Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Chơng I
Cơ sở lý luận về công nợ- quản lý công nợ trong các
doanh nghiệp thơng mại
I. Cơ sở hình thành và nội dung công nợ:
1.1. Cơ sở hình thành:
Chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, sự phát
triển của các thành phần kinh tế cùng với cơ chế tự chủ tài chính đã thực sự
tạo môi trờng cạnh tranh cho tất cả các doanh nghiệp, chính sách phân phối
hợp lý, linh hoạt đã làm biến đổi các vấn đề về lơng, thu nhập và dự trữ vốn
trong mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức kinh tế, xã hội.
Không còn đợc bao cấp về tài chính, mỗi chủ thể của nền kinh tế phải
tự tìm kiếm nguồn vốn. Không có bất kỳ một doanh nghiệp nào kinh doanh
bằng toàn bộ vốn tự có bởi vì trong kinh doanh cần một lợng vốn rất lớn để
mua, thuê cửa hàng, nhà xởng, máy móc, trang bị, mua hàng hoá, nguyên vật
liệu, trả công ngời lao động Và rất nhiều các khoản chi phí khác nữa. Vốn tự
có thờng không đủ để trang trải.
Mặt khác, đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ của các đơn vị sản xuất kinh
doanh đợc vận động liên tục qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất và lu
thông hàng hoá. Do đó nếu nh mua bán không khớp nhau về không gian, thời
gian và số lợng sẽ nảy sinh nhu cầu vốn tạm thời cần đợc bổ sung ngay để tiến
hành sản xuất kinh doanh liên tục.
Trong xã hội, xét tại một thời điểm bất kỳ nào đó luôn xảy ra hiện tợng
có những ngời có vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, có đơn vị lại thiếu vốn do đó
họ có thể cho vay hoặc đi vay để bổ sung vốn thiếu hụt trong kinh doanh. Vốn
vay chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn vốn kinh doanh. Khi đi vay vốn,
doanh nghiệp phải đảm bảo vốn vay đợc hoàn trả đầy đủ đúng kỳ hạn cả gốc
và lãi theo cam kết do vậy vốn vay là một trong những nguồn chính hình
thành nên công nợ phải trả của doanh nghiêp. Nguồn vốn vay là nguồn vốn
mà các doanh nghiệp thờng khai thác, huy động khi thiếu vốn cho sản xuất,
kinh doanh. Các doanh nghiệp có thể vay vốn từ các ngân hàng, tổ chức tín
Công nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các
đơn vị và các cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải
thu hồi.
- Các đơn vị ở đây có thể là các doanhnghiệp khách hàng, mà trong quá
trình mua hàng của doanh nghiệp đã nợ tiền của doanh nghiệp; Doanh nghiệp
bán hàng cho doanh nghiệp: là các doanh nghiệp đã nhận tiền mua hàng ứng
trớc cho doanh nghiệp; các tổ chức tài chính: trong quá trình hoạt động kinh
doanh trên thơng trờng việc các tổ chức tài chính có thể huy động vốn của
doanh nghiệp nếu nh doanh nghiệp có vốn nhàn rỗi hoặc chi phí cơ hội giữa
việc kinh doanh và việc cho các tổ chức tài chính vay thì tỷ suất lợi nhuận cho
các tổ chức tài chính vay là cao hơn
b. Nội dung công nợ phải thu:
Các khoản công nợ phải thu của doanh nghiệp bao gồm:
3
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Các khoản phải thu từ khách hàng
ứng trớc cho ngời bán
Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
Các khoản phải thu nội bộ
Các khoản tạm ứng cho công nhân viên
Các khoản thế chấp, ký cợc, ký quỹ
Phải thu khác
Nội dung cụ thể của các khoản phải thu nh sau:
Các khoản phải thu từ khách hàng: là những khoản cần phải thu do
doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, thành phẩm hoặc cung cấp lao vụ, dịch vụ
cho khách hàng.
Để có thể thắng lợi trong cạnh tranh, giành đợc nhiều thị phần trên thị
trờng, doanh nghiệp phải áp dụng hình thức bán chịu( tín dụng thơng mại) để
tăng tốc độ tiêu thụ hàng hoá, tăng khả năng chu chuyển vốn và rút ngắn chu
kỳ kinh doanh. Khả năng tài chính của khách hàng mua chịu ảnh hởng rất lớn
Các khoản thế chấp, ký cợc, ký quỹ: Trong kinh doanh sự tin tởng
lẫn nhau giữa các bên có quan hệ hợp đồng kinh tế rất quan trọng. Mức độ tín
nhiệm cao hay thấp sẽ quyết định các hình thức ràng buộc khác nhau phát
sinh trong quá trình vay mợn, ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Thế chấp: Là việc con nợ dùng tài sản của mình nh: vàng, đá quý, tín
phiếu, trái phiếu, ô tô hoặc giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản giao cho
ngời cho vay cầm giữ trong thời gian vay vốn.
