hình thành và phát triển các thị trờng nói chung,
trong đó có TTNH.
Hậu quả của một cơ chế tỷ cố định và đa tỷ giá mang tính áp đặt bất chấp
quy luật cung cầu tiền tệ đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Đồng tiền
Việt Nam đợc định giá quá cao so với các đồng tiền tự do chuyển đổi. Tỷ
gía chính thức ngày càng chênh lệch xa tỷ giá thực tế, làm cho hoạt động
xuất khẩu gặp khó khăn, cán cân thơng mại bị thâm hụt nặng. Đối với các
doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đã rơi vào
tình trạng khó khăn thua lỗ, tuy có chế độ thu bù chênh lệch ngoại thơng( lỗ
thì ngân sách cấp bù, còn lãi thì nộp ngân sách) nhng dù sao cũng triệt tiêu
động lực phát triển xa hơn.
Ngày 26/3/1988, Nghị định 53/HĐBT ra đời, tách hệ thống Ngân hàng Việt
Nam từ một cấp thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc và hệ thống Ngân hàng
chuyên doanh. Ngân hàng Nhà nớc là NHTƯ thực hiện chức năng quản lý
vĩ mô, ban hành chính sách tiền tệ, tín dụng và ngân hàng; hệ thống Ngân
hàng chuyên doanh thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng. Bớc
đầu từng Ngân hàng chuyên doanh hoạt động theo đặc thù gắn liền với từng
lĩnh vực kinh tế. Cụ thể là: Ngân hàng Ngoại thơng hoạt động về lĩnh vực
đối ngoại, nh kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế; Ngân hàng Công
thơng hoạt động trong lĩnh vực công thơng nghiệp; Ngân hàng nông
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và Ngân hàng đầu t hoạt động
trong lĩnh vực đầu t. Nh vậy, chỉ duy nhất có Ngân hàng Ngoại thơng là đợc
phép hoạt động và kinh doanh ngoại hối, thanh toán quốc tế và mở tài
khoản ở nớc ngoài; các ngân hàng khác chỉ đợc hoạt động trong nớc.
Nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới của đất nớc, bảo vệ độc lập và chủ quyền về
tiền tệ, phát triển nền kinh tế quốc dân, góp phần mở rộng quan hệ về kinh
tế, chính trị và văn hoá với nớc ngoài, ngày 18/10/1988, Hội đồng Bộ trởng
đã ban hành Nghị định số 161/ HĐBT về Điều lệ quản lý ngoại hối của
giá mua bán của Ngân hàng đợc phép dựa trên cơ sở tỷ giá chính thức do
NHNN công bố cộng trừ 5% và chênh lệch giữa tỷ giá mua bán quy định là
0,5%.
Cho dù có những bớc chuyển biến, nhng ở Việt Nam vẫn thiếu vắng một thị
trờng ngoại hối chính thức hoàn chỉnh hơn để chắp nối cung cầu ngoại tệ và
tạo cơ sơ xác định tỷ giá chính thức một cách khách quan sát với quan hệ
cung cầu trên thị trờng, nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, đầu t nớc
ngoài và thu hút nguồn lực ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng. Đứng trớc tình
hình đó, Thống đốc NHNN đã ra Quyết định số 107-Nh/QĐ, ngày
16/8/1991 ban hành quy chế hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ đã
đợc thành lập và đi vào hoạt động tại TP.HCM và Hà Nội.
2. Thời kỳ 1991-1994
Thời kỳ 1991-1994 là giai đoạn tiếp theo của quá trình chuyển đổi theo h-
ớng thị trờng. Trong giai đoạn này đứng về phơng diện thanh toán quốc tế,
Việt Nam đứng trớc một tình thế vô cùng khó khăn. Thị trờng với các nớc
XHCN cũ bị thu hẹp đáng kể, bên cạnh hệ thống thanh toán đa biên bị tan
rã, tất cả các nớc XHCN đều đồng loạt chuyển đổi đồng tiền thanh toán với
Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi( chủ yếu bằng USD). Việc
chuyển đổi đồng tiền thanh toán có ảnh hởng lớn đến khả năng thanh toán
của Việt Nam bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Vì từ trớc năm 1991, hầu hết
nguồn thu ngoại tệ của Việt Nam đều bằng đồng Rúp chuyển nhợng, chỉ có
một tỷ lệ nhỏ bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Cán cân vãng lai và cán cân
thơng mại của Việt Nam thâm hụt lớn, nhập khẩu gấp 3 lần xuất khẩu, sự
thiếu hụt trong cán cân thơng mại đợc bù đắp bằng các khoản viện trợ, cho
vay của các nớc XHCN và chủ yếu là Liên Xô cũ.
