hoàn thiện và nâng cao chất lượng bán hàng cá nhân tại công ty cổ phần thông tin á châu - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trước đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI, nước ta là một nước nông nghiệp,
nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn. Kể từ đại hội
đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc.
Sau 20 năm đổi mới, đến nay chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể.
đời sống của người dân đã được nâng lên rõ rệt, kinh tế ngày càng phát triển,
công nghiệp, dịch vụ phát triển và ngày càng giữ vai trò quan trọng, nhưng nông
nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo ở nước ta. Đầu tư nước ngoài vào nước ta ngày
càng nhiều tạo điều kiện cho nước ta có nhiều cơ hội phát triển kinh tế, giao lưu
học hỏi nước bạn, vốn đầu tư ngày càng nhiều. Kinh tế phát triển tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội để kinh doanh. Song bên cạnh đó cũng
phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đặt ra cho nền kinh tế nói chung và cho các
ngành, các cấp những yêu cầu và thách thức mới.
Nền kinh tế thị trường mở ra, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đời sống của
người dân được nâng cao, nhu cầu mua sắm cũng khác. Người tiêu dùng bây giờ
rất khó tính trong việc lựa chọn mua sắp hàng hoá. Điều này có nhiều nguyên
nhân. Thứ nhất là có nhiều nhà cung cấp, hàng hoá nhiều, họ có nhiều cơ hội lựa
chọn mua sắm. Thứ hai hiện nay hàng giả hàng nhái nhiều, người tiêu dùng phải
rất cẩn thân khi lựa chọn mua hàng hoá, đặc biệt là thực phẩm và mỹ phẩm vì nó
ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con người. Thứ ba là nhu cầu mua sắm không
chỉ để thoả mãn nhu cầu tiêu dúng mà nó còn thể hiện cái tôi cá nhân, thương
hiệu cá nhân của bản thân người mua sắm. Cạnh tranh gay gắt ở cả trong và
ngoài nước đòi hỏi các doanh nghiệp phải có thương hiệu thì mới được người
tiêu dùng tin tưởng, ưa chuộng.
Công tác khuếch trương, quảng cáo ngày càng chiếm vị trí quan trọng
trong mỗi một công ty. Nhu cầu cần quảng cáo về sản phẩm, thương hiệu của
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công ty ngày một gia tăng. Doanh nghiệp nào cũng muốn mình sẽ là thương
hiệu mạnh nhất trên thị trường.

nhận thông tin dựa vào các thông tin nhận được để ra quyết định.
Như chúng ta đã biết, trong tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống: văn hoá, thể
thao, kinh doanh, du lịch, chính trị, thời trang…đều cần có các thông tin về
chúng trong việc ra các quyết định có liên quan. ở trong bài báo cáo này chỉ đề
cập đến các thông tin trong các lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh.
Thông tin sẽ được lấy ở trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng:
truyền hình, phát thanh, internet, pano- áp phích, các tổ chức cung cấp thông
tin… có nhiều trường hợp là thông tin truyền miệng.
Do bài viết chỉ đề cập đến các thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh
nên khách hàng có nhu cầu sử dụng thông tin là các doanh nghiệp. Các nước
trên thế giới thì thông tin được lấy nhiều nhất là trên internet, đây là một kho dữ
liệu khổng lồ, cung cấp hầu hết các thông tin cần thiết cho doanh nghiệp. Nếu
chúng ta muốn tìm kiếm thông tin gì , chỉ cần đánh trực tiếp vào trang mạng
hoặc thông qua các website: Google, yahoo!, MSN… Nhưng không phải thông
tin nào cũng có ở trên mạng, đặc biệt là các thông tin mật, chúng ta phải tìm từ
các nguốn khác mới có được.