Ký cợc: Doanh nghiệp dùng tiền vào việc đặt cợc thuê mợn tài sản theo
yêu cầu của bên cho thuê nhằm mục đích ràng buộc và nâng cao trách nhiệm
của doanh nghiệp trong việc quản ly, sử dụng tốt tài sản đi thuê và hoàn trả
đúng hạn.
Ký quỹ: Là số tiền hoặc tài sản gửi trớc để làm tin trong các quan hệ
mua bán, nhận làm đại lý bán hàng hoặc tham gia đấu thầu nhằm đảm bảo
sự tin cậy giữa đôi bên và ràng buộc trách nhiệm của các bên có liên quan
trong việc thực hiện hợp đồng đã ký.
Các khoản phải thu khác: Bao gồm:
Giá trị tài sản thiếu cha rõ nguyên nhân chờ xử lý.
Các khoản phải thu về bồi thờng vật chất.
Các khoản vay mợn tài sản, tiền bạc có tính tạm thời.
Các khoản phải thu về cho thuê TSCĐ, lãi đầu t tài chính.
Các khoản phải thu khác: phí, lệ phí, nộp phạt bồi thờng.
1.2.2. Công nợ phải trả:
a. Khái niệm:
5
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Công nợ phải trả là một bộ phận tài sản thuộc nguồn vốn của doanh
nghiệp đợc tài trợ từ các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế khác mà doanh
nghiệp có trách nhiệm phải hoàn trả.
b. Nội dung công nợ phải trả:
Các khoản tiền vay.
XDCB, đầu t tài chính dài hạn vào thị trờng chứng khoán
Các khoản vay dài hạn thờng đợc thanh toán bằng các khoản nợ dài hạn
mới phát sinh hay bằng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Do hoạt động vay dài hạn của các doanh nghiệp bao hàm nhiều rủi ro
hơn hoạt động vay ngắn hạn nên lãi suất của hoạt động vay dài hạn thờng cao
hơn hoạt động cho vay ngắn hạn.
Phải trả ngời bán: Là toàn bộ giá trị hàng hoá, nguyên vật liệu, lao
vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp mua chịu, đã nhận hàng nhng cha thanh toán
tiền.
Đây cũng chính là chính sách u đãi trong việc thanh toán tiền hàng của
các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp. Do doanh nghiệp bán chịu
hàng hoá nên hình thành nên các khoản phải thu. Bên cạnh đó doanh nghiệp
cũng mua chịu hàng hoá của các doanh nghiệp bán hàng cho doanh nghiệp
hình thành nên các khoản nợ phải trả. Trong nền kinh tế thị trờng đây là một
xu thế tất yếu không thể tránh khỏi.
Ngời mua ứng trớc : Doanh nghiệp nhận tiền của khách hàng nhng
cha giao hàng
Phải trả công nhân viên : Là các khoản tiền doanh nghiệp phải trả
cho công nhân viên nh tiền lơng, tiền công, tiền thởng, các khoản bảo hiểm xã
hội và các khoản thu nhập khác của ngời lao động.
Các khoản phải nộp ngân sách nhà nớc:
Thuế GTGT: Là loại thuế gián thu tính trên phần giá trị tăng thêm của
hàng hóa,dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lu thông đến tiêu dùng.
Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu đánh vào một số hàng
hoá dịch vụ nhất định thuộc một trong hai nhóm sau:
Những hàng hoá-dịch vụ Nhà Nớc không khuyến khích sản xuất, nhập
khẩu, tiêu dùng.
Những hàng hoá dịch vụ mà chỉ có những ngời có thu nhập cao mới có
thể sử dụng.
Thuế xuất khẩu, nhập khẩu: Là loại thuế gián thu đánh vào giá trị của
Theo cách này thì công nợ của doanh nghiệp sẽ bao gồm nợ ngắn hạn
và nợ dài hạn, các khoản phải thu hồi đợc ngay trong chu kỳ kinh doanh và
các khoản phải thu thu hồi đợc sau một chu kỳ kinh doanh. Khi phân loại nh
thế này thì các nhà quản trị tài chính sẽ có biện pháp để thu hồi và trả nợ công
nợ ngắn hạn đồng thời có những biện pháp để thu hồi các khoản công nợ dài
hạn và có kế hoạch tìm các nguồn để trả nợ dài hạn. Và từ các khoản nợ dài
hạn doanh nghiệp sẽ xem xét đợc khả năng thu hồi đợc của các khoản nợ này
để có biện pháp thu hồi tuỳ thuộc vào từng đối tợng nợ có thể là mềm mỏng
8
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
hoặc cứng rắn, nhằm tránh rủi ro, trong trờng hợp cần thiết thì doanh nghiệp
sẽ lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi.
