Mở đầu
Lịch sử phát triển cho thấy không một quốc gia nào tự mình giải quyết
mọi vấn đề, hay nói cách khác tiềm lực của các quốc gia đều có hạng. Chính
vì vậy dù sớm hay muộn họ cũng phải khơi thông, mở cửa nhằm một mặt họ
khai thác hiệu quả những gì họ sẵn có mặt khác họ sẽ tận dụng những gì mà
những nớc khác có mà họ không có. Chúng ta từ khi giành độc lập thống
nhất đất nớc, giai đoạn đầu với ham muốn tự ta ta đi lên, tự ta tạo ra mọi thứ,
ta đóng cửa lại rồi phân giới các vùng, mỗi vùng cũng lại tự lực cánh sinh
không đợc dựa dẫm vào vùng khác. Không có sự giao thơng giữa các vùng
dẫn đến vùng thì d thừa, vùng thì thiếu thốn, dần dần chúng ta công nhận ra
và cũng đã phá vỡ ranh giới đó nhng cũng lại nằm trong vòng trói, chúng ta
lại thực hiện cơ chế tự cung tự cấp, mọi kế hoạch sản xuất kinh doanh đều
làm theo chỉ tiêu pháp lệnh, giao chỉ tiêu hoạt động thực hiện nh mệnh lệnh
trong quân đội. Với chỉ tiêu cấp phát ban phát ngời dân chỉ đợc nhận trong
chỉ tiêu đó chứ không có quyền nhiều hơn. Một thời kỳ mà chúng ta chỉ đợc
quyền ăn để tồn tại chứ không có quyền ăn để thoả mãn. Nhng cùng thời
gian với túng thiếu và nhiều vấn đề khác nữa mà chúng ta không làm nổi,
chúng ta nhận định những việc làm trớc đó là sai trái, không phù hợp. Đến
Đại hội VI của Đảng năm 1986 chúng ta mạnh dạn tiến hành đổi mới, cùng
thời gian mọi thứ cũng thay đổi của cải vật chất tạo ra nhiều , đời sống của
ngời dân ngày cang đợc cải thiện và nâng cao, thực tế đã cho thấy điều đó.
Trong tất cả các vấn đề đổi mới thì hớng ngoại luôn đợc Đảng và nhà nớc
ta chú trọng, bởi Đảng nhận định mở cửa hớng ngoại một mặt giúp ta khai
thác một cách có lợi thế tiềm lực của ta, mặt khác ta tận dụng những khả
năng bên ngoài từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển góp phần đẩy nhanh
công nghiệp hoá hiện đại hoá tiến lên chủ nghĩa xã hội. Qua phát triển đó
cho ta thấy rằng, mỗi nớc đều có một thế mạnh riêng, lợi thế riêng mà nớc
khác không có, hoặc có mà nếu tham gia khai thác thì sẽ không có hiệu quả.
Chúng ta là một nớc nông nghiệp , rất có tiềm năng về tài nguyên thiên
nhiên, nh ông cha ta thờng nói rừng vàng biển bạc đó là những gì chúng ta
cầu dẫn đến tăng qui mô thị trờng. Việc tìm kiếm thị trờng cho mặt hàng
thuỷ sản không chỉ trong nớc, mà với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá thì
việc tìm kiếm thị trờng tầm cở quốc tế mới đem lại giá trị lớn cho thu nhập
quốc dân, mới thu hút đợc vốn đầu t cũng nh các nguồn lực khác cho việc
khai thác tiềm lực này.
Nghiên cứu đề tài này một mặt cho em biết đợc tiềm năng to lớn của
mặt hàng này, những đặc điểm cũng nh những lợi ích mà nó mang lại cho
ngời dân và đất nớc, mặt khác biết đợc nhu cầu của thị trờng về mặt hàng
2
này, đặc biệt là thị trờng xuất khẩu, từ đó có thể góp một phần nhỏ nào trong
định hớng phát triển ngành hàng thuỷ sản.