Đứng trớc tình thế hết sức khó khăn về cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế
và nhu cầu bức bách về ngoại tệ cho thanh toán quốc tế, một câu hỏi đặt ra
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
10
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
tiêu dùng.
- Khuyến khích sản xuất lơng thực: Lơng thực đối với nớc ta là một mặt
hàng chiến lợc, quốc kế dân sinh. Trong những năm trớc năm 1990 sản
xuất lơng thực nớc ta cha đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc, hàng
năm nhà nớc phải bỏ ra một lợng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu lơng
thực cho nhu cầu của đất nớc. Từ khi Chính phủ tập trung chỉ đạo và có
chính sách khuyến khích lơng thực thì nguồn lơng thực của Việt Nam đã
không những đáp ứng đợc nhu cầu trong nớc mà Việt Nam đã trở thành
nớc xuất khẩu gạo lớn trên thị trờng quốc tế. Việc ta xuất khẩu đợc gạo
đã tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ tăng cung và giảm cầu ngoại tệ của nền
kinh tế.
Ngoài 3 chơng trình kinh tế lớn tác động tích cực đến cung cầu ngoại tệ trên
thị trờng ngoại hối thì chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài trực tiếp
vào Việt Nam cũng nh các nguồn chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền đơn
phơng khác đã làm cho nguồn ngoại tệ của nền kinh tế ngày một tăng.
b. Về phía NHNN:
Là cơ quan đợc Nhà nớc giao cho trọng trách quản lý nguồn ngoại tệ vào và
ra của nền kinh tế, phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát triển kinh tế của đất n-
ớc và xây dựng điều hành chính sách tỷ giá và quản lý ngoại hối của Việt
Nam. Trong thời gian đó, NHNN đã đề xuất với Chính phủ thành lập Quỹ
điều hoà ngoại tệ tại NHNN để tập trung đáp ứng nhu cầu cần thiết của nền
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
11
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
kinh tế trong những giai đoạn đầu còn khó khăn và can thiệp TTNH nhằm
ổn định tỷ giá. Đồng thời năm 1991 là năm đánh dấu mốc lịch sử về việc
hình thành nền móng cho TTNH Việt Nam, đó là việc Thống đốc NHNN ra
quyết định số 107-NH/QĐ ngày 16/8/1991 về việc ban hành Quy chế tổ
chức và hoạt động của Trung tâm giao dịch ngoại tệ (TTGDNT). Trên cơ sở
Quy chế này, hai Trung tâm giao dịch ngoại tệ tại TP.HCM và Hà Nội lần l-
ời tổ chức và điều hành, NHNN đã kịp thời nắm bắt cung cầu ngoại tệ trên
thị trờng để điều hành chính sách tiền tệ cũng nh tỷ giá phù hợp với tín hiệu
thị trờng và hớng nhu cầu ngoại tệ vào các mục tiêu thiết yếu của nền kinh
tế.
Việc các NHTM và các tổ chức kinh tế có hoạt động ngoại tệ lớn
giao dịch tại hai trung tâm là bớc tập dợt đầu tiên trong giao dịch mua bán
ngoại tệ theo cơ chế thị trờng. Tỷ giá VNĐ/USD đợc hình thành theo quan
hệ cung cầu một cách tơng đối khách quan. Cách thức giao dịch mua bán
ngoại tệ tại hai trung tâm theo phơng thức đấu giá. Khi cung lớn hơn cầu thì
tỷ giá giảm và ngợc lại.