Thứ hai là theo khả năng thu hồi công nợ:
Theo cách phân loại này thì kế toán công nợ sẽ biết đợc các khoản nợ
nào sắp đến hạn thanh toán để có những biện pháp chủ động nhằm thu đợc nợ
đúng thời hạn nh gọi điện nhắc nhở trớc cho khách hàng hoặc nếu khách hàng
mua chịu tiếp mà cha thanh toán nợ thì yêu cầu doanh nghiệp phải trả hết nợ
thì mới đợc mua chịu Đặc biệt doanh nghiệp biết khoản nợ nào khó đòi để
doanh nghiệp có biện pháp ứng phó thu hồi phù hợp, tìm hiểu lý do để doanh
nghiệp triệt để hạn chế từ đó quản lý tốt hơn các khoản nợ khó đòi nhằm giảm
thiểu rủi ro.
Thứ ba là theo đối tợng nợ hay là theo khách nợ :
Phân loại các khoản phải thu theo khách nợ nên đợc làm ở các doanh
nghiệp vì khi đó doanh nghiệp sẽ biết rõ đợc tình hình kinh doanh của khách
nợ, xem xét các khoản nợ mà khách nợ nợ nhiều hay ít đồng thời phân tích đ-
ợc vị thế tín dụng của khách hàng giúp doanh nghiệp khi áp dụng chính sách
bán chịu ít gặp phải rủi ro trong thanh toán. Biết rõ khách hàng của mình là ai
thì doanh nghiệp sẽ không bị mất vốn và có biện pháp đế thu hồi công nợ,
không biết thì doanh nghiệp sẽ bị mất vốn.
Ngoài ra tuỳ thuộc vào từng loại hình kinh doanh thì doanh nghiệp nên
có các nghiệp kinh tế phát sinh, khối lợng hàng hóa đợc trao đổi mua bán thì ở
đó đều có thể phát sinh công nợ. Do vậy phạm vi của công nợ rất lớn nó hiện
hữu trong toàn bộ nền kinh tế. Đôi khi chính công nợ- hay chính sách mua
bán chịu lại kích thích hàng hoá lu thông và duy trì đợc hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, các tổ chức, các cá nhân. Hiện
nay với xu thế hội nhập quốc tế, chính sách buôn bán giữa các quốc gia thông
thoáng hơn, vì vậy công nợ phát sinh không chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia mà đã vợt ra ngoài phạm vi quốc gia. Chính vì vậy các doanh nghiệp cần
chú ý để có thể thu hồi đợc tất cả các khoản công nợ phát sinh của doanh
nghiệp, đảm bảo các khoản thu đợc thu hồi đầy đủ, đúng thời gian, hạn chế
thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải khi giao dịch mua bán. Để làm đợc điều
này thì các nhà quản trị tài chính phải đợc trau dồi những kiến thức nhất định
về công nợ, về thơng mại quốc tế. Đối với các khoản phải trả doanh nghiệp
cũng cần phải chú ý là thanh toán đúng thời hạn, tránh để nợ tồn đọng, dây da
kéo dài ảnh hởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thơng trờng.
- Quy mô : Trong quan hệ giao dịch mua bán hiện nay hình thức thanh
toán trả chậm chiếm tới 80% trong các giao dịch. Giá trị của từng hoá đơn bán
chịu hay của từng tín dụng thơng mại thể hiện lợng tiền hay tài sản mà các
đơn vị đối tác nợ doanh nghiệp. Quy mô của công nợ phát sinh lớn hay nhỏ
tuỳ thuộc vào tính chất của hàng hoá trên thị trờng. Quy mô của công nợ nói
lên số lợng tiền nợ nhiều hay ít. Trên diện rộng, đối với từng chủ nợ, khách nợ
thì quy mô của công nợ đợc thể hiện là tổng tài sản mà doanh nghiệp nợ các
đối tác và các đối tác và các đơn vị kinh tế khác nợ doanh nghiệp. Bên cạnh đó
thì tiềm lực tài chính cũng quyết định quy mô công nợ và chính sách tín dụng
mà doanh nghiệp áp dụng. Nếu doanh nghiệp cho phép các hoá đơn thanh
toán đợc thanh toán chậm trả nhiều thì quy mô công nợ sẽ lớn và ngợc lại.