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Phần I : Thị trờng và vai trò của nó đối với hoạt động kinh doanh của
doanh ngiệp
I/Khái niệm thị trờng
1/ Khái niệm thị trờng
2/ cơ sở hình thành thị trờng
3/ Mô tả thị trờng
II/ Vai trò của thị trờng đối với hoạt động của các doanh nhiệp
Phần II : Thực trạng thị trờng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong
những năm đổi mới vừa qua
I/ Tổng quan về tình hình xuất khẩu và thị trờng xuất khẩu của Việt nam thời
gian qua
1/Tình hình xuất khẩu Việt nam thời gian qua
2/ Thị trờng xuất khẩu của Việt nam thời gian qua
II/ Thị trờng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong thời gian qua
1/ Đặc điểm mặt hàng thuỷ sản và lợi thế của Việt Nam về mặt hàng thuỷ
sản
2/ Thực trạng thị trờng thuỷ sản Việt nam
trong một thời gian và không gian nhất định.
Thị trờng là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi mua bán hàng hoá và thị trờng
đợc ví nh là một cái chợ. Vì thế biết đợc thị trờng về không gian, thời gian
và dung lợng.
Các định nghĩa trên đây về thị trờng có thể nhấn mạnh ở địa điểm mua
bán, vai trò của ngời mua, ngời bán hoặc chỉ ngời mua, coi ngời mua giữ vai
trò quyết định trong thị trờng, chứ không phải nguời bán , nếu không có ngời
bán, không có ngời mua, không có hàng hoá và dịch vụ, không có thoả thuận
thanh toán bằng tiền hoặc hàng, thì không thể có thị trờng. Nh vậy thị trờng
đợc nghiên cứu dới nhiều giác độ khác nhau. Sự phân loại thị trờng có nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc. Một số tiêu thức để phân loại thị trờng nh sau:
-Theo giác độ tổng hợp, thị trờng đợc phân ra thành hai loại:
+ Thị trờng hàng hoá bao gồm sản phẩm hàng hoá, sức lao động và
dịch vụ.
4
+ Thị trờng tiền tệ bao gồm thị trờng chứng khoán, thị trờng vốn
-Căn cứ vào số lợng nguời mua bán trên thị trờng, có thị trờng cạnh
tranh hoàn hảo, thị trờng cạnh tranh độc quyền, thị trờng độc quyền.
-Căn cứ vào phạm vi địa lý có thị tròng quốc gia, thị trờng khu vực, thị
trờng thế giới.
-Căn cứ vào loại hàng hoá mua bán trên thị trờng có rất nhiều dạng thị
trờng, mỗi sản phẩm hàng hoá đều có thị trờng riêng của mình: Thị trờng
gạo, thị trờng kim loại, thị trờng thuỷ sản
- Căn cứ vào công dụng của sản phẩm hàn hoá, có thị trờng yếu tố sản xuất
và thị trờng sản phẩm tiêu dùng.
2/Cơ sở hình thành thị trờng:
Các khái niệm về thị trờng nh đã nói ở trên, đều thể hiện sự có mặt của
ngời mua, ngời bán, hàng hoá cùng với sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó
hình thành nên giá cả, sự cạnh tranh. Theo lịch sử phát triển, ở giai đoạn đầu
gian nhất định. Lợng cung đợc đánh giá do các doanh nghiệp sản xuất cung
ứng ra trên thị trờng, quy luật của cung cho biết khi giá cả hàng hoá trên thị
trờng tăng thì cung tăng và ngợc lại khi giá cả hàng hoá giảm thì cung giảm.
Tuy nhiên, việc cung nhiều hay ít ngoài yếu tố giá ra còn phụ thuộc vào các
yếu tố khác nh yếu tố đầu vào, công nghệ, nguồn lao đông Với nền kinh tế
thị trờng nh ngày nay, phần lớn các mặt hàng đều có cung lớn hơn cầu, hàng
hoá tao ra nhiều do trình độ công nghệ các yếu tố khác làm tăng hiệu quả
trong sản xuất. Chính vì vậy để giảm tình trạng d thừa, ứ đọng có thể xảy ra
thì cần phải xem xét nhu cầu thị trờng, từ đó tao ra những sản phẩm phù hợp
về số lợng, chất lợng nhu cầu Hay là phù hợp với dung lợng thị trờng của
mặt hàng đó.
