Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
Lời nói đầu
Thuỷ sản là một trong những ngành sản xuất kinh doanh, một ngành
hoạt động kinh tế nằm trong tổng thể các hoạt động kinh tế của xã hội. Thuỷ
sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại,
không những thế, nó còn là một ngành kinh tế tạo công ăn việc làm cho nhiều
cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển, là
nguồn thu trực tiếp và gián tiếp cho một bộ phận nhân dân làm nghề khai
thác, nuôi trồng, chế biến thơng mại và dịch vụ hậu cần cho ngành khai
thác hải sản. Thuỷ sản cũng có những đóng góp đáng kể cho sự khởi động và
sự tăng trởng kinh tế nói chung của nhiều nớc trong đó có Việt Nam.
Nhu cầu thuỷ sản cho nhân loại ngày càng tăng trong khi nguồn lợi tự
nhiên của các tài nguyên này lại có giới hạn và đã bị khai thác tới trần, vì vậy
ngành nuôi trồng thuỷ sản đã đợc phát triển để bù đắp vào những sự thiếu hụt
đó. Ngày nay, nuôi trồng thuỷ sản đã cung cấp đợc khoảng 27% tổng sản lợng
thuỷ sản thế giới, nhng chiếm gần 35% sản lợng thuỷ sản dùng làm thực
phẩm. ở Việt Nam, nhu cầu chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản ngày càng
lớn, nó đáp ứng tốc độ phát triển cao của ngành và đảm bảo phát triển bền
vững. Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản ở Việt Nam nhấn mạnh cả khai
thác, nuôi trồng thuỷ sản và xuất khẩu thuỷ sản. Trong khai thác thuỷ sản
chuyển dịch nội tại trong tiểu ngành ở các lĩnh vực theo hớng chuyển từ khai
thác gần bờ sangkhai thác xa bờ kết hợp với nghề nuôi ven biển. Phát triển
nuôi trồng thuỷ sản , các loài thuỷ đặc sản có giá trị xuất khẩu cao. Hiện đại
hoá các cơ sở chế biến, công nghệ chế biến đẩy mạnh thơng mại thuỷ sản.
Bớc vào thập kỷ 90, ngành Thuỷ sản Việt Nam có sự phát triển nổi trội
trên các mặt, chuyển dịch cơ cấu ngành đạt đợc những thành tựu về tốc độ
chuyển dịch và chất lợng cơ cấu ngành. Chuyển dịch cơ cấu ngành thực sự là
động lực để phát triển ngành Thuỷ sản bớc vào giai đoạn hội nhập. Trên những
cơ sở đó, em đã đi vào nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ sản thực hiện chiến lợc phát triển thuỷ sản đến năm 2010
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
nó đảm bảo sản xuất theo nhu cầu thị trờng. Cơ cấu thành phần kinh tế là lực
lợng để thực hiện cơ cấu ngành. Cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu thành phần
kinh tế chỉ có thể chuyển dịch đúng đắn trên từng vùng lãnh thổ, cho nên việc
phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý để phát triển ngành và thành
phần kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng.
Cơ cấu ngành trong cơ cấu kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành các t-
ơng quan tỉ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành đó trong nền kinh tế
quốc dân. Mối quan hệ giữa các ngành không chỉ biểu hiện về mặt định tính
mà còn đợc tính toán thông qua tỉ lệ giữa các ngành. Nh vậy, cơ cấu ngành là
mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, mối quan hệ này
bao hàm cả về mặt số lợng và chất lợng, chúng thờng xuyên biến động và h-
ớng vào những mục tiêu đợc đề ra trong một thời kỳ nhất định.
Do cơ cấu ngành luôn luôn vận động và phát triển, nhất là trong điều
kiện cơ chế thị trờng nên khi phân tích cơ cấu ngành cần thấy rõ tính quy luật
của sự vận động và luôn đặt ra phơng hớng chuyển dịch cơ cấu cho thích ứng
với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng giai đoạn.
b) Khái niệm cơ cấu ngành thuỷ sản:
Trên cơ sở phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá và nhu cầu
quản lý, nhiều ngành mu sinh dựa trên việc sử dụng các đối tợng sinh vật cụ
3
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
thể (cá, tôm, rong câu, nhuyễn thể) ở các khu vực khác nhau (nớc ngọt, nớc
lợ, nớc mặn) và những hoạt động sản xuất cũng khác nhau (khai thác, nuôi
trồng, chế biến) kết hợp hữu cơ với nhau đòi hỏi một cơ cấu gắn bó, bổ
sung, hỗ trợ cho nhau nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý, hình thành nên
cơ cấu ngành thuỷ sản.