10
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mạnh, doanh nghiệp muốn tăng doanh số
bán ra và các hoá đơn đợc thanh toán chậm trả thì quy mô công nợ sẽ ngày
Thời hạn trả nợ: là lúc mà các khoản nợ đến hạn thanh toán. Thông th-
ờng các doanh nghiệp thờng để cho thời hạn trả nợ đợc dao động trong một
khoảng thời gian ngắn nhất định. Trong khoảng thời gian đó thì các khoản nợ
sẽ đợc thanh toán.
11
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
2.1.3. Lãi suất của công nợ:
Lãi suất là một trong những biến số đợc theo dõi chặt chẽ nhất trong
nền kinh tế. Nó không những ảnh hởng trực tiếp tới quyết định của các nhà
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hởng đến các tổ
chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hởng đến biến động của nền kinh tế. Để
hiểu thực chất về lãi suất, ta cần hiểu kỳ hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ,
lãi suất quá hạn, khái niệm về lãi suất hoàn vốn là một khái niệm quan trọng
để xem xét mức lãi suất nào là mức lãi suất có thể chấp nhận đợc, do dó sự
khác nhau giữa một đồng nhận đợc hôm nay và một đồng nhận đợc trong tơng
lai.
Lãi suất của công nợ không tính riêng và trả riêng nh lãi suất của ngân
hàng mà đợc tính vào giá bán của sản phẩm hàng hoá và đợc thanh toán cùng
khi thanh toán hết thời hạn tín dụng.
- Gia hạn nợ : đợc áp dụng trong trờng hợp đến thời hạn thanh toán nh-
ng doanh nghiệp trả nợ không có khả năng trả nợ thì phải xin gia hạn nợ trong
một thời gian nhất định và đợc sự đồng ý của chủ nợ với chủ nợ mà không
phải chịu sự ràng buộc gì.
- Lãi suất hoàn vốn: là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền
thanh toán nhận đợc theo một công nợ với giá trị hôm nay của công nợ đó.
Khi doanh nghiệp bán hàng theo chính sách cấp tín dụng thơng mại cho
khách hàng thì giá bán hàng thanh toán trả chậm sẽ bằng giá bán hàng thanh
toán ngay cộng thêm phần lãi suất. Phần lãi suất này sẽ đợc tính trên phần giá
trị của lô hàng bán với thời hạn thanh toán chậm trả. Nếu khách hàng thanh
toán tiền lô hàng trong thời hạn tín dụng thì khách hàng sẽ đợc hởng chiết
của các doanh nghiệp, thể hiện chủ trơng, đờng lối về kinh tế của quốc gia
trong từng thời kỳ nhất định. Môi trờng pháp lý bình đẳng, thông thoáng, rõ
ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi và đòi hỏi doanh nghiệp phát triển, ngợc lại gây
khó khăn thậm chí kìm hãm. Khi đó thì các khoản phải thu và phải trả của
doanh nghiệp cũng sẽ rơi vào hoàn cảnh nh trên đó là một là doanh nghiệp sẽ
thu đợc đầy đủ các khoản nợ và thanh toán đầy đủ các khoản nợ của mình khi
đó doanh nghiệp sẽ làm ăn phát đạt, uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng
ngày càng đợc củng cố. Ngợc lại khi có sự biến động của nền kinh tế thì tất cả
các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, cá nhân đều bị ảnh hởng với các mức
độ khác nhau tuỳ thuộc vào mối liên hệ với môi trờng bên ngoài.Thực tế cho
thấy khi nền kinh tế đang trong tình trạng khủng hoảng có nhiều biến động về
tình hình tài chính thì khả năng thanh toán giảm. Do đó các giao dịch buôn
bán thờng đợc diễn ra dới hình thức trả chậm, công nợ phát sinh nhiều và có
thể tạo nên dây truyền nợ giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá
nhân.
Hệ thống luật pháp về kinh tế nói chung và hệ thống luật pháp về ngân
hàng nói riêng nếu chặt chẽ sẽ giúp doanh nghiệp ký kết đợc các hợp đồng
kinh tế an toàn các khoản nợ sẽ thu hồi đợc đầy đủ và nhanh chóng, các khoản
13
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
huy động từ ngân hàng với mức lãi suất thấp và ổn định sẽ giúp doanh nghiệp
tăng vốn để có thể mở rộng đợc quy mô kinh doanh. Bên cạnh đó nếu doanh
nghiệp có điều kiện tài chính doanh nghiệp có thể đầu t chứng khoán một cách
dễ dàng.
