một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường hoa kỳ - Pdf 10

LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam nghành dệt may chiếm một tỷ
trọng khá lớn, luôn giữ được giá trị kim nghạch xuất khẩu cao hơn cả. Vì thế
trong chiến lược phát triển công nghiệp từ nay đến năm 2010 thì nghành dệt
may là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Chính phủ
xác định rõ nghành công nghiệp dệt may giữ vị trí là nghành công nghiệp
trọng điểm trong cơ cấu nghành. Với những lợi thế riêng biệt như: thu hút
nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, tạo nguồn hàng xuất khẩu có giá trị
cao Do đó nghành dệt may Việt Nam hiện nay được xem là nghành mũi
nhọn và phát triển khá hiệu quả. Nó là nghành thu hút ngoại tệ góp phần tạo
đà cho nền kinh tế cất cánh.
Tuy hàng dệt may xuất khẩu nước ta đang bước những bước đi đầu khá
vững chắc và đầy triển vọng nhưng so với tiềm năng vốn có và so với vị thế
xuất khẩu của các nước trong khu vực thì Việt Nam còn cần phải phấn đấu rất
nhiều. Một trong những vấn đề đặt ra đối với nghành dệt may xuất khẩu hiện
nay là vấn đề tìm kiếm và pgát triển thị trường. Chúng ta đã và đang xuất
khẩu sang các thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Đông Âu Nhưng Hoa Kỳ
là thị trường nhập khẩu dệt may lớn nhất thế giới thì chưa khai thác triệt để so
với các nước trong khu vực và so với tiềm năng vị thế của nó. Vì thế đề án
của em đề xuất “ Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ” trên cơ sở phân tích thời cơ và
thách thức trên thị trường này.
Nội dung của bài viết gồm 3 phần:
Phần 1: Cơ sở lí luận.
Phần 2: Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ.
Phần 3: Các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sang thị
trường Hoa Kỳ.

1
Trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót
do khả năng của bản thân. Em kính mong được sự góp ý của các thầy cô để

1
E
a
E
1
E
o
E
p
P
w
P
a
0 q
3
q
4
q
a
q
5
3
điển hình. Sự cân bằng tự cung tự cấp sẽ là điểm E
a
khi mà lượng hàng a được
sản xuất và tiêu thụ trong nước với giá P
a
.
Nếu có ngoại thương xảy ra ở mức giá P
w

tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để
công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất
lớn để nhập khẩu máy móc,thiết bị, kĩ thuật, công nghệ tiến tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
- Xuất khẩu hàng hóa;
- Đầu tư nước ngoài;
- Vay nợ, viện trợ;
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ;
- Xuất khẩu sức lao động
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan
trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này.
Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nước là xuất
khẩu. Xuất khẩu quyết điịnh quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Ở Việt Nam, thời kì 1986_1990 nguồn thu về xuất khẩu hàng hóa đảm
bảo trên 75% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu; tương tự tgời kỳ 1991_1995
là 66% và 1996_2000 là 50% ( đó là chưa thống kê nguồn vốn thông qua
xuất khẩu dich vụ).

4
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên. Nhưng mọi cơ hội
đầu tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các
chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu_ nguồn vốn chủ
yếu để trả nợ trở thành hiện thực.
1.2.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng
mạnh mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với
xu hướng phát triển của thế giới là tất yếu đối với nước ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối vớ sản xuất và

- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả , chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi
hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích
nghi được với thị trường.
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn
thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị
trường.
1.2.3 Xuất khẩu có tác động đến tích cực đến việc
giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của
nhân dân.
Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều
mặt. trước hết sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là
nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết
yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm
cho cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi

6
phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao đoongj
được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được
cải thiện
1.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy
các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác
động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các
quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng
xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế Mặt
khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề mở