ở nước ta, khách hàng tìm kiếm thông tin nhiều trên mạng, ngoài ra doanh
nghiệp còn tìm thông tin thông qua các tổ chức, truyền hình, báo chí, tạp chí,
phát thanh. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì việc thiếu thông
tin gây ra những ảnh hưởng rất xấu đối với các doanh nghiệp. Bởi vì, việc thiếu
thông tin ảnh hưởng đến việc ra quyết định, đầu tư của các doanh nghiệp.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhưng vấn đề thu thập được thông tin lại là vấn đề khó khăn, phức tạp đối với
các doanh nghiệp nước ta.
Doanh nghiệp muốn thu thập thông tin gì? Có thể nói, đấy là các thông tin
liên quan đến hoạt động kinh doanh của họ. Doanh nghiệp, họ muốn biết các
thông tin về: thị trường, về nhu cầu của người tiêu dùng, hành vi mua của họ,
các thông tin về đối thủ cạnh tranh, về nhà cung ứng, các chỉ thị của chính phủ
về đầu tư, các luật doanh nghiệp được sửa đổi… Tất cả những thông tin này phải

chí, phát thanh, và cuối cùng là internet. Nhưng theo nghiên cứu mới nhất của
Credit Suise First Boston ( CSFB) trên hàng trăm tập đoàn- công ty tại Mỹ, năm
2006, trong tổng ngân sách của họ giành cho quảng cáo trên mạng sẽ tăng từ
17% - 23%.
Cũng theo báo cáo này, internet ngoạn mục vươn lên từ vị trí thứ 4 lên vị trí
thứ 1trong tất cả các phương tiện thông tin đại chúng. Tại mỹ, internet trở thành
phương tiện truyền thông quảng cáo được ưa chuộng nhất.
Vào tháng 4/2005, quảng cáo trên mạng của Mỹ đã đạt con số 3.7 tỷ USD.
Dự tính năm 2006, loại hình quảng cáo này sẽ còn tăng trưởng đến 32%, báo in
chỉ còn nhận được 16% ngân sách của các nhà quảng cáo, truyền hình, vô tuyến
đạt được một con số tương tự, quảng cáo trên tạp chí đạt 15%, truyền hình cáp
đạt 10%, phát thanh 8%, các loại pano- ap phích đạt8% và còn 4% còn lại dành
cho các loại hình khác.
45% trong những đơn vị quảng cáo được điều tra nói trên đã cho biết, trong
năm 2006, họ dự trù tăng trung bình khoảng 29% ngân sách cho quảng cáo trên
mạng. Điều tra này cũng cho biết những địa chỉ quảng cáo trực tuyến được quan
tâm nhất là Google, yahoo!, valueclick.
Cũng theo nghiên cứu đánh giá của CSFB, trên phạm vi toàn thế giới,
quảng cáo trực tuyến đang chiếm ưu thế hơn so với các phương tiện quảng cáo
khác. Dự tính quảng cáo trực tuyến sẽ đạt 16.6 tỷ $ trong năm 2006 và sẽ đạt
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
33.8 tỷ $ vào năm 2010. Như vậy, ở Mỹ, nước có nền kinh tế lớn nhất toàn cầu
thì quảng cáo trực tuyến đang nên ngôi.
Ở nước ta, khách hàng quảng cáo chủ yếu là các doanh nghiệp. Hiện
nay, nước ta có tổng cộng là 33.896 doanh ngghiệp, trong đó:
- Doanh nghiệp tư nhân là 7.686
- Công ty cổ phần là 1.148
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là 15.442
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là 34

tiềm lực tài chính và có số lượng khách hàng tương đối đông ở nước ta
: công ty Hoàng gia, công ty phần mềm và truyền thông VASC, công ty điện
toán và truyền số liệu ( VDC)
Như vậy các đại gia có nhu cầu cần quảng cáo chủ yếu là các công ty nước
ngoài, công ty liên doanh. Các doanh nghiệp Việt nam quảng cáo còn ít, mà chủ
yếu ở qui mô hẹp, chủ yếu trên các sách chuyên ngành, tạp chí. Nhưng dự đoán
trong những năm tiếp theo, cầu về quảng cáo sẽ tăng lên cả về số lượng lẫn tần
suất quảng cáo.