Các hợp đồng kinh tế khi ký kết đặc biệt là các hợp đồng kinh tế với n-
ớc ngoài mà trớc khi ký kết đợc xem xét kỹ lỡng thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro
cho doanh nghiệp. Vì vậy khi ký kết hợp đồng kinh tế các doanh nghiệp phải
hết sức cẩn thận nếu không sẽ không thu đợc tiền hoặc nhiều khi để hớ hênh
sẽ phải mất thêm tiền đối với các khoản phải trả.
+ ảnh hởng của các nhân tố giá cả, lãi suất, thuế đến hoạt động kinh
thích nghi cao mới vợt qua đợc giai đoạn này. Trên phạm vi rộng thì sự biến
động của nền kinh tế thế giới hay nền kinh tế khu vực cũng sẽ ảnh hởng trực
tiếp hay gián tiếp đến nền kinh tế trong nớc từ đó ảnh hởng đến khả năng
thanh toán của doanh nghiệp.
2.2.2. ảnh hởng của các nhân tố chủ quan:
Các khoản phải thu và phải trả tồn tại một cách tất yếu trong quá trình
kinh doanh và quá trình thanh toán của doanh nghiệp, khó có thể có số d các
khoản phải thu và phải trả ở mọi thời điểm bằng 0 bởi mua chịu và bán chịu là
việc thờng xuyên xảy ra trong kinh doanh, và nó sẽ ảnh hởng đến chính sách
bán hàng và chính sách thanh toán của doanh nghiệp. Vì vậy kiểm soát các
khoản phải thu, phải trả hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính của doanh
nghiệp là vấn đề đặt ra trong quản trị tài chính của doanh nghiệp. Chính vì
điều đó mà chúng ta nên xem xét các nhân tố chủ quan ảnh hởng đến tình
hình thanh toán của doanh nghiệp để hạn chế thất thoát và có biện pháp để
nâng cao khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Số lợng các khoản phải thu và độ lớn của nó thay đổi theo thời gian,
phụ thuộc vào tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ mới, nói cách khác nó phụ
thuộc vào loại hình doanh nghiệp và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp.
Các yếu tố đó bao gồm:
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định, nếu trình độ quản lý của các
nhà quản trị tài chính tốt biết tổ chức các nhân viên kinh doanh hợp lý, đề ra
chính sách bán chịu phù hợp, các tiêu chuẩn tín dụng đa ra có thể thu hút đợc
khách hàng đồng thời có những biện pháp để thẩm định khách hàng trớc khi
áp dụng chính sách bán chịu thì sẽ giảm thiểu đợc rủi ro trong thanh toán. Bên
cạnh đó biết sử dụng việc phát hành trái phiếu để tăng nguồn vốn kinh doanh
của doanh nghiệp vừa an toàn mà lại ổn định, doanh nghiệp có nguồn vốn bổ
sung để phát triển và trang trải các khoản nợ. Trình độ quản lý còn thể hiện ở
việc biết tổ chức hợp lý công nợ, phân chia công nợ hợp lý từ đó sẽ có biện
pháp để thu hồi công nợ, hạn chế đợc rủi ro nh phân công nợ theo tuổi thọ,
Trong thơng trờng làm ăn buôn bán với nhau cần sòng phẳng, có đi có
lại. Cho nên để tạo đợc uy tín và vị thế của mình trên thị trờng thì doanh
nghiệp cần xây dựng cho mình một hình ảnh tốt, để làm đợc điều này thì
doanh nghiệp cần phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ đầy đủ đúng thời hạn,
có nh vậy thì các khoản phải thu của doanh nghiệp cũng sẽ đợc thu hồi đầy đủ
và đúng hạn, rủi ro trong thanh toán thấp. Bên cạnh đó hệ thống thông tin bây
giờ rất phát triển các thông tin của doanh nghiệp sẽ đợc các đối tác lắm rất rõ
vì vậy khi kinh doanh trên thơng trờng doanh nghiệp phải chú ý tới mối quan
hệ qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, doanh nghiệp không nên đi chiếm
dụng vốn quá nhiều và cũng không để các doanh nghiệp khác chiếm dụng vốn
của mình quá nhiều, có nh vậy thì làm ăn mới tốt.
16
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
III. Các giải pháp nhằm tăng hiệu quả công tác quản lý
thanh toán công nợ:
3.1. Các mục tiêu quản lý công nợ:
Công nợ phát sinh và tồn tại ở bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào, nó là
một bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Nó
đóng vai trò quan trọng trong việc phản ánh tình trạng tài chính của doanh
nghiệp. Do đó các doanh nghiệp rất chú trọng đến công tác quản lý công nợ.