Nghành công nghiệp dệt may ngaỳ càng đóng một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, vì nó không chỉ phục vụ nhu cầu thiết yếu của con
người mà còn là nghành giải quyết nhiều việc làm cho lao động xã hội, có thế
mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và đóng góp
ngày càng nhiều cho ngân sách Nhà nước. Như vật nghành dệt may hiện nay
đang chiếm một vị trí khá quan trọng trong đóng góp cho xuất khẩu và nâng
cao giá trị sản lượng của toàn bộ ngành công nghiệp Việt Nam.
1.3.2 Ảnh hưởng của ngành trong quá trình tăng
trưởng kinh tế hướng về xuất khẩu.
Thực chất của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt sản xuất
trong nước trong quan hệ cạnh tranh với thị trường quốc tế nhằm phát huy
những lợi thế so sánh, buộc các nhà sản xuất trong nước phải luôn đổi mới
công nghệ nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm đẩy mạnh việc tiêu thụ
sản phẩm trên thị trường thế giới và đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Điều này thể hiện rõ ở ngành dệt may Việt Nam: xuất khẩu hàng dệt
may đã và đang là ngành xuất khẩu hàng của Việt Nam trong những năm đầu
thế kỷ 21. Với mức tăng trưởng cao và ổn định từ 30% đến 40% suốt hơn
chục năm qua xuất khẩu dệt may là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam.

8
Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam hàng năm đem lại nguồn thu ngoại
tệ khá lớn cho đất nước, nghành này còn góp phần tích cực giải quyết việc
làm cho hàng triệu người lao động trên mọi miền của đất nước. Điều đó rất có
ý nghĩa trong lúc chúng ta đang thiếu vốn thừa lao động.
Bảng: Dự kiến cơ cấu hàng hóa đến năm 2010
Tên hàng
2005 2010
Lượng
(Nghìn

Dệt may 5.000 7.500
Giày dép 4.000 7.000
Thực phẩm chế biến 200 700
Sản phẩm gỗ 600 1.200
Hóa phẩm tiêu dùng 200 600
Sản phẩm nhựa 200 600

9
Sản phẩm cơ khí – điện 300 1.000
Vật liệu xây dựng 200 500
4. Hàng chế biến cao 2.500 7.000
Tỷ trọng hàng chế biến cao (%) 9,3 14,0
Điện tử và linh kiện máy tính 2.000 6.000
Phần mềm 500 1.000
Tổng các mặt hàng trên 22.365 37.950
Tỷ trọng các mặt hàng trên 83 76
5. Hàng khác 4.635 12.050
Tỷ trọng các mặt hàng khác 17 24
Dự kiến tổng kim ngạch 27.000 50.000
Nguồn: Chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2005 – 2010 của
Bộ Thương Mại
Định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng hóa là tăng tỷ trọng hàng công
nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động và kỹ thuật trung bình. Phấn đấu đến
năm 2010 tỷ lệ hàng xuất khẩu chế biến chiếm từ 60 – 70% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu. từng bước phát triển các ngành công nghệ cao làm nền tảng
cho giai đoạn 2010 – 2020. Phát triển khu vực dịch vụ đặc biệt là những
ngành dịch vụ mũi nhọn, xương sống của kinh tế tri thức như công nghệ phần
mềm, bưu chính viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và du lịch. Theo các
chuyên gia dự báo vào năm 2020, tổng giá trị xuất khẩu của cả nước sẽ đạt
khoảng 200 tỷ USD, gấp 10 lần so với năm 2003. Để đạt được mục tiêu này,