Cơ cấu ngành thuỷ sản là tổ hợp các tiểu ngành, chúng có mối quan hệ
với nhau về cả lợng và chất, tỉ lệ này biến đổi nhằm đáp ứng các mục tiêu phát
triển của toàn ngành trong một thời kỳ nhất định. Các tiểu ngành và các lĩnh
vực sản xuất kinh doanh trong ngành thuỷ sản bao gồm: khai thác, nuôi trồng,
Chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế thành công hay thất bại phụ
thuộc rất nhiều vào khâu quyết định chủ trơng chuyển dịch và tổ chức thực
hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. ở đây, nhà nớc có vai trò quyết định
trong việc hoạch định chủ trơng và chính sách kinh tế vĩ mô, còn các doanh
nghiệp thì có vai trò quyết định việc thực thi phơng hớng, nhiệm vụ chuyển
dịch.
b) Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản:
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản là sự thay đổi cơ cấu ngành Thuỷ
Sản từ trạng thái này sang trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn dới tác động
của nhiều yếu tố (Thị trờng, giá cả, kinh tế, xã hội) theo mục tiêu đặt ra
trong từng thời kỳ nhất định. Trong qúa trình chuyển dịch, cơ cấu ngành Thuỷ
Sản có sự thay đổi tỉ lệ cả về mặt lợng và mặt chất. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản ở Việt Nam đợc gắn liền với Công Nghiệp Hoá và Hiện
Đại Hoá theo hớng xuất khẩu.
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản ở mỗi thời kỳ khác nhau
không giống nhau, nó nhằm vào sự phát triển chung của ngành Thuỷ Sản và sự
phát triển bền vững của ngành. Vấn đề phát triển bền vững của ngành Thuỷ
Sản những năm gần đây đợc đề cập rất lớn và cũng do vậy chuyển dịch cơ cấu
ngành Thuỷ Sản cũng diễn ra mạnh mẽ hơn: chuyển dịch cơ cấu ngành không
chỉ đợc đề cập ở các tiểu ngành cấu thành nên ngành mà còn ở cả trong nội bộ
của các tiểu ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Chủ trơng chuyển dịch
cơ cấu ngành Thuỷ Sản của Bộ Thuỷ Sản và nhà nớc là: cơ cấu lại hợp lý giữa
các tiểu ngành tạo sự phát triển cân đối giữa các bộ phận trong ngành, chuyển
dịch cơ cấu giữa nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, đẩy mạnh chế biến thơng
mại thuỷ sản theo hớng xuất, đa ngành Thuỷ Sản trở thành ngành mũi nhọn
trong công cuộc phát triển đất nớc. Nét đặc biệt trong chuyển dịch cơ cấu
ngành Thuỷ sản Việt Nam là chú trọng cả nuôi trồng, khai thác, xuất khẩu
thuỷ sản.
Trong nuôi trồng chú ý cải tạo giống, khai thác bảo vệ môi trờng cùng
nguồn lợi thuỷ sản. Trong đánh bắt, khai thác chú trọng kết hợp khai thác gần
nền kinh tế.
Xuất phát từ yêu cầu khai thác lợi thế của ngành: Tiềm năng để phát
triển ngành thuỷ sản Việt Nam là rất lớn cả về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi
thuỷ sản. Ngành thuỷ sản Việt Nam có đợc những lợi thế phát triển hơn hẳn
những ngành khác, đặc biệt trong cơ cấu nông - lâm - ng nghiệp. Xuất phát từ
những lợi thế phát triển ngành nó đã đặt ra những yêu cầu cần phải chuyển
dịch cơ cấu ngành, phát huy hết lợi thế trên từng tiểu ngành, từng lĩnh vực sản
xuất kinh doanh, từng sản phẩm tiêu thụ. Ngành thuỷ sản trong giai đoạn gần
đây đã chiếm một vị trí quan trọng trong phát triển nền kinh tế đặc biệt trong
kim ngạch xuất khẩu. Ngành thuỷ sản muốn phát triển cần phải xây dựng một
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
cơ cấu ngành hợp lý đáp ứng đợc các nhu cầu về phát triển ngành trong thời
gian tới.
Yêu cầu khách quan của sự nghiệp CNH-HĐH: Ngành thuỷ sản cũng
nh các ngành khác trong nền kinh tế đều đứng trớc những nhu cầu khách quan
của sự nghiệp CNH HĐH đất nớc. Ngành Thuỷ sản phải chuyển từ sản xuất
nhỏ sang sản xuất lớn, đa các thành quả của khoa học kỹ thuật vào sản xuất
nhằm hiện đại hoá các công đoạn sản xuất, dây chuyền sản xuất nâng cao chất
lợng sản phẩm thuỷ sản. Muốn vậy, cần phải xây dựng và hình thành nên một
cơ cấu ngành hợp lý hiệu quả với sự phát triển cân đối của các tiểu ngành.