Đối với quản lý công nợ phải thu, doanh nghiệp theo dõi sự hình thành
và biến động tăng giảm các khoản phải thu. Từ những con số phát sinh cụ thể,
kế toán phân tích tình hình thu hồi để thấy mức độ bị chiếm dụng vốn, phân
tích khả năng thu hồi công nợ, hiệu quả công tác thu hồi công nợ Từ đó,
doanh nghiệp đa ra các biện pháp thu hồi công nợ phù hợp, hạn chế và xử lý
các khách hàng cố tình để dây da nợ đọng, chủ động lập dự phòng phải thu
khó đòi để tránh những biến động tài chính lớn khi không thu đợc nợ, làm ảnh
hởng đến hoạt động kinh doanh.
Mặt khác, công nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bị
chiếm dụng. Quản lý công nợ phải thu nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản
- Có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng mua bán hàng hoá, nếu quá
thời hạn thanh toán theo hợp đồng thì doanh nghiệp có quyền thu tiền phạt
theo mức lãi suất tơng ứng nh lãi suất ngân hàng.
- Phân loại các khoản nợ quá hạn tìm nguyên nhân để có cách sử lý phù
hợp nh: thơng lợng để gia hạn nợ, giảm một phần nợ cho khách hàng, có biện
pháp mạnh nh yêu cầu toà án kinh tế giải quyết khi thấy cần thiết.
Đối với công nợ phải trả:
- Thờng xuyên kiểm tra, đối chiếu các khoản phải thanh toán để chủ
động đáp ứng các yêu cầu thanh toán khi đến hạn.
- Lựa chọn các hình thức thanh toán thích hợp, an toàn và có hiệu quả
nhất đối với doanh nghiệp.
- Xác định và duy trì một số lợng tiền tệ cần thiết để giúp doanh nghiệp
có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả.
3.2.2. Phân tích tình hình công nợ:
Phân tích tình hình công nợ phải thu, phải trả là quá trình xem xét, kiểm
tra, đối chiếu và so sánh số liệu các khoản phải thu, phải trả hiện hành với quá
khứ.Thông qua việc phân tích này, những ngời ra quyết định có thể đánh giá
chính xác thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp từ đó lựa chọn các phơng
án kinh doanh tối u. Do đó việc phân tích này có ý nghĩa quan trọng trong
hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng.
Nội dung phân tích tình hình thanh toán công nợ bao gồm:
a. Phân tích tình hình thanh toán công nợ:
Tình hình thanh toán công nợ các khoản phải thu, phải trả là một trong
những chỉ tiêu phản ánh thực chất hoạt động tài chính. Nếu hoạt động tài
chính tốt, lành mạnh, doanh nghiệp sẽ thanh toán kịp thời các khoản nợ phải
trả cũng nh kịp thời các khoản nợ phải thu, tránh tình trạng tranh chấp, mất
khả năng thanh toán.
18
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
- Phân tích tình hình nợ phải thu
Các biện pháp mà đơn vị áp dụng để thu hồi nợ hoặc thanh toán nợ.
Các nguyên nhân dẫn đến các khoản tranh chấp nợ phải thu, phải trả.
b. Phân tích khả năng thanh toán nợ:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp thể hiện rõ nét qua khả năng
thanh toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao thì tình hình tài
19
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
chính sẽ khả quan và ngợc lại. Do vậy khi đánh giá khái quát tình hình tài
chính doanh nghiệp không thể xem xét khả năng thanh toán, đặc biệt khả
năng thanh toán nợ ngắn hạn. Các hệ số về khả năng thanh toán dùng để phân
tích tình hình tài chính đợc rất nhiều đối tợng quan tâm nh các nhà đầu t, ngời
cho vay vốn, Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp có khả năng trả các
món nợ tới hạn?
- Phân tích khả năng thanh toán nợ phải trả:
Khả năng thanh toán chung =
Hệ số khả năng thanh toán chung là mối quan hệ giữa tổng số tài sản
mà hiện nay doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả.
Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng thanh toán tổng quát của
doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (khả năng hoàn trả tất cả các khoản nợ). Chỉ
tiêu này có vai trò rất quan trọng trong việc xem xét tình hình tài chính của
doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có chỉ số này luôn lớn hơn hoặc 1 thì doanh
nghiệp đảm bảo đợc khả năng thanh toán và ngợc lại. Nếu hệ số này dần tới 0
là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, tổng số tài sản hiện có (TSCĐ và
TSLĐ) không đủ trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
+ Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là mối quan hệ giữa tài sản
ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này giả thiết : Nếu toàn bộ nợ của doanh nghiệp đồng thời cùng
đến hạn thanh toán trong một thời gian ngắn thì khả năng thanh toán các
sử dụng vốn. Tuy nhiên độ lớn của hệ số thờng phụ thuộc vào ngành nghề
kinh doanh và kỳ hạn thanh toán của các món nợ phải thu, phải trả trong kỳ.