Trong thời kỳ đầu, cung ngoại tệ còn thấp hơn cầu ngoại tệ khá lớn,
nếu để tỷ giá hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu, thì tỷ giá sẽ biến
động rất mạnh, điều này sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thống giá cả, hoạt
động xuất nhập khẩu và đầu t. Vì vậy, thông qua hình thức can thiệp của
NHNN, tỷ giá chỉ biến động với một mức độ hợp lý, một mặt vẫn phản ánh
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
12
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
xu hớng quan hệ cung cầu nhng mặt khác không gây những biến động lớn
về mức giá cả, đồng thời tạo một tâm lý ổn định cho các nhà đầu t trong và
ngoài nớc cũng nh dân chúng yên tâm đầu t và gửi tiền để phát triển kinh tế.
Sau một thời gian dài từ 1991 đến 1993, tỷ giá đợc duy trì ổn định đã
tạo tâm lý ổn định cho thị trờng và thu hút đợc một lợng kiều hối và đầu t n-
ớc ngoài khá lớn vào Việt Nam, mặt khác việc duy trì lãi suất thực dơng của
VNĐ cao đã khuyến khích các tổ chức, cá nhân bán ngoại tệ để gửi VNĐ.
Cả hai yếu tố trên đã đồng thời ảnh hởng tích cực đến sự ổn định giá trị
VNĐ và tăng dự trữ ngoại tệ quốc gia, ổn định giá trị VNĐ không phải chỉ
về danh nghĩa mà cả giá trị thực của nó. Việc ổn định tỷ giá có ảnh hởng tốt
đến mặt bằng trong nớc dẫn đến chỉ số lạm phát đợc duy trì ở mức chấp
nhận đợc và có chiều hớng giảm, trong khi tốc độ tăng trởng kinh tế của
quốc tế, từng bớc thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam trong
các hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của Việt
Nam, tăng cờng sự giám sát và quản lý ngoại hối của Nhà nớc, chính phủ
đã ra nghị định số 63/1998 NĐ- CP về quản lý ngoại hối, thay thế nghị
định số 161-HĐBT ngày 18/10/1988 của hội đồng bộ trởng ban hành điều
lệ quản lý ngoại hối của nớc CHXHCN Việt Nam.
Nghị định quản lý ngoại hối đã bổ sung nhiều nội dung mới mà từ tr-
ớc đến nay cha có, bao gồm:
- Phân định rõ khái niệm về ngời c trú và ngời không c trú nhằm thuận lợi
cho công tác quản lý ngoại hối của nhà nớc.
- Phân định rõ giao dịch vãng lai với giao dịch vốn.
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
13
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
- Quy định cụ thể về việc phát hành giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ.
- Quy định nguyên tắc xác định tỷ giá của VNĐ.
- Quy định về việc mở tài khoản ở nớc ngoài và việc sử dụng ngoại tệ.
- Quy định về việc chuyển ngoại tệ vào và ra khỏi Việt Nam đối với các tổ
chức và cá nhân.
- Quy định nghĩa vụ bán ngoại tệ và quyền đợc mua ngoại tệ của các tổ
chức.
- Quy định cụ thể về việc hoạt động ngoại hối của các TCTD và bàn thu
đổi ngoại tệ, quản lý vàng tiêu chuẩn quốc tế
Có thể nói nghị định quản lý ngoại hối đã đa ra một khung pháp lý
hoàn chỉnh đối với việc quản lý và sử dụng ngoại tệ trong các giao dịch
thanh toán quốc tế, đánh dấu một bớc tiến trong công tác quản lý và khẳng
định mục tiêu quản lý ngoại hối cũng nh chủ quyền của đồng Việt Nam
trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong những năm gần đây, nhất là năm 2004 và 2005 , TTNH đã đạt
đợc những thành công nhất định, đặc biệt là sự thay đổi cơ bản trong cơ chế
tỷ giá kỳ hạn sẽ do các NHTM tự xác định trên cơ sở lãi suất giữa hai đồng
tiền. Phơng án này hoàn toàn phù hợp với cơ chế thả nổi của lãi suât . Mỗi
NHTM có một mức lãi suất khác nhau, mỗi kỳ hạn lại có một mức trần
khác nhau nên để có một cách tính thống nhất, việc xác định điểm kỳ hạn
sẽ đựơc tính toán trên cơ sở chênh lệch lãi suất giữa : lãi suất cơ bản của
đồng Việt Nam ( do NHNN công bố hàng tháng) và lãi suất cơ bản của cục
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
14
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
dự trữ liên bang Mỹ. Đây là hai mức lãi suất cơ bản của hai đồng tiền
( USD và VND) làm cơ sở cho các NHTM Việt Nam và Mỹ đặt mức lãi
suất tơng ứng cho VNĐ và USD. Đồng thời NHNN cho các TCTD đợc giao
dịch kỳ hạn, hoán đổi giữa đồng VN với ngoại tệ với kỳ hạn từ 3 đến 365
ngày.