11

12
PHẦN 2
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY SANG THỊ
TRƯỜNG HOA KỲ
2.1. Thị trường dệt may Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ là một trong những nước có sức tiêu thụ hàng may mặc lớn
nhất thế giới. do những tác động của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế
giới và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hoa Kỳ, nghành may mặc của nước này
đang mất dần lợi thế so sánh. Đây là nghành sử dụng nhiều lao động, tuy
nhiên từ năm 1970 tới nay lực lượng lao động trong nghành này ở Mỹ giảm
40%. Các nhà kinh tế dự đoán nghành may gia công Mỹ sẽ không còn tồn tại
trong vòng mười năm tới. Nghành may gia công sẽ nhường chỗ cho nghành
may hàng cao cấp với các nhãn hiệu nổi tiếng và nhân công có tay nghề cao.
Vì thế có thể đánh giá Hoa Kỳ là mảnh đất tương đối lý tưởng và là thị trường
đầy tiềm năng đối với các nước sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may công
nghiệp trong đó có Việt Nam.
2.1.1 Đặc điểm thị trường hàng dệt may Hoa Kỳ
Các nền kinh tế trên thế giới đều lấy Hoa Kỳ làm thị trường chủ lực bởi
vì thị trường Hoa Kỳ có tổng giá trị buôn bán lớn nhất toàn cầu, hàng nhập
khẩu đa dạng. Các doanh nghiệp có thể biết được năng lực cạnh tranh của
mình thông qua việc nhập khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ. Qua đó tạo điều
kiện thuận lợi thâm nhập và các thị trường khác.
Mặt khác với diện tích khoảng 9,4 triệu kilômet vuông và dân số
khoảng 280 triệu người đã làm cho Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một
với sức mua lớn nhất thế giới. Hoa Kỳ cũng là nước nhập khẩu dệt may lớn
nhất thế giới, hàng năm Hoa Kỳ có nhu cầu nhập khẩu trên 60 tỷ USD dệ
may. Hơn nữa Hoa Kỳ lại là một quốc gia đa sắc tộc, đa văn hóa với nhu cầu
may mặc rất đa dạng, ta có thể khai thác đặc diểm này từ thị trường Hoa Kỳ.

đàm phấn. Nếu khối lượng hàng dệt may đưa vào thị trường Hoa Kỳ đạt

14
100000 tá sản phẩm thì hải quan của Hoa Kỳ bắt đàu theo dõi và khi khối
lượng này đã tăng lên gấp đôi thì phía Hoa Kỳ sẽ chính thứcđề nghị đàm phấn
để xác định hạn nghạch nhập khẩu. Như vậy để Việt Nam có thể nhận được
hạn nghạch nhập khẩu lớn thì trong từ 1 đến 2 năm đầu kể từ khi Hiệp định có
hiệu lực các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt Nam phải nỗ lực
tối đa để đưa khối lượng hàng hóa lớn sang thị trường này.
2.1.2.3 Chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may nói
chung và hàng dệt may Việt Nam nói riêng.
Xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ đang là vấn đề quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu của Việt Nam. Hoa Kỳ là một thị
trường lớn rất “tự do” nhưng cũng được đánh giá là nhiều bất trắc nếu không
nắm vững “ luật chơi”. Do đó trước khi xuất khẩu hàng sang Mỹ các doanh
nghiệp phải nghiên cứu kỹ pháp luật của Hoa Kỳ.
Về quy chế tối huệ quốc (MFN): gần như tất cả các bạn hàng buôn bán
luôn của Mỹ đều được hưởng quy chế này. Hàng hóa đi từ tất cả các nước
được hưởng quy chế này đều chịu cùng một mức thuế, khi Hoa Kỳ giảm thuế,
loiạ bỏ hay có những thay đổi trong hệ thống thuế thì những sự thay đổi đó
được áp dụng đối với tất cả các nước thành viên được hưởng MFN. Các mặt
hàng nhập khẩu từ các nước chưa được hưởng MFN phải chịu mức thuế cao
hơn. Với quy định này, khi xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ, doanh nghiệp
Việt Nam ( Khi được hưởng MFN) có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường
Hoa Kỳ nhưng phải đối mặt với hàng hóa được xuất khẩu từ các nước khác
sang thị trường Hoa Kỳ cũng như được hưởng những ưu đãi tương tự.
Về trị giá hải quan, Hoa Kỳ áp dụng cách thức tính giá hải quan của tổ
chức Thương mại thế giới (WTO). Để bảo vệ các công ty Hoa Kỳ trước các
hoạt động nhập khẩu không bình đẳng, Hoa Kỳ áp dụng hai luật thuế là luật
thuế đối kháng và luật thuế chống phá giá. Hai loại luật thuế này đòi hỏi phải

nhập khẩu được quy định với một mức thuế thấp trong một thời hạn nào đó.
Không có gới hạn về số lượng hàng nhập khẩu trong suốt thời hạn này, nhưng