1.2. TỔNG CUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CUNG CẤP THÔNG TIN
1.2.1 Cung về thông tin thị trường
Thị trường cung cấp thông tin bao gồm tất cả các phương tiện truyền thông
tin. Phải kể đến đầu tiên là internet, trong đó các trang Google, Yahoo!, và
Valueclick, có trữ lượng dữ liệu rất lớn. Nước ta, các trang web: sài gòn tiếp thị,
vnexpress có lượng thông tin tương đối nhiều. Ngoài ra báo chí, sách, truyền
hình, phát thanh cũng cung cấp một lượng thông tin tương đối lớn. Ngoài ra hiện
nay, một số tổ chức, cơ quan có phát hành các ngân hàng dữ liệu về thị trường,
tập quán thương mại, luật pháp quốc tế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp về mặt
thông tin. Song vấn đề đặt ra cho thị trường cung cấp thông tin là nó quá nghèo
nàn, không đủ nhu cầu cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp.
Qua tham khảo một số doanh nghiệp xuất khẩu, họ cho biết, các ngân hàng
dữ liệu mới chỉ sưu tập thông tin sẵn có chứ chưa chú trọng đến vấn đề thực sự
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
doanh nghiệp cần thông tin gì. Một vị phó giám đốc công ty xuất khẩu thủ công
mỹ nghệ tỉnh Nam Định nói: “ nếu muốn tìm hiểu thông tin về các đối thủ cạnh
tranh nước ngoài cùng bán cho khách hàng của công ty thì cơ sở dữ liệu sẽ
không có được thông tin ông cần vì đây là một dạng thông tin gián điệp công
nghiệp mà ngay cơ quan thương vụ Việt nam cũng không d khai thác được”.
Hiện nay tình trạng mà các doanh nghiệp việt nam gặp phải là thông tin cần
thì không có, thông tin có nhưng biếu không cũng không ai lấy. Câu chuyện

thông tin mang tính tổng hợp, còn thiếu thông tin đã qua xử lý hoặc thông tin
mang tính chất tình báo, dự báo. Một trong những khó khăn là chi phí thu thập
thông tin cao và đòi hỏi các bộ, chuyên gia sâu trong từng lĩnh vực. Có nhiều
trường hợp thông tin thì có nhưng giá thông tin cao nên doanh nghiệp không có
khả năng mua.
Nhìn chung, thị trường cung cấp thông tin ở nước ta hiện nay có nhiều bất
cập. Có nhiều thông tin không có, không cung cấp đủ thông tin cho doanh
nghiệp, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc đầu tư, ra quyết định. Cung
về thông tin còn thiếu không đủ cung cấp cho cầu về thông tin của các doanh
nghiệp, tổ chức.
1.2.2 Cầu về quảng cáo.
Hiện nay nước ta có khoảng 190 công ty quảng cáo, trong đố 90% công ty
có tiềm lực tài chính trung bình. Ngoài ra, các phương tiện quảng các nhiều.
Mạnh nhất là truyền hình, sau đó đến internet, sách báo chí, tạp chí, phát thanh,
hội trợ triển lãm, pano- ap phich,
Trên thế giới thì quảng cáo trực tuyến đang lên ngôi. Số lượng người truy cập
internet nhiều, hơn nữa quảng cáo trên mạng là liên tục, không bị gián đoạn như
trên truỳên hình hay phát thanh, chỉ phát sóng có hạn trong thời gian ngắn.
Việt nam ta thì các phương tiện quảng cáo truyền thống vẫn chiếm ưu thế.
