MỞ ĐẦU
Hàng dệt may được coi là một trong những mũi nhọn xuất khẩu của Việt
Nam, phát triển hàng dệt may là bước đi có tính chất chiến lược. Là một nước
đang phát triển và đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (WTO), những
con đường mới đang được mở ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt
may Việt Nam. Thị trường EU đã xoá bỏ hạn ngạch dệt may đối với tất cả các
nước, việc ra nhập WTO cũng làm cho hạn ngạch dệt may áp dụng với Việt
Nam được xoá bỏ. Sự kiện này giúp cho một số doanh nghiệp xuất khẩu dệt may
còn thiếu hạn ngạch sẽ gặp nhiều thuận lợi, còn một số doanh nghiệp vẫn tồn tại
trong tình trạng sống tầm gửi nhờ số hạn ngạch được cấp thì nay sẽ ra sao? Liệu
các doanh nghiệp Việt Nam có còn đứng vững và phát triển trong thị trường
xuất khẩu may mặc hay là không đủ khả năng cạnh tranh với các nước lớn như
Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh, Trung quốc…? Vị trí của ngành dệt may Việt
Nam sẽ đứng ở đâu trên bản đồ cạnh tranh mới trong năm 2005? Chính phủ và
các doanh nghiệp xuất khẩu đã, đang và sẽ làm gì để bắt nhịp với sự thay đổi
của thế giới? Việt Nam được xem là có rất nhiều lợi thế trong phát triển ngành
may mặc và việc tận dụng những lợi thế đó có giúp gì cho Việt Nam trong
thương trường thế giới. Đây là một vấn đề đang được quan tâm đặc biệt, trước
tình hình cấp bách đó của toàn ngành dệt may, đề tài:
" THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU TRONG XU
HƯỚNG XOÁ BỎ HẠN NGẠCH DỆT MAY "
đã được chọn để nghiên cứu.
1. Mục đích nghiên cứu của đề tài: thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam sang thị trường EU trong xu hướng xoá bỏ hạn ngạch dệt may.
2. Đối tượng nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam.
1
3. Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
và thị trường EU.
4. Kết cấu: đề tài được hoàn thành gồm ba phần
và kĩ thuật cao hơn như ô tô, điện tử… Ngành dệt may lại tiếp tục chuyển dịch
sang các nước Nam Á, Trung Quốc rồi tiếp tục sang các quốc gia khác, trong đó
có Việt Nam.
3
Việt Nam là một quốc gia thuộc ASEAN và cũng đã đạt mức xuất khẩu cao
về sản phẩm dệt may trong thập kỷ qua góp phần vào công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Đặc điểm về buôn bán hàng dệt may
- Sản phẩm dệt may có nhu cầu rất đa dạng, phong phú tuỳ theo đối tượng
tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo,
khác nhau về khu vực địa lý, tuổi tác…sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang
phục.
- Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi
mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm lý thích đổi mới, độc đáo
và gây ấn tượng của người tiêu dùng.
- Nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiêu thụ sản phẩm.
Người tiêu dùng thường căn cứ vào nhãn mác để đánh giá chất lượng sản phẩm.
Tên tuổi của các nhãn mác nổi tiếng trên thế giới đều gắn liền với nhãn mác sản
phẩm. Tập quán và thói quen tiêu dùng là một yếu tố quyết định nguyên liệu và
chủng loại sản phẩm.
- Yếu tố thời vụ liên quan chặt chẽ tới thời cơ bán hàng. Điều này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những nhà xuất khẩu trong vấn đề giao hàng
đúng thời hạn.
- Các sản phẩm dệt may là một trong những mặt hàng được bảo hộ chặt
chẽ. Trước đây có hiệp định về hàng may mặc, việc buôn bán các sản phẩm dệt
may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt mà nhờ đó, phần
lớn các nước nhập khẩu thiết bị cần hạn chế số lượng để hạn chế hàng dệt may
nhập khẩu. Mặt khác, mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so
với những hàng công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra
những điều kiện đối với hàng dệt may nhập khẩu. Tất cả những hàng rào đó ảnh
phát huy được nội lực của Việt Nam.
III. Hạn ngạch
1. Khái niệm về hạn ngạch (quota)
5
Hạn ngạch vừa như một rào cản hạn chế lượng hàng xuất khẩu của các
doanh nghiệp về một thị trường nào đó. Nhưng đồng thời nó cũng là sự phân bổ
tạo cơ hội cho doanh nghiệp được xuất khẩu sang nước khác.