- Phân tích khả năng thanh toán nợ phải thu:
Sử dụng các chỉ tiêu sau:
Vòng quay các khoản phải thu =
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản
phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp.
Nếu số vòng quay khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì ảnh hởng đến
khối lợng hàng tiêu thụ do phơng thức thanh toán chặt chẽ ( chủ yếu là thanh
toán ngay và thời gian ngắn) làm giảm doanh thu, giảm lợi nhuận, giảm khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền bình quân
(tính theo số ngày)
=
Số d bình quân các khoản phải thu
Doanh số bán chịu bình quân 1 ngày
Đây là chỉ tiêu phản ánh để thu đợc một khoản phải thu thì cần số ngày
trung bình là bao nhiêu (các khoản phải thu quay một vòng mất mấy ngày).
Vòng quay càng lớn thì kỳ thu tiền bình quân càng nhỏ và ngợc lại.
Thời gian này càng ngắn chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ càng nhanh, doanh
nghiệp ít bị chiếm dụng vốn. Ngợc lại, nếu thời gian dài chứng tỏ tốc độ thu
hồi nợ càng chậm, doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn nhiều.
21
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Khi phân tích cần tính ra và so sánh với thời gian bán chịu quy định cho
khách hàng. Nếu thời gian quay vòng các khoản phải thu lớn hơn thời gian
bán chịu quy định cho khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu là chậm
và ngợc lại, các khoản phải thu nhỏ hơn thời gian bán chịu quy định cho
khách hàng thì việc thu hồi các khoản phải thu đạt đợc kế hoạch về thời gian.
3.3. Lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi:
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
+ Tính trực tiếp: số dự phòng đợc tính theo tỷ lệ % trên số công nợ phải
thu, theo công thức
Số dự phòng phải lập = Số công nợ phải thu * Tỷ lệ ớc tính
- Tính tuổi của các khoản phải thu: căn cứ vào sổ chi tiết theo dõi công
nợ để xác định thời gian các khoản nợ, lập dự phòng theo số % khó thu.
Số dự phòng phải lập = % mất nợ có thể * Nợ phải thu khách hàng nghi ngờ.
Dự phòng phải thu khó đòi đợc hạch toán vào chi phí sản xuất kinh
doanh khi lập và vào thu nhập khác khi hoàn nhập dự phòng.
3.4. ý nghĩa của công tác quản lý công nợ:
Nh chúng ta đã biết công nợ trong doanh nghiệp luôn là một bài toán
phức tạp, hóc búa đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp thích hợp thì
mới có thể tồn tại và phát triển đợc trong cơ chế cạnh tranh của nền kinh tế thị
trờng. Cũng có thể khẳng định một điều rằng công nợ là con dao hai lỡi nếu
không dung hoà đợc hai mặt nội dung phải thu và phải trả của công nợ thì
doanh nghiệp rất dễ dẫn tới khả năng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và
tồi tệ hơn nữa là dẫn tới sự phá sản của doanh nghiệp. Do đó, đặt ra cho mỗi
doanh nghiệp một câu hỏi là làm thế nào để quản lý công nợ tốt nhất mà vẫn
duy trì đợc mức tăng trởng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Không phải lúc nào nhắc đến công nợ là cũng nhắc đến các khoản
doanh nghiệp phải thu từ các con nợ và ngợc lại trong nhiều trờng hợp công
nợ phải trả lại tạo cho doanh nghiệp một khoản vốn chiếm dụng hợp pháp
trong một khoảng thời gian nhất định. Đối với một số doanh nghiệp, ngời ta
đề cao khoản vốn tín dụng này và lấy đó làm giải pháp tài chính tạm thời:
chiếm dụng càng nhiều vốn càng tốt trong lúc doanh nghiệp thiếu vốn, nếu
doanh nghiệp quá lạm dụng giải pháp chiếm dụng vốn bất hợp lý này thì tình
hình tài chính không những không có tiến bộ mà sẽ ngày càng rơi vào ngõ cụt.
Vậy làm thế nào để hợp lý hóa tất cả các khoản nợ phải thu, phải trả? Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách quản lý công nợ hợp lý. Từ
chỗ tổ chức theo dõi chi tiết công nợ phải thu, phải trả đến việc phân tích tình
doanh nghiệp khác : đây là nguồn thông tin rất khó khai thác,doanh nghiệp
cần phải tìm kiếm từ các tổ chức chuyên cung cấp thông tin. Dựa vào đó
doanh nghiệp có thể biết đợc tình trạng kinh tế của khách hàng làm cơ sở cho
việc quyết định có bán chịu cho khách hàng hay không ?.