Phương tiện quảng cáo mạnh nhất vẫn là truyền hình, trong đó kênh VTV3
chiếm thị phần mạnh nhât, sau đó là đến truyền hình cáp. Trên vtv3, thời lượng
phát sóng quảng cáo trong ngày là 2 tiếng, ít hơn rất nhiều so với thời lượng
phát quảng cáo trên các kênh truyền hình nước ngoài. Chi phí cho quảng cáo
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trên truyền hình là rất đắt, 30s cho quảng cáo giời cao điểm là 40 triệu đồng, 30s
quảng cáo giờ bình thường là 25- 30 triệu đồng. Với chi phí đắt như vậy, không
phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng để quảng cáo. Có những doanh
nghiệp có tiền nhưng chưa chắc đã được đăng ký quảng cáo trên truyền hình bởi
vì thời lượng phát sóng quảng cáo có hạn nên họ phải lựa chon khách hàng tiềm

công ty. Phải kể đến đầu tiên là truyền hình, sau đó là internet, phát thanh, báo
chí, tạp chí, quảng cáo ngoài trời Hiện nay công ty mới chỉ thu hút được
khoảng 5% doanh nghiệp trong nước tham gia vào quảng cáo trên sách chuyên
ngành của công ty, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp
lớn thường từ chối tham gia vì thương hiệu của công ty chưa có.
Tuy vị thế của công ty chưa cao, mới chỉ là công ty thuộc dạng vừa, khả
năng cạnh tranh thấp. Nhưng hy vọng trong những tới công ty sẽ trở thành một
công ty mạnh, có chỗ đứng cao trên thị trường.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ
HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG CÁ NHÂN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THÔNG TIN Á CHÂU.
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
2.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Công ty Cổ phần Thông tin á Châu được thành lập vào tháng 01 năm 2000.
Trụ sở đặt tại 40 Nguyễn Phi Khanh, Quận 1, TP.HCM. Hội đồng cổ đông sáng
lập gồm: ông Kiều Tiến Toàn, ông Trần Văn Chính, ông Phạm Thế Viên. Hội
đồng Quản trị công ty bao gồm: ông Trần Văn chính- Chủ tịch Hội đồng Quản
trị, ông Kiều Tiến Toàn- Giám đốc đại diện pháp luật, ông Phạm Thế Viên,
thành viên.
Ngành nghề kinh doanh của công ty: Quảng cáo thương mại; phát hành
sách báo; cung cấp các văn bản pháp quy, thông tin kinh tế; tổ chức hội nghị, hội
thảo, hội trợ triển lãm; sản xuất, lắp ráp, kinh doanh hàng điện tử dân dụng và
công nghiệp.
Thị trường đầu tiên của công ty là TP.HCM và một số tỉnh phía Nam, chủ
yếu là thị trường TP.HCM. Do nhu cầu phát triển, Hội đồng Quản trị công ty đã
quyết định mở rộng thị trường trên toàn quốc. Hiện nay công ty có 4 văn phòng
đặt tại các thành phố lớn là: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ.

thêm một số loại hình kinh doanh khác như cung cấp các văn bản pháp quy,
thông tin kinh tế; tổ chức hội nghị, hội thảo, hội trợ triển lãm, và đặc biệt là tổ
chức thực hiện liên kết xuất bản sách chuyên nghành, một số sách của công ty
đã phát hành gần đây như:
+ Chuyên đề: Nhãn Hiệu Độc Quyền- Thương Hiệu Việt Nam 2004 liên kết
với Cục sở hữu trí tuệ.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Chuyên đề: Niên Giám Ngành Máy và Thiết Bị Công Nghiệp Việt Nam
2005 liên kết với Bộ công nghiệp, Nhà Xuất bản Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh.
+ Chuyên đề: Thương Hiệu Uy Tín và Sản Phẩm Chất Lượng 2005 liên kết
với Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Việt Nam, Nhà Xuất bản Tổng
hợp TP.HCM.