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ sản hiện nay đợc gắn với quá trình công
nghiệp hoá và hiện đại hoá theo hớng xuất khẩu.
Chiến lợc phát triển vì con ngời chỉ ra rằng: mọi sự phát triển và tăng tr-
ởng muốn thực hiện đợc đều phải có các tác động thúc đẩy. Động lực đó là gì
nếu không phải là chính quyền lợi của con ngời?. Bởi vì chính con ngời mới
làm nên lịch sử, nếu không tạo ra cho con ngời sự kích thích bằng chính lợi
ích của họ thì sẽ không có sự tham gia tích cực nào của con ngời vào các hoạt
động nhằm đa nền sản xuất, kinh tế xã hội phát triển nhanh đợc. Do vậy,
chăm lo đến lợi ích của con ngời, mọi yếu tố liên quan đến con ngời phải đợc
dịch cơ cấu kinh tế nông - lâm - ng nghiệp. Vai trò đó đợc thể hiện ở một số
nội dung chính sau:
a) Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản có vai trò trong sự phát triển của
ngành Thuỷ Sản:
Chuyển dịch cơ cấu ngành là sự thay đổi cơ cấu từ trạng thái này sang
trạng thái khác hợp lý và hiệu quả hơn, dới sự định hớng có mục đích và dựa
trên cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn. Mục đích cao nhất của
chuyển dịch cơ cấu ngành là đạt tới một cơ cấu mà ở đó tạo đợc sự phát triển
cho bản thân ngành cũng nh toàn bộ nền kinh tế. Nên nó có vai trò hết sức
quan trọng để đảm bảo bền vững đối với ngành và nền kinh tế. Đến lợt nó, khi
ngành, nền kinh tế phát triển ở một mức độ nào đó thì có tác dụng trở lại đến
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, đặt ra những yêu cầu mới cũng nh tạo
mọi điều kiện để cơ cấu ngành chuyển dịch ngày càng hợp lý hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển ngành có vai trò qua lại bổ
xung cho nhau trong quá trình phát triển để đạt đợc trình độ cao hơn. Đối với
ngành thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu ngành cũng có vai trò quan trọng trong sự
phát triển của ngành.
Ngành Thuỷ Sản muốn phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu ngành hợp
lý, tạo ra những động lực cho sự phát triển. Điều đó có nghĩa là tác động của
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành tạo ra những ngành mới, các lĩnh vực sản
xuất mới nhằm nâng cao sản lợng, giá trị của ngành Thuỷ Sản. Trớc kia, sản l-
ợng của ngành phần lớn là do khai thác đem lại, sản lợng từ nuôi trồng chỉ
chiếm tỉ trọng rất nhỏ. Trong khi đó chúng ta lại khai thác tới trần ở các khu
vực gần bờ, một số nơi có nguồn lợi nhất đã khai thác quá mức. Do vậy, cần
mở rộng khai thác ra xa bờ để không những đảm bảo nhu cầu trong nớc mà
còn tăng sản lợng để xuất khẩu. Chính quá trình chuyển dịch cơ cấu đã làm
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
tăng sản lợng của toàn ngành Thuỷ Sản bằng nhiều con đờng hợp lý hơn: khai
thác gần bờ kết hợp với khai thác xa bờ, khai thác kết hợp với nuôi trồng. Và
trồng thuỷ sản ngày càng mở rộng đóng góp một phần không nhỏ và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nhờ việc chuyển một bộ phận diện
tích đất đai đang canh tác nông nghiệp, trồng lúa, làm muối kém hiệu quả
sang nuôi trồng thuỷ sản. ở nhiều địa phơng trên nhiều miền của đất nớc mở
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
rộng diện tích có thể nuôi trồng đợc thuỷ sản cả ở các ao hồ chứa nớc, sông
ngòi, các vùng ngập mặn ven biển. Gần đây, phong trào nuôi tôm trên cát phát
triển mạnh ở các tỉnh miền trung. Các nhà máy chế biến thuỷ sản mọc lên ở
nhiều nơi, tăng cả về số lợng và năng suất chế biến. Quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản mạnh mẽ nay đã tạo ra sự dịch chuyển trong cơ cấu kinh
tế trên cả ba bộ phận: cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh
tế.
Chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản có giá trị nâng cao GDP của ngành
Thuỷ Sản từ đó có tác dụng nâng cao tỉ trọng của ngành Thuỷ Sản trong cơ
cấu nông lâm ng nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
của cả nớc. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản đối với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông- lâm- ng nghiệp là rất quan trọng, nó đảm bảo sự
phát triển của ngành nông nghiệp trong tổng thể các ngành kinh tế của cả nớc
c) Chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu lao động và giải quyết việc làm, tăng thu nhập:
Ngành Thuỷ Sản là một trong những ngành thu hút lợng lao động tơng
đối lớn trong nền kinh tế, mỗi năm giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn
ngời lao động góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho ngời dân. Do
việc chuyển dịch cơ cấu ngành nên ngành có khả năng mở rộng thu hút lao
động vào ngành trên nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh: khai thác, nuôi trồng,
chế biến, thơng mại thuỷ sản và dịch vụ hậu cần cho khai thác hải sản.
Bảng 1: Tình hình thu hút thêm lao động qua các năm vào ngành thuỷ
sản giai đoạn 1991 - 2002
Đơn vị: ngời.
đến nay nghề đã phát triển quá mức làm cho nguồn lợi hải sản gần bờ cạn
kiệt nghiêm trọng. Cơ cấu trong khai thác không hợp lý gây ảnh hởng đến
năng suất khai thác và môi trờng sinh thái. Đây chính là nguyên nhân làm hạn
chế quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành thuỷ sản trong khai thác hiện nay.
Vấn đề đặt ra là từ việc nghiên cứu về điều kiện tự nhiên chúng ta phải đa ra
các biện pháp làm hạn chế ảnh hởng của các yếu tố tự nhiên đến tốc độ
chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác hải sản. Yếu tố điều kiện tự nhiên còn ảnh
hởng đến mục tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản trong chiến lợc xây dựng
một cơ cấu ngành hợp lý trong tơng lai. Điều kiện tự nhiên một mặt có vai trò
đảm bảo sinh tồn, phát triển của các loài thuỷ sinh vật, mặt khác với điều kiện
tự nhiên nh ở Việt Nam cũng là nguyên nhân( Nhiệt đới, nóng ẩm, ma nhiều)
gây ra các dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi. Mỗi năm có khoảng 5- 9 cơn
bão gây ảnh hởng rất lớn tới các khu nuôi trồng thuỷ sản, làm tràn, vỡ các bờ
ngăn, khó khăn trong việc thoát nớc, thay nớc trong các mùa lũ. Kết quả là
nuôi trồng thuỷ sản kém hiệu quả, do chi phí ngăn lũ, ngăn bãom chống dịch
bệnh quá lớn.
Một điểm quan trọng của ngành Thuỷ Sản là đại bộ phận các lĩnh vực
sản xuất từ khai thác đến nuôi trồng đều là sự chiếm hữu và lợi dụng tự nhiên,
do đó ngành chịu ảnh hởng trực tiếp của những điều kiện tự nhiên nh là điều
kiện tiên quyết của sản xuất. Các nhân tố về tài nguyên và điều kiện tự nhiên
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
ảnh hởng rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Ngay từ ban đầu,
các yếu tố này đã hình thành nên cơ cấu ngành Thuỷ Sản đầu tiên với tỉ trọng
khai thác chiếm phần lớn. Dần dần, ngành khai thác gặp phải những khó khăn
cộng thêm những đòi hỏi, những yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu ngành nên
cơ cấu ngành Thuỷ Sản có sự biến đổi, chuyển dịch theo hớng có lợi hơn, hợp
lý hơn. Quá trình chuyển dịch này phụ thuộc nhiều vào các nguồn lợi thuỷ sản
và điều kiện tự nhiên. Chúng ta không thể thiết lập các khu nuôi trồng thuỷ
sản, chế biến thuỷ sản tại các nơi, các vùng miền không có nguồn lợi về thuỷ
chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Chúng ta sản xuất, chế biến, phục vụ cho
nhu cầu của thị trờng tiêu thụ trong nớc và quốc tế có đặc điểm luôn biến
động theo thu nhập, thị hiếu và tập quán sử dụng thực phẩm. Bởi vậy, cơ cấu
ngành Thuỷ Sản phải linh hoạt để đáp ứng đợc các nhu cầu của thị trờng đa
dạng và luôn biến động đó.