Hạn ngạch là quyền lợi dành cho mỗi thành viên trong một tổ chức được
hưởng phần ngoại tệ dành cho một thương nhân được sử dụng để nhập khẩu
trong tổng số ngoại tệ dùng để nhập khẩu của một nước.
Một định mức về số lượng hoặc trị giá do nhà nước quy định trong việc
xuất khẩu hoặc nhập khẩu một mặt hàng trong một thời gian nhất định.
2. Căn cứ giao hạn ngạch cho các doanh nghiệp trong nước
2.1. Hạn ngạch thành tích
Là dành 80% nguồn hạn ngạch để giao cho thương nhân đã có thành tích
xuất khẩu mặt hàng trong năm tương ứng. Thành tích xuất khẩu của các thương
nhân sẽ do phòng quản lý xuất nhập khẩu khu vực báo cáo, không giao hạn
ngạch thành tích cho các thương nhân mới, chưa được kiểm tra năng lực sản
xuất.
2.2. Hạn ngạch phát triển
Là dành 20% nguồn hạn ngạch còn lại để giao cho các doanh nghiệp có
mặt hàng xuất khẩu cùng loại tương ứng. Bộ Thương Mại dựa vào những hồ sơ
và một số yêu cầu bổ sung có thể để phân giao hạn ngạch công bằng giữa các
doanh nghiệp theo một số tiêu chí như: xuất khẩu dệt may sử dụng vải trong
nước, thưởng cho doanh nghiệp xuất khẩu các chủng loại hàng phi hạn ngạch;
doanh nghiệp vùng sâu, vùng xa (cách cảng Hải Phòng hoặc cảng quốc tế thành
phố Hồ Chí Minh trên 500km); doanh nghiệp tham gia chuỗi và các doanh
nghiệp đầu tư mới các dự án dệt nhuộm lớn…
3. Các loại hạn ngạch
3.1. Hạn ngạch thuế quan quy định số lượng đối với loại hàng nào đó
- Gia công quốc tế
- Tạm nhập tái xuất
5.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
7
- Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước .
- Xuất khẩu có vai trò tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu có tác động tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân
- Xuất khẩu là nền tảng trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Xuất khẩu góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề sử
dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
8
PHẦN HAI
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ
TRƯỜNG EU TRONG XU HƯỚNG XOÁ BỎ HẠN NGẠCH DỆT MAY
I. Khái quát chung về thị trường EU
1. Vài nét chung về liên minh Châu Âu và quan hệ Việt
Nam - EU
1.1 Vài nét chung về liên minh Châu Âu
Liên minh Châu Âu đã có lịch sử hơn 50 năm hình thành và phát triển. Tổ
chức tiền thân là Cộng đồng than và sắt thép Châu Âu gọi tắt là CECA
(18/4/1951). Ngày 1/1/1994 Cộng đồng Châu Âu (EC) đổi tên thành Liên minh
Châu Âu, gọi tắt là EU (đến ngày 1/5/2004 EU chính thức kết nạp thêm 10
thành viên mới, nâng tổng số thành viên lên 25 nước). Liên minh Châu Âu là
một trung tâm kinh tế hùng mạnh, có vai trò rất lớn trong nền kinh tế thế giới.
Không chỉ lớn về quy mô (năm 1999 GDP đạt 8,774 tỷ USD chiếm 20% GDP
toàn cầu, vững mạnh về cơ cấu dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, tăng trưởng
ổn định) mà còn có đồng tiền mạnh - đồng EURO có khả năng chuyển đổi toàn
hướng xoá bỏ hạn ngạch dệt may.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam - EU
Đơn vị: triệu đồng
XUẤT KHẨU
1995 1996 1997 1998
1. Tồng kim ngạch XK của VN 5444,9 7255,9 9185 9361
2. Trong đó với Eu 720 990,5 1608,5 2094,3
3. Tỷ trọng / tổng số 13,2 12,4 17,5 22,7
4. Tỷ lệ tăng trưởng 87,6 25,1 78,6 32,2
(Nguồn: Tổng cục thống kê )
10
2. Đặc điểm thị trường EU
2.1 Thị trường EU
EU là một thị trường rộng lớn gồm 25 quốc gia với hơn 450 triệu người
tiêu dùng. Thị trường EU thống nhất cho phép lưu thông tự do người, hàng hoá,
dịch vụ và vốn giữa các thành viên. Thị trường này cần mở rộng sang các nước
thuộc "Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu " (EFTA) tạo thành một thị trường
rộng lớn trên 450 triệu người tiêu dùng.