Danh mục sản phẩm hàng hoá của công ty tương đối đa dạng và liên quan
nhiều đến ngành kinh doanh dịch vụ, đây cũng là ngành nghề kinh doanh rất
phát triển hiện nay, đặc biệt đối với các nước phát triển. Điều này cũng đễ hiểu
bởi vì đây là ngành thu được lợi nhuận tương đối cao. Trong tương lai công ty
dự định sẽ mở thêm một số danh mục sản phẩm hàng mới cũng liên quan đến
ngành kinh doanh dịch vụ.
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty.
Sơ đồ tổ chức của Công ty:
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:
+ Hội đồng Quản trị: Có quyền quyết định cao nhất. Lãnh đạo chung toàn
công ty, đề ra các chiến lược phát triển của công ty, các phương án đầu tư. Bầu
ra Chủ tịch Hội đồng Quản trị. Chủ tịch Hội đồng Quản trị thay mặt Hội đồng
Quản trị quyết định mọi công việc của công ty và có nhiệm vụ báo cáo cho Hội
đồng Cổ đông theo định kỳ.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B

công ty.
2.1.2. Tình hình kinh doanh của công ty.
2.1.2.1 Năng lực kinh doanh của công ty.
a. Năng lực kinh doanh.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Thông tin á
Châu thì lĩnh vực quảng cáo là lĩnh vực hoạt động quan trọng nhất, nó đóng góp
hơn 80% trong tổng doanh thu của công ty. Các lĩnh vực còn lại của công ty:
cung cấp thông tin, cung cấp các văn bản pháp quy, tổ chức hội nghị, hội thảo
đóng góp gần 20% trrong tổng doanh thu của công ty. Các lĩnh vực này thì khả
năng hoạt động không rộng lắm, tập chung chủ yếu ở 4 thành phố dặt văn phòng
của công ty: T. P Hồ Chí Minh, Hà nội, Đà nẵng, Cần thơ. Quảng cáo đóng vai
trò là lĩnh vực chủ đạo của công ty nên hầu như mọi tiềm lực, khả năng cuả công
ty đều tập chung vào lĩnh vực này. Trong lĩnh vực quảng cáo của công ty thì đâu
là hình thức quảng cáo trên các sách chuyên ngành. Từ việc in cấp giấy phép
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phát hành cho đến mời các doanh nghiệp, tổ chức tham gia quảng cáo, rồi biên
soạn, in ấn, phát hành sách cồng ty đều làm từ đầu đến cuối. Việc phát hành
sách chỉ là một khâu trong quá trình xuất bản sách quảng cáo mà thôi.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh công ty liên kết với: Nhà in Báo
nhân dân.
Đây là đối tác quan trọng của công ty trong quá trình xuất bản và phát hành
sách chuyên ngành của công ty.
Công ty có một quy trình xuất bản tương đối bài bản, cụ thể là quy trình
xuất bản của công ty tuân theo các bước sau:
+ Lập đề cương chuyên đề.
+ Tổng hợp nội dung chuyên đề.
+ Biên tập, dàn trang, đọc và sửa mo rát nội dung chuyên đề.
+ Lập bản thảo chuyên đề.
+ Sau đó nội dung chuyên đề sẽ được chuyển qua Nhà in báo Nhân Dân, ở

hàng năm công ty đều cử nhân viên đi đào tạo để nâng cao trình độ nghiệp vụ và
chuyên môn.
c. Năng lực quản lý chung của công ty.
Nhìn chung năng lực quản lý của công ty có nhưng chưa phát huy hết khả
năng. Các bộ phận quản lý trong quá trình điều hành do tuổi còn trẻ, kinh
nghiệm hạn chế nên còn nhiều sai sót. Tuy nhiên những hạn chế này đã được
các bộ phận quản lý nhận ra và nhanh chóng sửa chữa.