Cầu hàng hoá là số lợng hàng hoá mà ngời mua muốn và có khả năng mua
theo mức giá nhất định. Giá thị trơng của các hàng hoá mà chúng ta cần mua
càng tăng thì chúng ta sẽ giảm khối lợng mua hàng hoá đó hoặc giảm khối l-
ợng mua của các mặt hàng khác. Ngợc lại, giá thị trờng giảm thì chúng ta sẽ
nhiều mặt hàng đó hơn hoặc là mua thêm các mặt hàng khác. Giá cả hàng
hoá cao thì chi phí cơ hội càng cao, mà chi phí cơ hội quyết định ngời ta có
thể mua đợc những gì. Đó là những nội dung của quy luật về cầu: Giá thị tr-
ờng càng cao thì nhu cầu càng thấp và ngợc lại giá càng thấp thì nhu cầu
càng cao. Và nh vậy về cầu đợc giải thích bằng chi phí cơ hội hoặc chi phí
lựa chọn.
Nh trên quy luật về cung cho ta biết, ở mặt bàng giá nhất định có bao
nhiêu sản phẩm sẽ đợc đa ra bán ở trên thị trờng, còn quy luật về cầu lại cho
biết với giá nh vậy thì sẽ có bao nhiêu sản phẩm đợc ngời tiêu dùng chấp
nhận mua
6
Sự tác động qua lại giữa cung và cầu hình thành nên giá cả thị trờng,
tuỳ theo sự biến động của quy luật cung và cầu mà mức giá có sự biến động
tơng ứng. Theo quy luật cung cầu thì một hàng hoá sẽ đợc bán theo mức giá
có ngời mua, ngời bán và hàng hoá. Thông qua cung cầu, giá cả thị trờng mà
7
các nhà sản xuất quyết định sản xuất cái gì ? Bao nhiêu ? Cho ai ? Ngày nay
thị trờng thuộc về ngời mua, mỗi ngời mua nh là một cử tri bỏ phiếu cho sự
tồn tại của doanh nghệp thông qua lá phiếu bằng tiền. Thông qua thị trờng
doanh nghiệp mới biết đợc nhu cầu của ngời mua nh thế nào từ đó tạo ra
những hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu đó trên cơ sở đó doanh nghiệp mới
có khả năng tồn tại phát triển.
4/Thị trờng phản chiếu tình hình sản xuất kinh doanh. Thông qua thị
trờng doanh nghiệp mới biết đợc sản phẩm của họ tạo ra có phù hợp với nhu
cầu của khách hàng không, tốc độ kinh doanh, hiệu quả kinh doanh, thị trờng
nh là tấm gơng phản chiếu quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
từ đó doanh nghiệp mới có cơ sở sửa chữa, điều chỉnh những phần không
phù hợp, kém hiệu quả nhằm làm cho doanh nghiệp đạt đợc tốc độ, trình độ
và qui mô sản xuất theo mục tiêu đã đề ra.
5/Thị trờng là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm, chứng minh
tính đúng đắn của các chủ trơng, chính sách, biện pháp kinh tế của các cơ
quan nhà nớc, các nhà sản xuất kinh doanh. Thị trờng còn phản ánh các quan
hệ xã hội, hành vi giao tiếp của con ngời, đào tạo và bồi dỡng cán bộ quản
lý, nhà doanh nghiệp.