2.2 Tập quán thị hiếu người tiêu dùng
Đây là một thị trường khá khó tính và có chọn lọc, đặc biệt là đối với hàng
dệt may. Ngành dệt may của Châu Âu đang có xu hướng chuyển dần sang các
nước khác có giá nhân công rẻ (các nước đang phát triển) nên thị trường này có
xu hướng nhập khẩu ngày càng nhiều hàng dệt và may mặc.
Để đảm bảo cho người tiêu dùng EU kiểm tra ngay từ nơi sản xuất và có hệ
thốngbáo động về chất lượng hàng hoá giữa các nước trong khối. Hiện nay ở
Châu Âu có 3 tiêu chuẩn định chuẩn của Uỷ ban Châu Âu về định chuẩn điện tử,
Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu. Tất cả các sản phẩm để có thể bán ở thị
trường này đều phải đảm bảo thực hiện tiêu chuẩn chung EU.
EU tích cực tham gia chống nạn hàng giả bằng cách không nhập khẩu
những sản phẩm đánh cắp bản quyền. Nhu cầu tiêu dùng là tìm kiếm những thị
khẩu, chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự
nguyện.
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biện
pháp chống bán phá giá và chống tự cấp xuất khẩu, không chỉ dừng lại ở việc áp
dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, EU
còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nước đang phát
triển đó là hệ thống ưu đãi phổ cấp (GSP) - một công cụ quan trọng của EU để
hỗ trợ các nước trên. Bằng cách này EU có thể làm cho các nước đang phát triển
dễ dàng thâm nhập vào các thị trường của mình.
II. Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trước khi có Hiệp định tự
do hoá thương mại ngành dệt may
12
1. Hoạt động xuất khẩu chung của dệt may Việt Nam
1.1 Kim ngạch xuất khẩu chung
Ngành dệt may nước ta phát triển đã lâu nhưng chỉ từ thập niên 90 trở lại
đây mới thực sự chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nói chung và hoạt
động ngoại thương nói riêng. Trong suốt 40 năm qua, kim ngạch xuất khẩu hàng
dệt may nước ta không ngừng tăng. Năm 1991, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt
may chỉ đạt 158 triệu USD. Năm 1997 Việt Nam đã xuất khẩu được 1,3 tỷ USD
đứng thứ hai sau dầu mỏ. Nhưng dù vậy, sản xuất ngành dệt may vẫn chủ yếu là
gia công, lệ thuộc vào đối tác nước ngoài về mẫu mã, thị trường và giá cả không
chuyển sang tự sản xuất kinh doanh để có hiệu qủa hơn. Vì thế, sản xuất ngành
dệt may có chiều hướng giảm dần so với năm 1996. Năm 1998 gấp 9,18 lần (so
với năm 1991) đạt 1450 triệu USD tương đương với tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm là 43,5% tức là khoảng 160 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, tỷ
trọng hàng dệt may xuất khẩu trong tổng kinh ngạch của nước ta luôn tăng từ
7,6% năm 1991 lên 15% năm 1998. Đến nay, hàng dệt may là một trong 10 mặt
hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm qua
được thể hiện ở bảng sau
không hạn chế bằng hạn ngạch, dân số đông và mức thu nhập bình quân 27
nghìn USD/ người / năm thì nhu cầu về may mặc là không nhỏ. Hàng năm Nhật
Bản nhập khẩu hàng may mặc khoảng từ 7-8 tỷ USD, trong đó hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này năm 1994 khoảng 130 triệu USD, năm
1996 vươn lên vị trí số 8 trong danh sách 10 nhà xuất khẩu may mặc lớn nhất
vào Nhật Bản với doanh số là 500 triệu USD. Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu
mặt hàng này là 0,467 tỷ USD. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu rất khả quan song
do Nhật Bản là một thị trường rất khó tình về chất lượng giá cả vì thế khả năng
để chiếm lĩnh thị trường vẫn còn hạn chế.