Giá cả là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế
hàng hoá, giá cả có vai trò quan trọng trong việc kích thích hoặc hạn chế tiêu
dùng và từ đó kích thích hoặc kìm hãm sản xuất. Sự vận động của giá cả sẽ
định hớng cho sự biến động, thay đổi, xu thế chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ
Sản. Chính giá cả sản phẩm quyết định lợi ích của ng dân trong việc khai thác,
nuôi trồng, kinh doanh nghề biển. Ng dân sẽ tập trung kinh doanh những mặt
hàng cho giá cả sản phẩm cao, thu lại lợi ích lớn, hạn chế đầu t vào việc kinh
doanh những mặt hàng quá thấp, lợi ích thu đợc không cao. Từ đây lợi ích cá
nhân đợc đề cao, lợi ích xã hội không đợc đề cập, dẫn đến một cơ cấu ngành
không hợp lý, không đảm bảo phát triển bền vững của ngành. Mặt khác sự
chênh lệch giá cả giữa các mặt hàng cũng tạo ra sự thay đối cơ cấu ngành có
thể là tiêu cực, có thể là tích cực. Chẳng hạn trong giai đoạn giá còn cố định
hoàn toàn do nhà nớc định đoạt (giai đoạn trớc năm 1981), tỉ lệ chênh lệch giá
giữa các loài hải sản rất ít. Việc khai thác các loài hải sản có giá trị cao tốn phí
rất lớn và cho sản lợng thấp nên không khuyến khích ng dân tập trung khai
thác các loài hải sản quí mà chạy theo sản lợng. Từ đây, cơ cấu nghề nghiệp
khai thác đem lại sản lợng lớn nh lới vó ánh sáng, mành ánh sángcơ cấu đối
tợng khai thác và nuôi trồng cũng có sự chuyển dịch: đẩy mạnh khai thác nuôi
trồng các loài hải sản cho năng suất cao, sản lợng lớn. Kéo theo nó là cơ cấu
chế biến, cơ cấu đội tàu khai thác, cơ cấu thị trờng cũng có sự thay đổi theo.
Khi cơ chế giá cả thay đổi thích ứng với điều kiện thị trờng mới thì tác động
làm cho cơ cấu ngành Thuỷ Sản thay đổi theo. Và quá trình chuyển dịch cơ
cấu ngành Thuỷ Sản theo sự tác động của giá cả ngày càng nhạy cảm hơn theo
xu thế tự do.
3. Nhóm nhân tố về cơ chế, thể chế.
4. Nhóm nhân tố về khoa học công nghệ.
Sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ và kỹ thuật cùng với cơ hội phổ
biến và chuyển giao nhanh chóng của chúng làm cho cơ cấu ngành Thuỷ Sản
nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung mang tính uyển chuyển cao. Điều này
không những tác động tới cơ cấu toàn ngành mà còn tác động trực tiếp đến
từng doanh nghiệp, công ty, từng hộ ng dân tham gia vào hoạt động thuỷ sản
trên toàn bộ các mặt: khai thác, nuôi trồng, chế biến, thơng mại và dịch vụ
thuỷ sản.
Khoa học - công nghệ - kỹ thuật ảnh hởng đến cơ cấu sản xuất, cơ cấu
kinh tế, cơ cấu thị trờng trong ngành Thuỷ Sản. Sự bùng nổ của khoa học
kỹ thuật mới làm cho sự phát triển của ngành Thuỷ Sản không chỉ chạy theo
sản lợng mà còn chạy theo giá trị. Chính khoa học công nghệ đã tác động
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
làm nâng cao giá trị trên một đơn vị sản phẩm thuỷ sản. Cùng với nó là sự ra
đời công nghệ chế biến thuỷ sản làm nâng cao tỷ trọng của các ngành dịch vụ
chế biến trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành. Mặt khác, khoa học
công nghệ thay đổi rất nhanh đã đặt ra những yêu cầu lớn đối với ngành Thuỷ
Sản: cần phải thay đổi theo các hệ thống công nghệ chế biến, kỹ thuật khai
thácđiều này là rất khó khăn đối với ngành Thuỷ Sản ở nớc ta hiện nay. Bởi
vì để thay đổi một quy trình sản xuất mới hiện đại hơn cần một khối lợng
nguồn lực rất lớn (về vốn, con ngời) đây là vấn đề trăn trở của Việt Nam
không chỉ đối với ngành Thuỷ Sản.
Ngoài ra còn nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác ảnh hởng đến
chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản. Các nhân tố cần kể đến đó là nhóm các
nhân tố phi kinh tế, các nhân tố này tuy rằng không lợng hoá đợc các ảnh h-
ởng của nó nhng có phạm vi ảnh hởng hết sức rộng rãi, phức tạp tới quá trình
chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản, các nhân tố bao gồm: truyền thống, luật
lệ, các chính sách, quan hệ hợp tác, các đặc điểm văn hoá - xã hội, cơ cấu
thành phần sở hữu, tôn giáođều có những ảnh hởng nhiều mặt đến sự phát
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
+ Vùng biển Trung Bộ: Giới hạn từ vĩ độ 11
0
30 N đến 17
0
N. Đáy biển
có độ dốc và độ sâu lớn, vùng có nhiều cửa sông, có sự thay đổi đáng kể về
nhiệt độ và độ mặn theo mùa.