8
Phần II:
Thực trạng thị trờng xuất khẩu thuỷ sản Việt nam
trong những năm đổi mới vừa qua
Qua việc nhận biết về thị trờng cũng nh các vấn đề liên quan , việc đa
những nhận biết đó vào quan sát, nghiên cứu diễn biến của vấn đề thực tiễn
có ý nghĩa thiết thực đặc biệt là vấn đề thị trờng xuất khẩu nói chung và thị
trờng xuất khẩu thuỷ sản nói riêng. Đều đó đợc thể hiện nh sau:
1998 5,8 9.361,0 1,9
1999 4,8 11.540,0 23,3
2000 6,76 14.449.0 25,2
Nguồn: Tài liệu Bộ Thơnng mại
Qua bảng thống kê trên có thể thấy : Quy mô xuất khẩu đã tăng 6,9
lần, bình quân hàng năm là 19,21%, tính bình quân đầu ngời tăng từ 30 USD
năm 1991 lên gần 200 USD năm 2000.
Tuy nhiên về cụ thể một số mặt hàng tình hình xuất khẩu trong một
vài năm gần đây(năm 2000) là:
10
Bảng 2 : Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng
Lợng (Nghìn tấn) Giá trị ( Triệu USD)
Khu vực kinh tế trong
nớc
5465
Khu vực có vốn đầu t n-
ớc ngoài
4894
Dầu thô 2475
Các sản phẩm khác 2422
Mặt hàng chủ yếu
Dầu thô 11165 2472
Dệt, may 1356
Giày dép 1063
Hải sản 1018
Điện tử, máy tính 580
Cà phê 493 384
c)Cơ cấu hàng xuất khẩu chuyển dịch tích cực:
Hàng nguyên liệu thô năm 1991 chiếm trên 92% tổng kim ngạch xuất
khẩu, đến nay chỉ còn khoản 60%. Hàng chế biến và chế biến sâu (trong đó
có hàng chế tạo) năm 1991 chỉ chiếm khoản 8%, năm 1999 đã lên khoản
40% tổng kim ngạch xuất khẩu. Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản năm 1991
chiếm tỷ trọng 53% tổng kim ngạch đến nay xuống còn khoản 36,5%; nhóm
hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1991 chiếm 47% thì năm 1999
đã tăng lên 63,5%. Đã hình thành một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Năm
1991 mới có 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực (đạt kim ngạch 100 triệu USD trở
lên) là dầu thô, thuỷ sản, gạo, dệt may; mặt hàng đạt kim ngạch coa nhất là
dầu thô cũng chỉ đạt 581 triệu USD. Đến năm 1997, đã tăng thêm 8 mạt hàng
xuất khẩu chủ lực mới là cà phê, cao su, điều, giầy dép, than đá, hàng điện
tử, hàng thủ công mỹ nghệ và rau quả; trong số các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực thì có một số mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao là cao su, giầy dép,
hàng điện tử, nhân điều, chè, gạo Có một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có
khả năng tác động tới thị trờng khu vực và thị trờng thế giới là gạo xuất khẩu
đứng thứ hai thế giới ( sau Thái Lan), nhân điều đứng thứ hai thế giới ( sau
ấn Độ), cà phê đứng thứ t thế giới (sau Brazin, Colombia, Mexico). Nếu chỉ
tính riêng cà phê robusta thì Việt Nam đứng số 1 ở châu á và thế giới.
d)Chất lợng hàng xuất đã nâng lên đáng kể:
Bớc đầu tạo ra sức cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trơng thế
giới, đông thời tác động tích cực đến chất lợng sản phẩm trong nớc. Hiện nay
gạo, dầu thô, thuỷ sản, hàng dệt may, giầy dép, cà phê, nhân điều, hạt tiêu
xuất khẩu từ Việt Nam đã đợc thừa nhận đạt chất lợng quốc tế. Các nhà sản
xuất trong nớc đã chú trọng đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao chất lợng sản
phẩm, nhiều hàng nội đã có chất lợng không thua kém hàng ngoại nh: xi
măng, thép, đờng, xe đạp, quạt điện, phích nớc, bóng điện
12
e)Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t, liên doanh nớc ngoài tăng
tấn)
Giá trị
(Triệu USD)
Khu vực kinh
tế trong nớc
4133 116,8
Khu vực có
vốn đầu t nớc
ngoài
3452 112,5
Mặt hàng chủ yếu
Dầu thô 8694 1771 123,2 119,0
Dệt, may 931 112,7
Giày dép 747 96,3
Thuỷ sản 826 146,7
điện tử, máy
tính
307 79,5
Cà phê 547 254 151,1 84,8
Gạo 2180 341 134,5 106,3
Thủ công mỹ
nghệ
118 86,8
Hạt tiêu 43,7 71 140,2 55,8
Cao su 118 67,5 108,3 100,7
Hạt điều 15,7 60 116,5 86,0
Than đá 2014 49 134,3 109,6
Rau quả 167 216,9
Chè 14,8 16,6 74,0 67,7
Lạc 19,5 10 68,7 65,1
ơng quốc ả Rập Thống nhất, Hàn Quốc, Mexicô, Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Trung
Quốc, Ucraina và một số thị trờng kém hơn cùng kỳ năm 2000 là: Na Uy,
New Zealand, Nhật Bản, úc, Phần Lan, Philippin, Séc, Tây Ban Nha, Thái
Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Thuỵ Điển, Thuỵ Sỹ.