16
nếu hàng nhập khẩu vượt quá số lượng cho phép hưởng mức thuế thấp thì số
hàng dư đó sẽ phải chịu mức thuế cao hơn.
Về chế độ visa xuất khẩu, hàng dệt may cần có visa mới được vào Hoa
Kỳ. Visa này được dùng để kiểm soát hàng dệt may và sản phẩm từ hàng dệt
từ nước ngoài vào Hoa Kỳ. Một visa hàng dệt may có thể bao gồm hàng có
hạn ngahchj hoặc không có hạn ngạch. Hàng dệt có hạn nghạch có thể cần
hoặc không cần visa tùy thuộc vào nước xuất xứ. Nếu thời gian hạn nghạch
chấm dứt mà visa cho hàng dệt cho hàng dệt may được cấp sau đó bởi chính
phủ nước ngoài và hàng đã nhập vào Hoa Kỳ, lô hàng nhập này sẽ không
được giải phóng cho nhà nhập khẩu cho đến khi hết hạn nghạch mới được cấp
phép.
Về nguyên tắc xuất xứ và ghi nhãn hiệu sản phẩm dệt may.
Quy định về xuất xứ hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ: Khi xuất khẩu vào
thị trường Hoa KỲ, muốn được hưởng thuế suất ưu đãi theo nước xuất xứ,
luật Hoa KỲ quy định trên sản phẩm phải ghi rõ nhãn của nước xuất xứ. Quy
định này chỉ bắt buộc đối với sản phẩm hoàn chỉnh, khi nhập khẩu vào Hoa
Kỳ có thể bán thẳng cho người tiêu dùng. có một quy định đặc biệt là hàng
hóa gốc từ Hoa Kỳ đưa sang nước khác để sắp xếp lại, gia công thêm vào khi
nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ không phải đóng thuế nhập khẩu. dựa vào quy định
này một số nước nhận vải cắt sẵn từ các công ty Hoa Kỳ may thành quần áo
rồi xuất khẩu trở lại cho Hoa Kỳ chỉ phải chịu thuế nhập khẩu đối với phần
phí gia công.
Quy định về nhãn mác hàng: Ở Mỹ có hai bộ luật quy định về nhãn
mác hàng là TFPIA và ƯPLA. Hai bộ luật này được áp dungk cho hầu hết các
sản phẩm dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ với quy định:
1. Phân biệt tỷ trọng các loiạ sợi trong sản phẩm. Những loại sợi nào có