- Các ngân hàng: Do ngân hàng có nhiều mối quan hệ tín dụng với các
doanh nghiệp khác nhau nên bản thân ngân hàng cũng nhận đợc những thông
tin về tình trạng tín dụng của các doanh nghiệp. Dựa vào thông tin của ngân
hàng cung cấp doanh nghiệp có thể phần nào biết đợc tình trạng kinh tế của
khách hàng, của nhà cung ứng.
Ngoài các thông tin trên doanh nghiệp cũng cần phải xem xét lịch sử
thanh toán của khách hàng đối với doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp cũng
phải biết đợc rằng trong quá khứ khách hàng có trả tiền đúng hạn hay không?
Bao nhiêu lần khách hàng gây rắc rối trong việc trả tiền.
24
Luận văn tốt nghiệp Chu Thị Hợp - K36D2
Sau khi tập hợp đợc các thông tin, doanh nghiệp sẽ phân tích và đa ra
kết luận có nên ứng trớc tiền hàng cho nhà cung ứng hay chấp nhận bán chịu
cho khách hàng.
Hai là: Xây dựng chính sách tín dụng thơng mại đúng đắn
Trên thực tế, doanh nghiệp bán sản phẩm cho các doanh nghiệp khác
hoặc cho các cơ quan nhà nớc nhng không thu đợc tiền ngay. Các hoá đơn cha
trả tiền gọi là tín dụng thơng mại, các khoản tín dụng thơng mại này tạo thành
các khoản phải thu của doanh nghiệp. Do vậy việc xây dựng một chính sách
tín dụng thơng mại đúng đắn sẽ giúp cho việc quản lý công tác thanh toán
công nợ thuận tiện hơn. Một chính sách tín dụng thơng mại đúng đắn là một
chính sách phải phù hợp với từng khách hàng cũng nh với tình hình tài chính
của doanh nghiệp.
Chính sách tín dụng thơng mại đợc xây dựng dựa trên sự hợp thành của
các bộ phận sau:
- Tiêu chuẩn tín dụng: Là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính
xuất kinh doanh với nhiều lĩnh vực khác nhau do đó phơng thức quản lý công
nợ cũng khác nhau. Nhng cũng có thể phân theo phơng thức quản lý theo thời
gian và theo từng khách nợ, chủ nợ.
- Quản lý công nợ theo thời gian:
Phơng thức quản lý này dựa trên thời gian về tuổi của các khoản phải
thu, phải trả. Nhà quản trị theo dõi các khoản phải thu, phải trả để xác định
đúng thực trạng của doanh nghiệp và đánh giá tính hiện hữu của chính sách
thu tiền của doanh nghiệp. Qua đó thấy đợc những khoản tín dụng có vấn đề
để đa ra đợc phơng hớng quản lý và biện pháp khắc phục.
Theo phơng pháp quản lý công nợ theo thời gian thì công nợ chia làm
hai loại: công nợ trong thời hạn tín dụng và công nợ quá hạn.
+ Phơng thức quản lý công nợ trong thời hạn tín dụng:
Đối với các khoản phải thu: cácdoanh nghiệp sẽ khuyến khích khách
hàng thanh toán bằng chính sách chiết khấu thích hợp. Khách hàng thanh toán
nhanh sẽ đợc hởng chiết khấu, còn doanh nghiệp sẽ có vốn quay vòng kinh
doanh tiếp theo.
Đối với các khoản phải trả: Đây là nguồn vốn kinh doanh đợc tài trợ
hợp pháp từ bên ngoài mà doanh nghiệp có đợc. Do đó cần tận dụng triệt để
nguồn tài trợ này, sử dụng hợp lý có hiệu quả nhằm mang lại lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
- Phơngthức quản lý công nợ đã quá hạn:
+Đối với các khoản phải thu:Doanh nghiệp phải có những chính sách
thu tiền khác nhau đối với từng khoản nợ, tìm nguyên nhân của từng khoản nợ
(nguyên nhân khách quan hay chu quan) để có những biện pháp xử lý thích
hợp. Giao trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ công nhân viên đôn đốc thu hồi
công nợ với thái độ mềm mỏng hay cứng rắn tuỳ thuộc vào từng đối tợng nợ.
Đầu tiên hai bên có thể gặp nhau để thơng lợng, nếu xét thấy khách hàng của
mình có khả năng trả nợ đợc thì doanh nghiệp có thể gia hạn nợ cho khách
hàng. Nếu không doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp mạnh nh phong
26