• Thị trường Mỹ
Đây cũng là một thị trường khá hấp dẫn đối với ngành dệt may Việt Nam.
Tuy nhiên việc tham gia vào thị trường này rất khó khăn vì phải chịu mức thuế
nhập khẩu cao từ 40-90% giá trị nhập khẩu. Từ sau khi Hiệp định thương mại
Việt - Mỹ được kí kết thì hàng dệt may Việt Nam đã có điều kiện phát triển tốt
hơn trên thị trường này.
14
Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ
Đơn vị: triệu USD
Mặt hàng 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Hàng dệt 0,11 1,78 3,59 5,236 5,053 7,8
Hàng may 2,45 15,09 20,01 20,602 21,347 28,6
Cộng 2,56 16,78 23,6 25,928 26,4 36,4
(Nguồn: Bộ thương mại )
• Thị trường các nước trong khu vực
Hàng năm hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu một lượng lớn sản phẩm sang
các nước trong khu vực như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc. Tuy
nhiên các nước này không phải là thị trường nhập khẩu chính mà là các nước
nhập khẩu để tái xuất khẩu sang nước thứ ba.
Bảng 4: Các nước trong khu vực nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam
Đơn vị : triệu USD
hiệu lực từ 1/1/1993 và được điều chỉnh bổ xung bằng thư từ trao đổi kí từ
ngày1/8/1995 giữa chính phủ Việt Nam và Cộng đồng kinh tế Châu Âu, quy
định những điều khoản về hàng dệt may sản xuất hàng dệt may sang EU. Tiếp
đến, ngày 24/7/1996 tại Bruxen, Việt Nam và EU đã chính thức ký Hiệp định
về buôn bán hàng dệt, may mặc. Theo Hiệp định này, Việt Nam được tự do
chuyển đổi quota giữa các mặt hàng một cách rộng rãi đồng thời EU cũng dành
cho phía Việt Nam quy chế tối huệ quốc (MFN) và chế độ ưu đãi phổ cập(GPS).
Khi Hiệp định hàng dệt may thời kì 1992-1997 hết hạn thì Hiệp định buôn bán
dệt may Việt Nam - EU giai đoạn 1998-2000 được kí kết ngày 17/11/1997 cho
phép nâng hạn ngạch dệt may từ Việt Nam sang EU tăng lên 40% so với giai
đoạn 5 năm(1993-1997) với mức tăng trưởng 3-6%/năm. Mới đây đại diện chính
phủ Việt Nam và Liên hiệp Châu Âu đã kí Hiệp định về buôn bán hàng dệt may
cho 3 năm 2000 - 2002 trong đó Việt Nam và EU cam kết mở rộng cửa thị
trường cho hàng dệt may xuất khẩu của hai bên. Theo Hiệp định này EU đồng ý
16
tăng khoảng 30% hạn ngạch cho hàng dệt may VN xuất khẩu vào thị trường
này. Hiệp định này có hiệu lực từ 15/6/2000
• Hạn ngạch mã hàng dệt may của EU cấp cho Việt Nam (VN) Theo
thông lệ mức gia tăng hàng dệt may xuất khẩu vào EU năm sau so với năm trước
chỉ được tối đa là 5%. Tuy nhiên trong Hiệp định mới kí kết, hạn ngạch xuất
khẩu vào EU năm 2000 có nhiều mặt hàng tăng gần gấp đôi so với mức hạn
ngạch của năm 1999. Vì thế, các doanh nghiệp đánh giá cao thành công của
nhóm đàm phán do Bộ Thương Mại dẫn đầu đã thuyết phục được EU mở rộng
hơn cánh cửa thị trường khối này cho hàng dệt may VN . Các doanh nghiệp tin
rằng xuất khẩu hàng dệt may VN vào EU trong những năm tới sẽ tăng nhanh
hơn.