Tăng trởng xuất khẩu của các nhóm hàng chủ yếu
- Nhóm nông lâm, thuỷ sản: 9 tháng đầu năm xuất khẩu tăng 10,6% so
với cùng kỳ năm 2000 (9 tháng đầu năm 2000 tăng 7%), do khối lợng xuất
khẩu tăng 30,6%, làm tăng kim ngạch khoảng 774 triệu USD và do giá giảm
15,3%, làm giảm kim ngạch khoảng 506 triệu USD (nếu giá không bị giảm
thì nhóm này tăng trởng 30,6%).
Mặt hàng có khối lợng xuất khẩu tăng nhanh là: hạt tiêu (51,4%), cà
phê (40,4%), gạo (16,5%), hạt điều nhân (21,5%).
Mặt hàng có giá xuất khẩu giảm mạnh là: cà phê, hạt tiêu, hạt điều
nhân, gạo, chè.
- Nhóm công nghiệp nặng và khoáng sản: 9 tháng đầu năm tăng 6,6%
(9 tháng đầu năm 2000 tăng 81%), do khối lợng xuất khẩu tăng 17,8%, làm
tăng kim ngạch khoảng 455 triệu USD và do giá giảm 9,4%, làm giảm kim
15
ngạch khoảng 286 triệu USD (nếu giá không bị giảm thì nhóm này tăng tr-
ởng 17,8%). Nhóm này có dầu thô tăng khối lợng xuất 17,1% và giá xuất
khẩu giảm 9,5%; than đá tăng khối lợng xuất 40,3% và giá xuất khẩu giảm
7,6%.
- Nhóm công nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp: 9 tháng đầu năm tăng
0,7% (9 tháng đầu năm 2000 tăng 15,7%), do khối lợng xuất khẩu tăng
7,7%, làm tăng kim ngạch khoảng 252 triệu USD và do giá giảm 7%, làm
giảm kim ngạch khoảng 230 triệu USD (nếu giá không giảm thì nhóm này
tăng trởng 7,7%). Nhóm này có hàng linh kiện điện tử giảm 18,8%, hàng dệt
may giảm 8,7%, các mặt hàng khác có tăng trởng nhng không nhiều.
Tóm lại, xuất khẩu 9 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm 2000 tăng
khoảng 19%).
- Từ tháng 7 đến nay, tỷ giá VNĐ/USD tăng so với các tháng trớc, có
lợi cho xuất khẩu. Sau ngày 11/9 đến nay, USD mất giá khoảng 0,25% đã
làm các doanh nghiệp thiệt hại không nhỏ.
- Chính phủ và các Bộ/ngành có nhiều biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu
nh: tăng cờng tổ chức các Đoàn đi nớc ngoài đàm phán mở rộng thị trờng; tổ
chức các Đoàn đi các nơi trọng điểm, giải quyết các yêu cầu của địa phơng;
tổ chức hội nghị với các doanh nghiệp, tập hợp phản ảnh các khó khăn để
tháo gỡ kịp thời; ban hành nhiều chính sách, giải pháp, tạo môi trờng thuận
lợi cho doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu, trong đó nổi bật là:
+ Trao đổi, đàm phán Hiệp định thơng mại với Chi lê, Peru, Modava,
estoni, Bungari, Pakistan, Nigeria, Ma Rốc, Hoa Kỳ và đang xúc tiến đàm
phán Hiệp định thơng mại với Bruney, NewZealand, Tanzania, Zimbabuê,
Sip.
+ Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg, ngày 4/4/2001 về quản lý xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001 - 2005; Nghị quyết 05/2001/NQ,
ngày 24/5/2001 về bổ sung giải pháp điều hành kế hoạch kinh tế năm 2001;
Thông báo số 58/TB-VPCP về việc đẩy mạnh xuất khẩu và quản lý nhập
khẩu; công bố kết quả thởng xuất khẩu năm 2000 và triển khai thởng xuất
khẩu năm 2001, trong đó bổ sung thêm một số nông sản, thực phẩm
Nguyên nhân chủ yếu hạn chế xuất khẩu
Thứ nhất, 9 tháng đầu năm giá các mặt hàng chủ lực giảm 10,4% so
với cùng kỳ năm 2000 (gồm toàn bộ nông sản xuất khẩu chủ lực, dầu thô,
hàng dệt may, giày dép, hàng điện tử, linh kiện máy tính ) đã làm kim
ngạch xuất khẩu giảm khoảng 1.023 triệu USD.
Thứ hai, từ tháng 4 đến nay nhập khẩu tăng trởng chậm, nhiều chuyên
gia phân tích mối quan hệ xuất khẩu và nhập khẩu cho rằng đây cũng là yếu
tố hạn chế xuất khẩu.
Thứ ba, 9 tháng đầu năm kinh tế Hoa kỳ, Nhật Bản, EU và một số nền
kinh tế lớn khác tăng trởng chậm, thậm chí có dấu hiệu suy thoái, nội tệ suy
tổng kim ngạch xuất khẩu của ta nhng đến năm 1999 chỉ còn 21,3%. Tỷ
trọng của ASEAN chỉ có sự thay đổ lớn khi xem xét cả kim ngạch xuất khẩu
và nhập khẩu. Nếu xét theo tiêu chí này thì tỷ trọng ASEAN tăng đều qua
các năm. Cụ thể, năm 1985 khối này mới chiếm 2,4% kim ngạch xuất
nhập khẩu của ta nhng tới năm 1990đã tăng đến thành 16,5%, năm 1995 là
24% và tới năm 1998 đã là 27,6%.
b)Tỷ trọng của EU nói riêng và của Châu âu nói chung tăng khá đều trong
thời gian qua:
18
Cụ thể, năm 1991 EU mới chiếm 5,7% kim ngạch xuất khẩu của ta
nhng tới năm 1999 đã chiếm tới 21,7% góp phần đa tỷ trọng của Châu âu lên
tới gần 28%. Bớc đột biến trong quan hê thơng mại với EU đến vào năm
1992, Khi ta ký với EU Hiệp định khung về buôn bán hàng dệt may. Kim
ngạch xuất khẩu sang EU đã tăng rất nhanh trong thời gian sau đó(năm
1990 ta mới xuất đợc147 triệu USD sang EU thì năm 1995 đã tăng lên thành
672 triệu USD và tới năm 1998 đã là 2.116 triệu USD và năm 1999 đạt 2.499
triệu USD). Đặc biệt, đây là thị trờng mà ta thờng xuyên xuất siêu.