Mục tiêu của công ty từ khi thành lập cho đến nay đều theo một định
hướng xuyên suốt, đó là đưa công ty trở thành một trong những công ty hàng
đầu của Việt Nam trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Tuy nhiên, với sự nỗ
lực hết mình của tất cả cán bộ nhân viên trong công ty, hy vọng trong những
năm tiếp theo công ty sẽ đạt được những thành tựu to lớn hơn, từng bước đưa
công ty thực hiện được mục tiêu đề ra.
Chiến lược của công ty là mở rộng thị trường bắt đầu từ các thành phố lớn
tới các tỉnh lân cận và mở rộng thị trường trên toàn quốc.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình hoạt động, các nguồn thông tin sẽ được thu thập trên toàn
bộ các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo chí, truyền hình, in ternet.
Những nguồn thông tin này đảm bảo sự chính xác, kịp thời và cập nhập nhanh
nhất có thể được. Sau khi thu thập thông tin xong thì các nguồn thông tin này sẽ
được chuyển qua các phòng ban, các phòng ban này có trách nhiệm tổng hợp và
phân tích thông tin. Đây là một khâu rất quan trọng vì nếu thông tin bị sai lệch
thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng dự đoán của công ty và từ đó ảnh hưởng tới mục
tiêu, biện pháp, phương hướng đề ra của công ty trong các dự án kinh doanh.
Trong cơ chế thị trường như hiện nay thì các cơ hội kinh doanh rất nhiều
nhưng bên cạnh đó cũng có rất nhiều rủi ro. Nhận biết được cơ hội kinh doanh
và có phương án thực thi thì phải nắm bắt được các cơ hội này một cách nhanh
và hiệu quả là điều quan tâm đầu tiên của lãnh đạo công ty. Phân tích các cơ hội
kinh doanh này nhận biết được điểm mạnh và điểm yếu của công ty trong việc

ràng và cụ thể hơn nữa, cần nâng cao trình độ chuyên môn cho các nhà quản lý.
Tuy công ty luôn cử cán bộ nhân viên đi đào tạo chuyên môn nhưng cần phải có
sự kiểm tra chất lượng, vì công việc đào tạo này chưa chắc đã mang lại hiệu quả
cao. Cử đi đào tạo để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn là một việc làm cần thiết
nhưng vấn đề quan trọng hơn là những người được cử đi này họ thu được gì,
hiệu quả có phí. Điều này mang lại tổn thất về tiền bạc mà quan trọng hơn là
không có cán bộ giỏi để quản lý tốt đưa công ty phát triển hơn nữa.
2.1.2.2 . Tình hình cạnh tranh của công ty.
Sản phẩm chủ yếu của công ty là phát hành các sách chuyên nghành. Thị
cao không. Nếu trình độ của họ vẫn không được nâng cao hoặc được nâng cao
rất ít không tương ứng với chi phí bỏ ra thì vấn đề đào tạo này bị lãng trường
của công ty rộng lớn, bao gồm tất cả các công ty, doanh nghiệp trong cả nước.
Giá cả sản phẩm của công ty phù hợp với khả năng chi trả của các doanh nghiệp.
Hệ thống kênh phân phối theo cả hai hình thức là trực tiếp và gián tiếp. Hoạt
động khuếch trương, quảng cáo tương đối tôt. Tiềm lực của công ty về tài chính,
nhân sự, bộ máy lãnh đạo còn yếu kém. Hơn nữa, trong cơ chế cạnh tranh thị
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trường như hiện nay, công ty phải đối mặt với rất nhiều các đối thủ mạnh: Các
công ty quảng cáo, truyền hình, đài, báo chí, các tạp chí thương mại như tạp chí
Châu á Thái Bình Dương, internet, … Các đối thủ cạnh tranh này thu hút được
rất nhiều các khách hàng tham gia quảng cáo. Đối thủ cạnh tranh mạnh nhất là
truyền hình. Lợi thế của quảng cáo trên truyền hình đó là có số lượng người xem
đông, có hình ảnh, âm thanh, màu sắc sinh động, khả năng truyền tải sản phẩm
đến người xem cao, thu hut người xem, nhưng chi phí để quảng cáo lại rất cao:
Giờ cao điểm là trên 40 triệu cho 30s quảng cáo trên truyền hình, còn trung bình
là khoảng 35 triệu. Trong khi đó với chi phí chỉ với 40 triệu đồng thì các thông.
tin về sản phẩm, doanh nghiệp đã được đăng trên trang nhất của cuốn sách do
công ty Thông tin á Châu phát hành.