17
Bảng 5: Hạn ngạch 28 mã hàng dệt may EU cấp cho VN
STT
Tên hàng Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
12 Cat 18: bộ pyjama 800 tấn 833 tấn 911 tấn
13
Cat 20: khăn trải
gường
859 tấn 234 tấn 241 tấn
14
Cat 21: áo jacket 227 tấn 18 tr triệu
chiếc
18,9 triệu chiếc
15
Cat 26: váy áo liền 15,766 triệu
chiếc
1,15 triệu bộ 1,185 triệu bộ
16
Cat 28: hàng dệt kim 796.000 bộ 3,551
triệuchiếc
3,658 triệu chiếc
17
Cat 29: bộ quần áo
dệt kim
265.000 bộ 350.000 bộ 361.000 bộ
18 Cat 31: áo lót nhỏ 2,864 triệu chiếc 4 triệu chiếc 4,12 triệu chiếc
19
Cat 35: vải xơ tổng
hợp sợi dài
551 tấn 789 tấn 807 tấn
20 Cat 41: sợi tổng hợp 677 tấn 707 tấn 739 tấn
21
Cat 68: quần áo trẻ
em
các sản phẩm này không phải là hàng tiêu dùng đối với khách hàng có thu nhập
cao. Mẫu mã hầu như chưa được đổi mới với thị hiếu của người tiêu dùng. Vì
thế khả năng đúng mốt hợp thời trang của dệt may gần như không đáp ứng
được. Bên cạnh đó, giá xuất khẩu của các mặt hàng năm 1999 bị giảm thấp từ 15
- 20 % so với năm 1998 nên hiệu quả kinh tế là chưa cao. Điều này ảnh hưởng
rất lớn đến khả năng hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty trong việc
nâng cao uy tín, mở rộng thị trường. Mặt khác hình thức xuất khẩu theo hạn
nghạch cũng tạo ra cho doanh nghiệp luôn bị gò bó thụ động trong việc thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu của mình. Tuy nhiên vì thị trường EU tiêu dùng theo tầng
lớp nên sản phẩm dệt may VN thường thích hợp, thoả mãn nhu cầu ở tầng lớp
trung lưu nghĩa là đã có sự chấp nhận mặt hàng này hơn là chất lượng cũng như
19
giá cả vừa với mức thu nhập của họ. Chính vì vậy mà số hạn ngạch đã được
giảm từ 151 vào năm 1993 đến năm 2000 số hàng quản lý bằng hạn ngạch chỉ
còn 28 đã cho thấy người tiêu dùng EU đang ngày càng chấp nhận tiêu dùng
hàng dệt may nhiều hơn.
Với thị trường EU luôn đòi hỏi chất lượng cao, mẫu mã được đổi mới liên
tục số lượng hàng dệt may xuất khẩu sang EU còn quá ít. Nhưng phải thừa nhận
rằng Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa VN và EU đã tạo ra bước tiến mới
trong xuất khẩu hàng dệt may nước ta. Vì vậy, điều quan trọng hiện nay để thâm
nhập thị trường này là phải tăng cường xuất khẩu và liên tục nâng cao chất
lượng, đổi mới sản phẩm về mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc nhằm cạnh tranh có
hiệu quả hơn với các đối thủ khác trên thị trường này.
• Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may VN sang thị trường EU
Là một thị trường đầy tiềm năng với sức tiêu dùng hàng dệt may cao hàng
đầu thế giới: 17 kg/người/năm. EU thực sự trở thành thị trường rộng lớn. Vì vậy
nhu cầu tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may VN sang thị trường EU luôn là
vấn đề cấp thiết. Hiện nay hàng dệt may VN xuất khẩu sang hơn 40 nước trên
thế giới trong đó xuất khẩu sang các nước EU chiếm gần 40% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta.
xuất sang thị trường EU. Chính điều này tạo nên sự bất cập đối với công ty VN,
bởi như vậy họ không tự khẳng định được vị thế của mình trên thị trường mà lại
phải ẩn sau nhãn mác của một hãng nước ngoài, họ không có khả năng cũng như
luôn bị thụ động trong việc thực hiện hoạt đống sản xuất của mình về mẫu mã,
chủng loại. Đặc biệt là giá cả được trả rất thấp, điều đó làm cho lợi nhuận không
cao và như vậy vốn đầu tư cho thiết bị không có nên chất lượng thấp, khả năng
sáng tạo mẫu mã kém không tiêu thụ được. Và cứ như vậy tạo nên một vòng
luẩn quẩn cho các doanh nghiệp VN.