Thứ hai, về phát triển TTNH:
Trong năm 2004 NHNN cũng không ngừng hoàn thiện các công cụ thị tr-
ờng nh chỉnh sửa các qui định về giao dịch kỳ hạn theo hớng ngày càng tự
do hoá để chu chuyển ngoại tệ đạt đến trạng thái cân bằng, đồng thời tiếp
tục bổ sung các điệu kiện thông thoáng về giao dịch hoán đổi để cơ chế tự
do hoá lãi suất phát huy tác dụng tạo cung trên thị trờng ngoại tệ. Tiếp theo
Quyết định số 648/2004/QĐ-NHNN qui định cơ chế tự thoả thuận tỷ giá
kỳ hạn giữa NHTM với khách hàng trên cơ sở chênh lệch lãi suất, NHNN
cũng cho phép một số Ngân hàng làm thí điểm nghiệp vụ Option ngoại tệ
và kinh doanh vàng trên tài khoản ở nớc ngoài nhằm tạo điều kiện cho các
NHTM tiếp cận với các công cụ mới trên thị trờng quốc tế.
Đặc biệt để khắc phục những hạn chế về Quy chế giao dịch hối đoái cha bắt
kịp với sự phát triển của thị trờng ngoại hối, nh vấn đề cấp giấy phép giao
dịch kỳ hạn, hoán đổi phần nhiều còn mang tính hình thức;các loại hình
giao dịch còn đơn giản; vấn đề thu phí trong mua bán ngoại tệ cha hợp lý;
các điều khoản trong hợp đồng quá chi tiết và không còn phù hợp với cơ
song không quy định chi tiết từng chứng từ cần thiết mà chỉ nêu nguyên tắc
của chứng từ hợp pháp để đề cao trách nhiệm của các TCTD. Đặc biệt trong
phần chứng từ, đã tháo gỡ các vớng mắc cho giao dịch hoán đổi, chuyển đổi
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
15
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
ngoại tệ ( cho phép thực hiện không cần chứng từ) để tăng khả năng chu
chuyển ngoại tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế.
Thứ t, mở rộng phạm vi giao dịch( cho phép làm kỳ hạn và quyền lựa
chọn) cho đối tợng khách hàng là cá nhân là các tổ chức khác nhằm tạo
thêm công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá cho các đối tợng này, đồng thời
khuyến khích khách hàng bán ngoại tệ cho NH với mức tỷ giá kỳ hạn linh
hoạt hơn.
Thứ năm, bỏ giấy phép kỳ hạn hoán đổi, quyền lựa chọn tiền tệ đối với
các TCTD đợc phép hoạt động ngoại hối, coi đây là nội dung của các giấy
phép hoạt động ngoại hối.
Với hàng loạt những điểm đổi mới cơ bản về t duy quản lý theo hớng thông
thoáng, linh hoạt hơn và đề cao sự tuân thủ và phù hợp với thông lệ quốc tế,
tạo điều kiện cho các công cụ thị trờng đợc phát triển và phát huy quyền tự
chủ trong kinh doanh của các TCTD và khách hàng. việc đa quyết định
1452/2004/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN vào thực hiện chắc chắn sẽ
mở ra cánh cửa mới cho sự phát triển vợt bậc và uyển chuyển hơn nữa của
TTNH Việt Nam trên con đờng hội nhập khu vực và quốc tế, là đòn bẩy cho
sự phát triển kinh tế đối ngoại và thu hút đầu t trong năm 2005 và các năm
tiếp theo.