+ Vùng biển Đông Nam Bộ: Giới hạn từ vĩ độ 6
0
N- 11
0
30 N, bờ biển
gấp khúc lồi lõm, độ dốc đáy biển không lớn. Trong vùng này, thềm lục địa
rộng và nông với đáy bằng phẳng độ sâu khoảng 30- 60 m.
+ Vùng biển Trung Nam Bộ (Vịnh Thái Lan): Giới hạn từ vĩ độ 6
0
30
N- 10
0
30N là vịnh kín, đáy hình lòng chảo, nơi sâu nhất không quá 80 m.
Trong vùng này có tới 150 đảo xa bờ và gần bờ.
+ Vùng giữa biển Đông: Đáy biển rất sâu (Hơn 2000 m), có quần đảo
san hô rộng lớn.
Việt Nam là một nớc nhiệt đới ẩm, gió mùa gồm cả tính chất chí tuyến
và tính chất á xích đạo, từ Bắc vào Nam tính chất nội chí tuyến mạnh dần. Khí
hậu Việt Nam vừa đa dạng, vừa thất thờng. Việt Nam nằm ở vị trí tiếp xúc giữa
3 loại gió mùa: Đông bắc, Đông nam, Tây nam. Ngoài ra Việt Nam mỗi năm có
trung bình khoảng 9 - 10 cơn bão tập trung vào tháng 5 đến tháng 12.
Điều kiện tự nhiên ở Việt Nam rất có ý nghĩa trong việc phát triển
biệt rừng ngập mặn là một bộ phận quan trọng của vùng sinh thái nớc lợ, ở đó
hình thành nguồn thức ăn quan trọng từ thảm thực vật cho các loài động vật
thuỷ sinh, là nơi nuôi dỡng chính cho ấu trùng giống hải sản. Vùng nớc lợ vừa
có ý nghĩa sản xuất lớn vừa có ý nghĩa không thể thay thế đợc trong việc bảo
vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.
c) Môi trờng nớc ngọt:
Nớc ta có những thuỷ vực tự nhiên rất rộng lớn thuộc hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt, hệ thống hồ chứa tự nhiên và hồ chứa nhân tạo, hệ
thống ao đầm nhỏ và ruộng trũng. Khí hậu nhiệt đới ma nhiều luôn bổ xung
nguồn nớc cho các thuỷ vực. Khí hậu ấm áp làm cho các giống loài sinh vật có
thể phát triển quanh năm trong cả nớc đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu
long.
Môi trờng nớc ngọt đợc sử dụng để phát triển ngành Thuỷ Sản trong
những năm gần đây có hiệu quả. Sản lợng thuỷ sản không chỉ cung cấp cho
nhu cầu tiêu dùng nội địa mà còn phục vụ xuất khẩu. Một số loài có giá trị
kinh tế cao đợc nuôi trồng phổ biến trên diện tích rộng ở khắp các tỉnh thành
nh: Cá da trơn (Cá tra, cá ba sa ) tôm đồng, baba, cá chép, rô phi Tuy nhiên
cho đến nay, nguồn lợi nớc ngọt để phát triển, nuôi trồng thuỷ sản không cao,
phần lớn các mặt nớc lớn, tự nhiên và nhân tạo nh các dòng sông, các hồ chứa,
các vùng ngập nớc, ruộng trũng cha đợc sử dụng.
17
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
Chơng II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu
ngành thuỷ sản giai đoạn 1991- 2002.
I- Tổng quan về sự phát triển của ngành thuỷ sản giai
đoạn 1991- 2002.
1. Tình hình phát triển ngành Thuỷ Sản Việt Nam giai đoạn 1991-
2002.
Giai đoạn 1991- 2002, ngành Thuỷ Sản Việt Nam có sự phát triển, tăng
trởng mạnh cả về số lợng và chất lợng. Các chỉ tiêu chủ yếu đề ra trong chiến
tốc độ tăng sản lợng thuỷ sản đạt khá cao 8,7%. Tổng sản lợng thuỷ sản do
ngành khai thác và nuôi trồng đem lại, trong đó sản lợng nuôi trồng thuỷ sản
trong cả giai đoạn tăng nhanh với tốc độ cao hơn so với sản lợng do ngành
khai thác cung cấp nhng tỉ trọng sản lợng khai thác vẫn chiếm trên 50% và
khoảng cách ngày càng đợc rút ngắn. Năm 1991, nuôi trồng thuỷ sản đạt
335.910 tấn chiếm 31,5%, năm 2000 sản lợng nuôi trồng thuỷ sản chiếm 36%
và đến năm 2002 chiếm 40,48% tổng sản lợng thuỷ sản.