18
2.1.2.5 Đàm phán Hiệp định dệt may Việt- Mỹ.
Khi hiệp định thương mại có hiệu lực, hàng xuất khẩu của Việt Nam
sang Hoa Kỳ sẽ được hưởng quy chế thương mại bình thường, tuy nhiên trong
hiệp định cũng quy định rằng hàng dệt may sẽ bị hạn chế bằng kim nghạch.
Khi hiệp định về hàng dệt may được ký kết thì những vấn đề cơ bản
cho việc nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ cần tuân theo là: Tuân thủ các
quy định về hạn nghạch và visa, nộp các bản kê khai về xuất xứ hàng hóa, các
quy định về nhãn hàng hóa Các sản phẩm nhập khẩu không đáp ứng được
các quy định của chính phủ sẽ bị giữ lại và có thể bị phạt hoặc bị tịch thu.
Ngoài việc phải tuân thủ theo các quy định trên nhà xuất khẩu hàng dệt may
vào Hoa Kỳ còn phải tìm hiểu và tuân thủ theo các hạn chế cuả Hoa Kỳ về
nhập khẩu hàng dệt may.
2.2.2. Đánh giá chung tình hình thực hiện hoạt
động xuất hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ.
2.2.2.1. Thuận lợi.
Hoa Kỳ thị trường đầy tiềm năng với sức mua lớn và đa dạng về các
sản phẩm dệt may. Châu Á là khu vực xuất khẩu hàng may mặc lớn nhất sang
thị trường Hoa Kỳ với tổng giá trị xuất khẩu ngày càng gia tăng. Có thể nói
yếu tos quan trọng nhất giúp cho hàng may mặc của các nước đang phát triển
thiết lập và củng cố vị trí vững chắc của họ trên thị trường Hoa Kỳ là nhờ lợi
thế chi phí nhân công thấp. Nước ta cũng không nằm ngoài thuận lợi này.
Nghành công nghiệp dệt may Việt Nam có lợi thế tương đối về nguồn
nhân công dồi dào và mức lương tương đối thấp so với các nước trong khu
vực. Tính đến nay dân số Việt Nam khoảng 85 triệu người trong đó số người
trong độ tuổi lao động lớn. Hàng năm tốc độ tăng dân số bình quân từ 1,85-
2%, với tốc độ này theo các chuyên gia thì đến năm 2010 dân số Việt Nam
khoảng 90 triệu người. Như vậy nguồn lao động của Việt Nam ngày càng
tăng.

nghành may xuất khẩu.

20
Theo hiệp hội dệt may Việt Nam( Vitas) nguồn vốn đầu tư trong và
ngoài nước đổ vào ngành sợi, dệt đã đưa năng lực sản xuất của nghành này
tăng vọt.
Tuy nhiên quy mô của nghành sợi, dệt trong mấy năm qua tuy tăng
nhanh nhưng vẫn chưa theo kịp nhu cầu của nghành may. Ông Lê Quốc Ân,
chủ tịch hiệp hội cho biết các nhà máy dệt, sợi trong nước hiện đã chạy hêt
công suất nhưng mới chỉ đáp ứng được khoảng một nửa nhu cầu vải của thị
trường. Riêng lĩnh vực may xuất khẩu, tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong
nước chỉ khoảng 25-30%. Hiện nghành trồng bông vải trong nước chỉ đáp
ứng khoảng 11% nhu cầu bông thiên nhiên của ngành kéo sợi, còn xơ tổng
hợp phải nhập khẩu toàn bộ.
Thứ hai: Chưa có đội ngũ thiết kế mẫu mã hợp với thị hiếu tiêu dùng
trên thế giới.
Công tác thiết kế mẫu mốt còn yếu, chưa chú trọng mặc dù nước ta có
một đội ngũ các nhà thiết kế giàu năng lực thế nhưng mẫu mã thiế kế chưa
thực sự đi vào cuộc sống. còn thời trang hàng nagỳ phần lớn lại được sưu tầm
từ các catalogue nước ngoài, khâu thiết kế còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng
được thương hiệu mang nét đặc trưng và đạt tầm cỡ quốc tế.
Mặt khác, một sản phẩm sau khi đưa ra thị trường lại được duy trì trên
thị trường khá lâu. Chỉ khi nào thấy người tiêu dùng đã chán sản phẩm đó,
doanh nghiệp mới thôi không sản xuất nữa. Điều này lớn là, mặc dù khi
doanh nghiệp phát hiện ra sự đi xuống trong chu kỳ sống của sản phẩm thì
dừng lại không sản xuất nữa nhưng thực ra thị trường vẫn yồn đọng một số
lượng sản phẩm chưa tiêu thụ được. Khác với chúng ta, các doanh nghiệp
nước ngoài biết kết thúc sản xuất ngay từ khi sản phẩm đang ở đỉnh cao của
chu kỳ sống và đưa ngay ra sản phẩm mới khác.
Thứ ba: Khả năng cạnh tranh. Để tăng cường xuất khẩu sang thị trường