4. Những vấn đề tồn tại cần sớm đợc giải quyết
4.1. Cơ chế can thiệp và điều tiết thị trờng của Nhà nớc vẫn còn những bất
cập nhất định
Một là, việc bán ngoại tệ của Ngân sách Nhà nớc, nhất là nguồn thu từ xuất
khẩu dầu thô cha kịp thời. Do đó, nhiều thời điểm số d tiền gửi ngoại tệ của
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
những vậy còn chịu rủi ro về tỷ giá và lãi suất do biến động của thị trờng
tiền tệ quốc tế. Do đó, cần phải làm thế nào để sử dụng nguồn ngoại tệ các
NH đang nắm giữ, giảm bớt vốn vay nớc ngoài là vấn đề khá nan giải.
4.2. Ngoại tệ trôi nổi ngoài sự kiểm soát:
ở Việt Nam thị trờng ngoại tệ tự do ( còn gọi là thị trờng không chính thức
hay chợ đen) không đợc pháp luật công nhận, hoạt động của nó là phi pháp,
nhng trên thực tế thì thị trờng ngoại tệ tự do vẫn tồn tại và phát triển song
song với thị trờng có tổ chức( còn gọi là thị trờng chính thức).Các hình thức
hoạt động của nó bao gồm:
- Các cửa hàng kinh doanh vàng bạc đá quý đồng thời kinh doanh mua
bán ngoại tệ tiền mặt.
- Chuyển tiền kiều hối, chuyển tiền qua biên giới không thông qua hệ
thống ngân hàng dới nhiều hình thức khác nhau.
- Các sạp đổi tiền dọc theo biên giới nơi có các hoạt động buôn lậu diễn
ra.
- Các hoạt động mua bán khác trong dân c.
Phơng thức giao dịch mua bán chủ yếu trên thị trờng ngoại tệ tự do là ph-
ơng thức trao tay. Đồng tiền giao dịch chủ yếu là USD, ngoài ra có một số
ngoại tệ khác nhng khối lợng không đáng kể.
Tỷ giá giao dịch trên thị trờng tự do do cung cầu trên thị trờng này quyết
định, tuy nhiên nó cũng chịu sự chi phối của thị trờng chính thức.
Lợng ngoại tệ do các tầng lớp dân c nằm ngoài hệ thống ngân hàng là rất
lớn, theo ớc tính có thể đến 5 tỷ USD. Riêng lợng kiều hối chuyển về Việt
Nam năm 2000 theo ớc tính lên đến hơn 2 tỷ USD. Việc thanh toán và giao
dịch mua bán bằng USD là khá phổ biến trong xã hội.
Những nguyên nhân chính khiến cho thị trờng ngoại tệ tự do vẫn tồn tại và
phát triển ở Việt Nam là:
- Trong một thời gian dài, chế độ tỷ giá VNĐ về cơ bản là chế độ tỷ giá
cố định, lại trải qua lạm phát cao, đã làm cho tỷ giá chính thức
đếm, bảo quản, cao. Trớc kia mệnh giá Đồng Việt Nam cao nhất mới
chỉ có tờ 100 000 đồng, quy đổi ra chỉ tơng đơng 6 USD. Trong khi đó
chỉ cần 100USD đã tơng đơng gần 1.600.000 đồng, hay nếu cần thanh
toán khoản mua nhà đất trị giá 1.6 tỷ đồng trong quan hệ dân c, thì chỉ
cần 1000 tờ loại 100USD, thay cho phải vận chuyển và kiểm đếm tới
1.600 bó tiền 100 tờ/ bó loại 100.000 đồng. Hiện nay, Ngân hàng nhà n-
ớc đã phát hành và cho vào lu thông tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, hy
vọng rằng đồng Việt Nam sẽ đợc a chuộng nhiều hơn.
4.4. Hệ thống Ngân hàng đang trong quá trình tiếp tục đổi mới mạnh mẽ,
công nghệ cha phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt cha đ-
ợc mở rộng, các hoạt động của Ngân hàng cha thu hút đợc tối đa lợng
ngoại hối có trong dân c.