c)Quan hệ thơng mại với Bắc Mỹ, trong đó chủ yếu là Mỹ, đã có bớc phát
triển nhanh khi Việt nam và Mỹ bình thờng hoà quan hệ vào năm 1995:
Trớc năm 1995, Việt nam hầu nh không có kim ngạch xuất khẩu vào
mỹ. Tới năm 1995, năm đầu tiên bình thờng hoá quan hệ, kim ngạch xuất
khẩu vào Mỹ đã đạt 170 triệu USD, đa tỷ trọng của Mỹ từ 0% lên 3,1%. Đến
năm 1998, dù cha ký đợc hiệp định thơng mại và hàng xuất của ta còn gặp
nhiều khó khăn trên thị trờng Mỹ do cha hởng qui chế MFN, kim ngạch
xuất khẩu sang Mỹ vẫn đạt 469 triệu USD, chiếm 5% kim ngạch xuất khẩu
và năm 1999 đạt 504 triệu USD chiếm tỷ trọng 4,4%. Đây cũng là thị trờng
mà ta thờng xuyên xuất siêu, nếu hiệp định thơng mại đợc ký kết thì xuất
siêu vẫn còn tăng. Có thể nói Mỹ là một thị trờng khổng lồ với sức mua lớn,
nhu cầu đa dạng. Đây là một thị trờng xuất khẩu đầy tiềm năng đối với tất cả
năm 1997. Đây là thành công không nhỏ, nhất là trong hoàn cảnh các nớc
xung quanh chỉ tăng chút ít hoặc không tăng thậm chí còn giảm.
II/ Thị trờng xuất khẩu Thuỷ sản của Việt Nam trong những năm qua
Từ tình hình xuất khẩu các mặt hàng nói chung, qua đó cho thấy tính
đa dạng và phong phú của mặt hàng xuất khẩu, cũng nh thực trạng thị trờng
xuất khẩu các mặt hàng đó. Qua đó cho ta cái nhìn tổng thể về tình hình xuất
khẩu cũng nh thị trờng các mặt hàng xuất khẩu nói chung, từ đó giúp có cơ
sở cho việc nghiên cứu thực trạng xuất khẩu cũng nh thị trờng xuất khẩu
thuỷ sản nói riêng.
1/ Đặc điểm mặt hàng thuỷ sản và lợi thế của Việt nam về mặt hàng
thuỷ sản.
a/Đặc điểm mặt hàng thuỷ sản
+) Là nhóm hàng thuộc ngành sản xuất vật chất: Thực vậy, để tạo ra sản
phẩm tiêu thụ đợc ngay, và đi vào tiêu dùng ngay ngời ta không phải tổng
hợp ngay ban đầu các yếu tố đầu vào với một cơ cấu tơng thích và hợp lý để
tạo ra sản phẩm đó, mà điều đặc biệt và khác so với việc tạo ra các sản phẩm
khác là phải qua một quá trình chọn giống và nuôi trồng. Ban đầu ngời ta
chọn giống, từ giống mẹ ngời ta tạo ra nhiều giống con, qua quá trình nuôi,
chăm sóc đến một thời gian khi mà trọng lợng của chúng thích hợp cho tiêu
thụ, ngoài ra ngời ta đánh bắt trong tự nhiên, ngời ta không hao phí công sức
20
cho nuôi trồng, cũng nh những chi phí khác để tạo ra các loại thuỷ sản đó.
Nói chung sản phẩm một măt phụ thuộc vào tự nhiên, mặt khác phụ thuộc
vào sự nuôi trồng chăm sóc của ta từ đó tạo ra khối lợng thuỷ sản lớn hay
nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu của thị trờng. Chúng là mặt hàng sản xuất
vật chất.