* Hiệp định thương mai Việt- Mỹ (BTA) kí kết ngày 13/7/2000 được
quốc hội hai nước phê chuẩn và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 là cơ hội
bằng vàng cho nghành dệt may Việt Nam. Hiệp định BTA có hiệu lực và thị
trường được mở rộng sẽ cho phép dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ
được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN hay NTR) và ưu đãi phổ cập – GSP
với thuế suất 0%. Đây là cơ hội tiên quyết để dệt may Việt Nam xuất khẩu
vào thị trường Hoa Kỳ mà không bị hạn chế bởi hạn ngạch hay giấy phép
nhập khẩu cảu chính nước chủ phủ Mỹ đang áp dụng với các nước khác.
* An ninh kinh tế và chính trị của Việt Nam được các tổ chức có uy tín
trên thế giới xếp loại nhất trong khu vực châu Á. Vì vậy sự kiện ngày 11-9 lại

23
là cơ hội vàng cho nghành dệt may Việt Nam, vì các doanh nghiệp Hoa Kỳ
không muốn ký kết hợp đồng làm ăn với những nơi không ổn định về chính
trị. Nhiều đơn đặt hàng dệt may Hoa Kỳ từ những nước có kim nghạch xuất
khẩu lớn được chuyển sang những nước có nền kinh tế ổn định như Trung
Quốc, Việt Nam Các tập đoàn lớn của Hoa Kỳ như JC PENNY, NIKE đã
chính thức đặt quan hệ với các doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời các nhà
daduf tư nước ngoài sẽ tập trung triển khai các dự án dệt may tại Việt Nam.
Vì Việt Nam là nước được cộng đồng quốc tế đánh giá là một thị trường tiềm
năng ổn định và có mức đầu tư tăng.
* Mỹ bảo hộ hàng dệt là chính. do đó lợi thế thứ ba là Việt Nam xuất
khẩu hàng may mặc là chủ yếu, còn hàng dệt hiện nay đang tụt hậu nên không
đặt mục tiêu cai cho mặt hàng này vào thị trường Hoa Kỳ, bởi vậy không cần
thiết phải áp dụng Quota.
* Một lợi thế nữa là: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật giúp cho các
tổng công ty xuất khẩu Việt Nam giới thiệu và bán trực tiếp hàng may mặc
cho người tiêu thụ thay vì qua các trung gian. Giá bán qua trung gian là giá đã
bị ép rất nhiều, qua thương mại điện tử nếu bán trực tiếp được cho các bạn
hàng lẻ thì gái có khả năng nâng lên tư 30% đến 50% thậm chí từ 80% đến

lượng sợi bông và đứng thú 2 về sợi hóa học (2,9 triệu tấn). Kể từ đầu những
năm 90, Trung Quốc luôn là một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất
khẩu hàng dệt và may mặc, kim nghạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng ngày càng
cao trong tổng kim nghạch buôn bán dệt may toàn cầu. Nghành dệt may
Trung Quốc là một nghành có sức cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường thế
giới vì nghành này có nhiều lợi thế rất lớn từ nguyên liệu bông, xơ hóa chất,
thuốc nhuộm đến máy móc thiết bị sợi, dệt, hoàn tất đều do các nghành sản
xuất trong nước cung cấp cùng với giá nhân công thấp và các chính sách hỗ
trợ xuất khẩu của chính phủ Trung Quốc đã làm cho ngành này phát triển
nhanh chóng. Trung Quốc lại là thành viên của WTO trước đó nên đã được
hưởng quy chế tối huệ quốc của Hoa Kỳ từ nhiều năm nay đã chiếm lĩnh được
thị trường quan trọng này.

25

Trích đoạn Tăng cường đầu tư để nâng cao chất lượng vải, đảm bảo nguyên vật liệu thay Phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp hội dệt may Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status