5. Giải pháp
- Về phía Nhà nớc: Thứ nhất, cần phải có các biện pháp linh hoạt và sát
thực tế hơn về điều hành lãi suất, điều hành tỷ giá, tỷ lệ dự trữ bắt buộc
bằng ngoại tệđể tạo ra những hấp dẫn cần thiết về lợi ích kinh tế cho
ngời dân để họ gửi ngoại tệ hay bán ngoại tệ cho Ngân hàng. Cần phải
chấp nhận một thực tế là có thể giảm tình trạng đô la hoá trong xã hội,
và sẽ tăng tình trạng đô la hoá tài sản có trong các NHTM. Tức là thu
hút tối đa ngoại tệ trong xã hội vào các NH và mở rộng cho vay, còn lợi
hơn là để ngoại tệ lu thông trôi nổi trong xã hội, NH không quản lý đợc.
Thứ hai, trong danh mục các đơn vị trong nớc đợc phép bán hàng và
cung cấp dịch vụ thu bằng ngoại tệ, cần giảm thiểu tới mức thấp nhất,
đồng thời tăng cờng kiểm tra và xử phạt thật nghiêm tình trạng tuỳ tiện
thanh toán mua bán bằng ngoại tệ. Cần cho phép ngời nớc ngoài đổi ng-
ợc lại ngoại tệ, không lo sợ tình trạng đào hối. Tức là khi khách du lịch
quốc tế, các thơng gia chính khách nớc ngoài đến VN thì đổi ngoại tệ
lấy VND để chi tiêu, khi xuất cảnh thì đổi VND lấy ngoại tệ để mang ra.
Thứ ba, phạm vi uỷ quyền cấp phép cũng cần đợc thực hiện ở tất cả các
tỉnh, thành phố, thậm chí cần uỷ quyền cho các chi nhánh NHTM Nhà
buôn lậu, cải cách mạnh mẽ các lĩnh vực hải quan và góp phần tạo môi
trờng cho phát triển thị trờng tài chính và cạnh tranh phát triển dịch vụ
tài chính trên địa bàn.
Cấp uỷ, chính quyền và các ban ngành hữu quan của các tỉnh, thành phố
phối hợp cùng ngành ngân hàng chỉ đạo, tổ chức triển khai các biện pháp cụ
thể, thực hiện nhất quán mục tiêu trên đất nớc VN chỉ sử dụng Đồng VN.
Bên cạnh việc ổn định giá trị đồng tiền VN, mục tiêu xa hơn là phải làm sao
để nâng cao khả năng chuyển đổi của Đồng Việt Nam, trớc hết biến Đồng
Việt Nam thành đồng tiền chuyển đổi trong các giao dịch vãng lai. Giải
pháp này chủ yếu thực hiện ở phạm vi chung, ở tầm vĩ mô, với chiến lợc
phát triển kinh tế của Nhà nớc, sự chỉ đạo cụ thể của Chính phủ, chơng trình
hành động cụ thể và sự phối hợp đồng bộ của các ngành có liên quan, nh:
NHNN, Bộ tài chính,Nó bao gồm nhiều nội dung; trong đó quan trọng là
cần thúc đẩy nhanh nền kinh tế một cách vững chắc theo xu hớng chuyển
mạnh sang xuất khẩu. Việc tăng xuất khẩu sẽ làm tăng nhu cầu bổ sung về
đồng bản tệ trên TTNH và làm tăng sức mua quốc tế của đồng bản tệ. Tuy
nhiên xu hớng lên giá của đồng bản tệ chỉ xảy ra trong ngắn hạn. Đây quả
là một giải pháp mang tầm vĩ mô vì nền một kinh tế tăng trởng vững chắc
luôn là mục tiêu phấn đấu của bất kỳ quốc gia nào, điều cơ bản là phải làm
sao để đạt đợc điều đó. Có lẽ chúng ta nên bắt đầu với những mục tiêu cụ
thể hơn nh cố gắng giảm thâm hụt cán cân vãng lai, ngăn chặn tình trạng
buôn lậu, tạo các khuôn khổ pháp lý khác cho sự chuyển đổi của Đồng Việt
Nam.Việc giảm thâm hụt cán cân vãng lai là rất quan trọng. Nếu cán cân
vãng lai là thặng d thì dự trữ chính thức sẽ tăng hoặc cán cân vốn sẽ âm,
hoặc đồng thời cả hai. Một quốc gia nếu có thặng d cán cân vãng lai thờng
xuyên và dài hạn thị đồng tiền nớc đó sẽ có xu hớng lên giá. Để giảm thâm
hụt cán cân vãng lai, chính phủ có thể bù đắp nó bằng các nguồn thu đợc từ
đầu t nớc ngoài. Ngày nay, việc thâm nhập các thị trờng vốn đối với một số
đồng tiền chính là rất dễ dàng và các thị trờng này có độ thanh khoản cao.