Về tổng giá trị sản xuất thuỷ sản: ngành thuỷ sản là một trong các
ngành thu đợc tổng giá trị sản xuất cao trong nền kinh tế. Năm 1991 đạt
18
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
9.308,4 tỷ đồng; năm 1995 đạt 13.028 tỷ đồng và đến năm 2002 đạt 25.568,9
tỷ đồng, gấp gần 3 lần năm 1991. Giai đoạn gần đây tốc độ tăng trởng giá trị
sản xuất ngành thuỷ sản đạt ngày càng cao. Cụ thể: giai đoạn 1995-2002 là
11,42%.
Về giá trị xuất khẩu thuỷ sản: xuất khẩu thuỷ sản đã trở thành một điểm
mạnh của Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Năm 1991, tổng kim
ngạch xuất khẩu mới chỉ đạt 252 triệu USD thì đến năm 2000 lần đầu tiên
Việt Nam đạt con số trên 1 tỉ USD (1,402 tỉ USD) và chỉ sau có 2 năm kim
ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 2.014 triệu USD. Đây là một
thành công rất lớn của ngành thuỷ sản Việt Nam trong sự nghiệp phát triển
ngành. Trong cả thời kỳ 1991-2002, tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu
thuỷ sản đạt cao 18,91%, đứng đầu về tốc độ tăng trởng trong các mặt hàng
xuất khẩu. Trong giá trị thuỷ sản xuất khẩu, Tôm đông lạnh luôn chiếm tỷ
trọng cao nhất, chiếm từ 40-60% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản.
Về diện tích nuôi trồng thuỷ sản: Năm 1991 cả nớc có khoảng 520 ha
mặt nớc phục vụ cho nuôi trồng thuỷ sản, con số này tăng lên nhanh chóng
1995: 581.000 ha và đến năm 2002: 955.000 ha góp phần đa tổng sản lợng
nuôi trồng thuỷ sản đạt 976.100 tấn chiếm 40,48% tổng sản lợng thuỷ sản.
Ngành Thuỷ Sản có tốc độ tăng trởng rất nhanh so với các ngành kinh tế
- Ngành thuỷ sản đã có một thời gian khá dài chuyển sang cơ chế kinh
tế mới( Khoảng 20 năm) của nền kinh tế theo hớng thị trờng có sự quản lý của
nhà nớc: Đã có sự cọ sát với nền kinh tế thị trờng và đã tạo ra đợc một nguồn
nhân lực khá dồi dào trong tất cả các lĩnh vực, từ khai thác, chế biến, nuôi
trồng đên thơng mại. Trình độ nghiên cứu và áp dụng thực tiễn cũng đã tăng
đáng kể.
- Hàng thuỷ sản liên tục giữ thể gia tăng, thế thợng phong và ổn định
trên thị trờng thực phẩm thế giới.
- Việt Nam có bờ biển dài và khí hậu nhiệt đới với sự đa dạng sinh
học cao, vừa có nhiều thuỷ đặc sản quý giá đợc thế giới a chuộng vừa có điều
kiện để phát triển hầu hết các đối tợng xuất khẩu chủ lực mà thị trờng thế giới
cần, mặt khác nớc ta còn có điều kiện tiếp cận dễ dang với mọi thị trờng trên
thế giới và khu vực.
- Việt Nam cha phát triển nuôi trông thuỷ sản công nghiệp nên còn
nhiều tiềm năng đất đai để phát triển nuôi, chúng ta còn nhiều tiềm năng các
vùng biển để nuôi mà không ảnh hởng đến môi trờng sinh thái.Việc đa thành
công các kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cát ven biển đã mở ra một tiềm
năng và triển vọng mới cho việc phát triển vùng nuôi tôm và các hải sản khác
theo phơng thức nuôi công nghiệp, nhất là đối với vùng duyên hải miền Trung.
Khả năng này vừa mang ý nghĩa đẩy nhanh tốc độ phát triển nuôi tôm thâm
canh, sử dụng tài nguyên xa nay bỏ phí, vừa có ý nghĩa thiết thực trong công
20
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
cuộc xoá đói giảm nghèo đồng thời cũng là một giải pháp hữu hiệu nhằm cải
tạo và bảo vệ môi trờng vùng ven biển.