• Cạnh tranh với một số nước trên thị trường EU
Với tư cách là nhà xuất khẩu mới còn non trẻ, hơn nữa lại chưa phải là
thành viên của WTO nên bị hạn chế hạn ngạch theo các Hiệp định song phương,
chịu mức thuế suất, nhập khẩu cao vì thế thị phần của VN ở thị trường EU còn
rất nhiều bất cập và nhỏ bé. Năm 2000 đạt 0,5% giá trị nhập khẩu hàng dệt may
21
của EU, đến năm 2002 là 0,8%. Các quốc gia và vùng lãnh thổ có năng lực sản
xuất lại được ưu đãi về hạn ngạch đã chiếm tỷ trọng khá lớn vào các thị trường
quan trọng như Trung Quốc: 11,5%, các nước Đông Á 6%, Ấn Độ 6% đặc biệt
Thổ Nhĩ Kỳ 7,8%, Đông Nam á chiếm 4,5%.
III. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU sau khi có
Hiệp định tự do hoá thương mại ngành dệt may.
1. Tình hình chung của dệt may Việt Nam sau khi có Hiệp định tự do hoá
thương mại ngành dệt may.
Có thể nói rằng ngay cả khi VN đã là thành viên của WTO ngành dệt may
VN cũng như nhiều nước khác vẫn chịu sức ép rất lớn trước sức cạnh tranh của
hàng dệt may Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan trong khi đó, dù đã đàm phán
khẩn trương chúng ta vẫn chưa thể khẳng định VN có thể gia nhập WTO vào
năm 2005. Vì vậy, rất cần tính đến khả năng VN vẫn phải chịu áp đặt quota
trong năm 2005.
Khi xoá bỏ quota cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các nước nhập khẩu sẽ được
tự do lựa chọn nơi nào có ngành dệt may cạnh tranh hơn, chọn doanh nghiệp nào
này luôn đạt được những thành tựu đáng kể về giá trị và thị phần xuất khẩu.
Nhất là sau khi VN và EU kí Hiệp định về các sản phẩm dệt may ngày
15/2/2003 và một sự kiện trọng đại khác là ngày 1/5/2004, EU đã kết nạp thêm
10 thành viên mới nâng tổng số thành viên trong EU lên 25 nước. Theo ước tính
của Bộ thương mại, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc VN sang thị trường EU
có thể đạt gần 1 tỷ EURO trong năm 2004. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội đang mở
ra cho các doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng hoạt động kinh doanh ở thị trường
EU thì hàng may mặc VN đang gặp khá nhiều khó khăn trong cạnh tranh. Khó
khăn lớn nhất là từ ngày 1/1/2005 khi hạn ngạch dệt may được xoá bỏ giữa các
nước thành viên của WTO thì hàng may mặc xuất khẩu của hàng dệt may VN
phải cạnh tranh gay gắt hơn. Cũng từ ngày đó sẽ có khoảng 165 mã hàng dệt
may các loại được xuất khẩu tự do vào thị trường EU mà không gặp phải một
trở ngại nào. Các quốc gia sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc vào
thị trường EU với những lợi thế riêng của mình. Trung Quốc là một đối thủ
23
mạnh nhất trong xuất khẩu hàng may mặc của VN tại thị trường EU, sau đó là
ấn Độ và một số nước khác ở Châu Á. VN là trong những nước xuất khẩu hàng
dệt may lớn trên thế giới. Tuy nhiên khi hội nhập hoàn toàn vào một thị trường
dệt may phi hạn ngạch, doanh nghiệp VN sẽ gặp nhiều bất lợi. Một trong những
bất lợi lớn nhất là doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên phụ liệu
nhập khẩu, tới trên 70%. Vấn đề lao động - một lợi thế chúng ta "tự hào" lâu nay
cũng sẽ mất đi cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật và chi phí nhân công sẽ tăng lên
do nhu cầu đào tạo tay nghề cao.
• Về phía doanh nghiệp bất lợi lớn nhất là VN chưa phải là thành viên
của WTO nên chắc chắn vẫn bị áp dụng hạn ngạch. Chính phủ đang nỗ lực đàm
phán với EU để dỡ bỏ hạn ngạch cho hàng dệt may VN dù VN chưa vào WTO.
Nếu đàm phán thành công hàng dệt may VN sẽ có lợi thế rất lớn ở Châu Âu. VN
đã đàm phán xong với EU về việc gia nhập WTO và hiện đang đàm phán với
Mỹ. Đây là hai đối tác quan trọng nhất. VN đang nỗ lực để gia nhập WTO vào
năm 2005.