Chỉ cần tồn tại một chênh lệch vừa phải trong tỷ lệ sinh lời thực( sau khi đã
qua hoạt động của NHTW là biện pháp tốt nhất để giảm thâm hụt cán cân
vãng lai.
Đối với những đồng tiền có cơ chế tỷ giá cố định, thì can thiệp của chính
phủ thông qua hoạt động của NHTW trên thị trờng mở là bắt buộc, nhằm
duy trì tỷ giá chỉ đợc biến động trong một biên độ nhất định. Đối với những
đồng tiền có tỷ giá thả nổi, can thiệp của chính phủ là tuỳ ý, không bắt
buộc. Trong cả hai trờng hợp, trong giới hạn về dự trữ ngoại hối nhằm cố
gắng duy trì ổn định tỷ giá của đồng bản tệ. Để duy trì giá trị đồng bản tệ,
NHTW mua vào đồng bản tệ khi nó giảm giá và bán ra khi nó lên giá trong
giới hạn dự trữ chính thức và khả năng đi vay của mình.
Hoạt động can thiệp của NHTW trên TTNH đợc phản ánh thông qua dự trữ
ngoại hối của NHTW. Về mặt lý thuyết, do dự trữ ngoại hối chỉ là có hạn,
cho nên nhìn chung, hoạt động can thiệp của NHTW trên TTNH gây ảnh h-
ởng trực tiếp lên tỷ giá trong ngắn hạn, chứ không ảnh hởng trong dài hạn.
Tuy nhiên, thực tế đã thừa nhận rằng, các chính phủ và các NHTW có thể
tác động làm cho tỷ giá danh nghĩa thay đổi trong dài hạn thông qua thực
hiện chính sách tài khoá và tiền tệ, trong đó sự can thiệp của NHTW đợc
xem nh phát tín hiệu quan trọng cho thị trờng. Các hoạt động thị trờng mở
có thể đợc sử dụng để phát tín hiệu về những mong muốn của NHTW, và
trên cơ sở đó sẽ điều chỉnh thái độ của các thành viên tham gia thị trờng.
Nh đã trình bày ở trên, các chính phủ có thể trực tiếp ảnh hởng làm thay đổi
giá trị đồng bản tệ, nếu họ muốn, các phơng pháp can thiệp thờng dùng có
thể nêu ra nh sau:
1. Chính sách tài khoá và tiền tệ quốc nội;
2. Kiểm soát giá cả và tiền lơng;
3. Các kiểm soát trực tiếp, nh thuế quan, hạn ngạch thơng mại và
kiểm soát ngoại hối.
Tất cả các phơng pháp này có thể gây nên ảnh hởng xấu đáng kể đến phát
triển kinh tế và công ăn việc làm. Thực tế cho thấy hầu hết các chính phủ
đều không muốn để cho tỷ giá biến động một cách tự do mà thờng coi yếu
17,5
16,4
11,3
4,7
9,6
-11,3
-11,6
-14,3
-16,5
-22,4
-25,5
-2,1
-2,8
-4,1
-4,1
-1,9
-0,7
-6,1
3,1
-2,0
-9,3
-19,6
-16,2
*Số dự đoán
Chúng ta thấy rằng, thu nhập đầu t ròng là những số âm rất lớn, kéo theo là
cán cân vãng lai cũng ở trạng thái âm thờng xuyên và cũng lớn. Điều này đã
tạo ra một áp lực tiềm năng khiến cho CAD giảm giá. Trong trờng hợp này
của Canada, áp lực giảm giá của CAD đã đợc làm dịu đi bởi các luồng vốn
chảy vào rất mạnh do chính sách lãi suất cao của CAD. Chúng ta thấy rằng,
ngoại tệ, các chi nhánh đợc giao dịch hối đoái với phạm vi rộng lớn hơn.
+ Cần nghiên cứu đa ra dần dần từng bớc đồng Việt Nam có mệnh giá
cao hơn. Tiến tới có thể phát hành loại tiền mệnh giá 1.000.000 đồng.