- Chúng ta có nhiều lao động và nguồn nhân lực còn ít đợc đào tạo sẽ
thích hợp cho những lợi thế khởi điểm mang tính tĩnh khi dùng loại lao động
này trong lĩnh vực nuôi trồng và chế biển thuỷ sản. Tất nhiên trong quá trình
phát triển sẽ nảy sinh những lợi thế so sánh động( và thờng lợi thế ấy chúng ta
phái tạo ra nh lợi thế về công nghệ cao, lợi thế về kỹ thuật yểm trợ).
22
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thành Lân
Bảng 3: Giá trị gia tăng (GDP) và cơ cấu ngành thuỷ sản Việt Nam
giai đoạn 1991- 2002 (theo giá thực tế).
Hạng
mục
Năm
Giá trị gia tăng (tỷ VNĐ) Cơ cấu (%)
Ngành
thuỷ
sản
Trong đó
Ngành
thuỷ
sản
Trong đó
Khai thác
Nuôi
trồng
Dịch vụ
Khai
thác
Nuôi
trồng
Dịch
vụ
1991 2.272 1.437,70 794,97 39,33 100 63,28 34,99 1,73
1992 3.125 1.943,13 1.125,00 56,87 100 62,18 36,00 1,82
1993 4.007 2.292,00 1.634,45 80,55 100 57,20 40,79 2,10
1994 4.762 2.490,50 2.120,50 150 100 52,30 44,53 3,17
rộng nuôi nớc mặn. Trong dịch vụ thuỷ sản đó là sự phát triển của chế biến
thuỷ sản và thơng mại thuỷ sản, sự phát triển của các cơ sở chế biến làm cho
giá trị trên một đơn vị thuỷ sản ngày càng tăng, từ đó nâng cao giá trị của
hàng thuỷ sản Việt Nam, đặc biệt phục vụ xuất khẩu. Việc khai thác thuỷ sản
cũng đợc đầu t phát triển nhng vẫn còn những hạn chế nhất định nh khó khăn
về vốn, về ng trờng đánh bắt, nguồn lợi thuỷ sản cũng ngày càng cạn kiệt
Quá trình chuyển dịch cơ cấu trong ngành Thuỷ Sản thời gian qua là
hợp lý. Bởi vì: Nhìn chung trong ngành khai thác thuỷ sản, trữ lợng khai thác
là hữu hạn, song tình hình khai thác đã tới trần thậm chí ở một số vùng gần bờ
đã quá giới hạn cho phép. Trong khi tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản là rất lớn
nên cần đợc đẩy mạnh ngành nuôi trồng thuỷ sản, kết hợp với chế biến thuỷ
sản và thơng mại thuỷ sản. Đối với nuôi trồng thuỷ sản tập trung vào các đối t-
ợng thuỷ sản có giá trị cao phục vụ không chỉ cho nhu cầu xuất khẩu mà còn
cho nhu cầu tiêu thụ nội địa ngày càng tăng hiện nay. Đối với chế biến thuỷ
sản, đa công nghệ mới vào các khâu chế biến làm hiện đại hoá các dây chuyền
chế biến, xây dựng và mở rộng quy mô của công nghệ chế biến từng bớc đã có
sự phân bố hợp lý hơn giữa các cơ sở chế biến và nguồn nguyên liệu.
Chủ trơng chuyển dịch cơ cấu ngành Thuỷ Sản Việt Nam thời gian qua
là chuyển dịch theo hớng hiện đại hoá, phát triển bền vững gắn chuyển dịch
cơ cấu ngành với Công nghiệp và Hiện đại hoá: việc sử dụng tài nguyên và các
điều kiện tự nhiên khác đợc chuyển dịch cơ cấu theo hớng giảm thiểu sức ép
khai thác gần bờ nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lợi thông qua đẩy mạnh
khai thác xa bờ, chuyển đổi nghề nghiệp khai thác gần bờ, tạo bớc phát triển
mạnh mẽ nuôi trồng thuỷ sản ở cả nớc ngọt và nớc lợ, bắt đầu mở mang nuôi
biển. Trong nuôi trồng thuỷ sản chuyển đổi dần phơng thức nuôi từ quảng canh
sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh (Tỷ trọng sản lợng nuôi
trồng thuỷ sản tăng lên đáng kể: Năm 1991 chiếm 32,75% đến năm 2002
chiếm 41,3%). Cơ cấu đối tợng nuôi luôn có định hớng phục vụ cho xuất khẩu
gần đây còn phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
1.2. Cơ cấu vốn đầu t cho ngành Thuỷ sản.