+) Đa dạng về chủng loại : Thuỷ sản là thuật ngữ nói chung cho toàn
bộ các sản phẩm sống và tồn tại trong môi trờng nớc, đợc phân thành nhóm
sống ở môi trờng nớc ngọt, nhóm sống ở nớc lợ, nhóm sống ở nớc
mà nhiều nớc khác không có
+) Có lợi thế về độ lớn và tính đa dạng các loại hình mặt nớc thuận lợi cho
phát triển nuôi trồng thuỷ sản. Chúng ta có tính đa dạng về loại hình mặt nớc
nào là nguồn nớc mặn, nớc ngọt và nớc lợ. Mỗi vùng nớc đều có sự đa dạng
về chủng loại thuỷ sản, nhóm sống ở môi trờng nớc ngọt, lợ , mặn đáp ứng
đa dạng nhu cầu tiêu thụ. Ta có dọc chiều dài đất nớc là biển, hệ thống sông
ngòi dày đặc, rất nhiều loài sinh sống. Biển đông tập hợp nhiều loại thuỷ sản
có giá trị kinh tế cao, hàng năm khai thác với khối lợng lớn mang thu nhập
lớn đến cho ngời dân cũng nh đóng góp cho ngân sách nhà nớc không
nhỏ.Năm 2001, diện tích nuôi thuỷ sản đạt 1,9 triệu hécta ( tăng 439 nghìn
hécta so với năm 2000), nhờ đó sản lợng nuôi trồng cũng tăng lên( riêng tôm
6 tháng đầu năm 2001 đạt 80 nghìn tấn, tăng 24%)
+) Xuyên suốt chiều dài đất nớc là biển tập trung nhiều vùng trọng
điểm về thuỷ sản: Dọc chiều dài đất nớc đã tập trung nhiều vùng đánh bắt
trọng điểm, nơi từ xa đến nay luôn tập trung nhiều loại thuỷ sản với khối l-
ợng lớn và có giá trị cao ( do đặc điểm của nguồn nớc) nh Hải Phòng, Thanh
Hoá, Thuận An (Huế), Đà Nẵng, Quảng Nam, Dung Quất, quần đảo Cát Bà
Nơi hàng năm khai thác khối lợng lớn các loại thuỷ ssản có giá trị cao. Đặc
biệt, ở những nơi đó có nhiều vùng nớc lợ thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ
sản, hàng năm thu hoạch của ngời dân mang lại giá trị không nhỏ.
Qua đó cho thấy chúng ta có lợi thế rất lớn về khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản, và cũng là nguồn tiềm năng lớn mà chúng ta đã và đang khai thác,
không những thế mà đến nay đã trở thành ngành mũi nhọn cho phát triển đất
nớc góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
2/Thực trạng thị tròng xuất khẩu thuỷ sản
22
a)Tổng quan tình hình xuất khẩu thuỷ sản
Năm 1980, lần đầu tiên ngành thuỷ sản đạt kim ngạch xuất khẩu 11,2
triệu Rúp và cũng chỉ xuất khẩu sang khu vực 1 ( các nớc xã hội chủ nghĩa).
công nhận đa vào danh sách 1 các nớc đợc nhập khẩu thuỷ sản vào EU, đặc
biệt là mặt hàng xuất khẩu nhuyễn thể 2 manhe vỏ vào EU, đó là bớc tiến vợt
bậc của ngành công nghiệp chế biến thuỷ sản nớc ta. Theo dự kiến đến năm
2003, toàn bộ các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu của ta sẽ đều
23
đạt tiêu chuẩn chất lợng an toàn thực phẩm của EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Đều đó sẽ tạo ra bớc đột phá của ta trong việc lấy lòng tin và mở rộng thị tr-
ờng của các thị trờng khó tính đó. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản, hải
sản trên thế giới tiếp tục tăng ở mức cao nh tại thị truờng Hoa Kỳ, Hàn Quốc,
Nhật Bản và Trung Quốc.
Ta có bản số liệu thống kê về cơ cấu sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu theo
số lợng tính đến năm 1999 nh sau:
24
Bảng 6 : Cơ cấu mặt hàng thuỷ sản
Mặt hàng Theo số lợng
(%)
Theo giá trị
(%)
Tôm đông lạnh 66,2 67,2
Cá đông lạnh 20,8 5,6
Mực đông lạnh 6,9 10,8
Các sản phẩm khô 5,1 11,8
Sản phẩm khác 1 4,6
Nguồn : Bộ Thuỷ sản
Nh vậy trong các sản phẩm xuất khẩu về khối lợng tôm đông lạnh
chiếm tỷ trọng lớn, đó là sản phẩm mà hiện nay thu hút ngời dân nuôi trồng
rất lớn, chơng trình nuôi tôm càng xanh xuất khẩu đã đợc Bộ Thuỷ sản triển
khai và đi vào hoạt động, hàng vạn ha đất đã đợc khai thác nạo vét trở thành