Trongthực tế NHNN đã cho phép sử dụng Ngân phiếu thanh toán 5 triệu
đồng, nên việc đa ra lu thông Đồng Việt Nam có mệnh giá cao nh trên
không có gì đáng ngại, nhất là thu nhập bình quân củangời dân tăng lên.
Trong số các giải pháp nêu trên thì theo quan điểm của em, giải pháp
đối với các NHTM là cụ thể và mang tính khả thi nhất. Các NH cần chú
trọng hơn nữa trong công tác đào tạo và tuyển dụng những cán bộ NH có đủ
năng lực và tinh thần trách nhiệm để có thể đóng góp những ý kiến, những
ý tởng mang tính thực tế nhằm hoàn thành suất sắc nhiệm vụ đợc giao. Về
phía Nhà nớc, điểm trớc mắt có thể làm đợc là song song với việc đa ra
cácgiải pháp thì cần phải tiến hành triển khai để các biện pháp đó thực sự đi
vào đời sống, mang lại hiệu quả thiết thực hơn. Việc tổ chức, điều hành bộ
máy nhà nớc cần mang tính dân chủ hơn, tránh hiện tợng tham ô tham
nhũng. Thiết nghĩ với thực tế ở nớc ta hiện nay, làm sao để đẩy lùi nạn tham
ô, tham nhũng, góp phần nâng cao lòng tin của dân chúng đối với Nhà nớc
là một việc làm rất cần thiết và có thể làm đợc nếu có sự phối hợp và quyết
tâm tất cả công chức và dân chúng
.
Kết luận
Bớc sang thế kỷ 21, điều không thể đảo ngợc đó là xu hớng quốc tế
hoá nền kinh tế ngày càng trở nên mạnh mẽ; tự do hoá thơng mại, đầu t và
tài chính diễn ra với cờng độ và quy mô cha từng có. Sự hội nhập của nền
kinh tế Việt Nam thông qua cơ chế thị trờng mở là nhu cầu khách quan có
tính quy luật tất yếu. Với vai trò nh là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội địa
với kinh tế thế giới bên ngoài, thì việc phát triển và hoàn thiện TTNH Việt
Nam theo hớng toàn diện, hiện đại phù hợp với chuẩn mực quốc tế là cần
thiết. Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu về TTNH ở Việt Nam, em thấy
TTNH Việt Nam trong thời gian qua đã có những bớc phát triển đáng ghi
hành tỷ giá trớc yêu cầu hội nhập- Tạp chí Thị trờng tài chính tiền tệ
15.6.2004.
7. Đào Tuấn- Thị trờng ngoại hối khởi sắc- Tạp chí thị trờng tài chính
tiền tệ 1.3.2005.
8. Thế Anh- Bớc đột phá mới trên thị trờng ngoại hối Việt Nam trong
năm 2005- Tạp chí Thị trờng tài chính tiền tệ 1.5.2005.
9. GS. Đinh Xuân Trình- Những bất cập của thị trờng ngoại hối ở Việt
Nam- Tạp chí Kinh tế đối ngoại- Số 7( 3/2004).
10. TS. Nguyễn Thị Kim Nhung- Sự phát triển của thị trờng ngoại hối
Việt Nam. Thực trạng và giải pháp- Tạp chí Chứng khoán Việt Nam.
Số 12 tháng 12 năm 2003.
Đào Thị Thu Hằng - Lớp Ngân hàng 44A
23
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Mục lục
Trang
Lời mở đầu 1
Nội dung 2
I. Những vấn đề cơ bản về TTNH 2
1. Khái niệm 2
1.1. Ngoại tệ: 2
1.2. Các phơng tiện thanh toán quốc tế ghi bằng ngoại tệ, thờng gồm
có: 2
1.3. Các chứng khoán có giá ghi bằng ngoại tệ nh: 2
1.4. Vàng, bạc, kim cơng, ngọc trai, đá quýđợc dùng làm tiền tệ 2
1.5. Tiền của Việt Nam dới các hình thức sau đây: 2
2. Đặc điểm của TTNH 2
3. Vai trò của TTNH 3
4. Cấu trúc của TTNH 3
4.1. Các chủ thể tham gia TTNH 3