Nhưng do công dụng của quảng cáo trên truyền hình lớn nên dù cho chi

triệu đồng, ( tăng khoảng 30.05%). Vốn cố định của công ty tăng, năm 2003 là
500 triệu đồng nhưng đến năm 2005 vốn cố định của công ty là 680 triệu đồng,
tăng 180 triêu đồng, ( tăng khoảng 26.47%). Điều này chứng tỏ trong cơ chế thị
trường hiên nay số vốn lưu động dành cho kinh doanh là rất quan trọng. Nó
chứng tỏ sức mạnh của công ty. Do đó việc đảm bảo nguồn vốn ổn định cho
kinh doanh và sử dụng vốn hiệu quả là những nội dung cơ bản trong chiến lược
về vốn của công ty thông tin á Châu. Với nhu cầu khoảng 65% vốn lưu động
phải dựa vào nguồn vốn tín dụng là chủ yếu, đặc biệt là nguồn góp vốn ngoại tệ,
nên công ty đã chủ chương xác lập mối quan hệ hợp đồng bền vững và ổn định
với các ngân hàng thương mại như ngân hàng thương mại á châu, đồng thời
công ty tích cực thu hút từ các nguồn khác.
Để nhìn một cách tổng quát nhất tình hình hoạt động kinh doanh của công
ty thông tin á Châu, chúng ta hãy nhìn vào bảng các chỉ tiêu tài chính của công
ty dưới đây :
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 2: Bảng các chỉ tiêu tài chính
Đơn vị: Triệu VNĐ
Chỉ tiêu 2003 2004
Tổng tài sản 4.000 5000
Tổng doanh thu 2.100 2.400
Vốn điều lệ 1.700 1.900
Lợi nhthuận trước thuế 1.100 1.300
Lợi nhuận sau thuế 792 936
Nhìn vào các chỉ tiêu tài chính trên ta thấy:
- Tổng tài sản của công ty tăng, từ 4.000 triệu đồng năm 2003 lên 5.000
triệu đồng năm 2004. Năm 2004 tổng tài sản của công ty tăng 1.000 triệu đồng
( tăng 20% ) so với năm 2003.
- Tổng doanh thu của công ty tăng, từ 2.100 triệu đồng năm 2003 lên 2.400
triệu đồng năm 2004. Năm 2004 tổng tài sản của công ty tăng 300 triệu đồng

2.2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ LỰC LƯỢNG BÁN HÀNG
CỦA CÔNG TY
2.2.1 Thực trạng về hệ thống bán hàng của công ty
Công ty Cổ phần Thông tin á Châu là một trong những công ty chuyên về
lĩnh vực quảng cáo ở nước ta. Công ty có 4 văn phòng đại điện ở 4 thành phố:
Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà nẵng, Cần thơ. Các công tác bán hàng
được giao cho phòng kinh doanh.
Mạng lưới bán hàng của công ty tổ chức bán hàng qua các kênh phân phối.
Công ty phân phối hàng qua hai kênh phân phối: kênh trực tiếp và kênh gián tiếp.
Kênh phân phối trực tiếp: Các khách hàng của công ty sẽ đặt số lượng sách
theo yêu cầu. Sau khi hoàn thành sách xong, công ty sẽ nhanh chóng chuyển
trực tiếp số lượng các cuốn sách tới các khách hàng theo đơn đặt hàng.
Kênh phân phối gián tiếp: Sau khi đã chuyển hết số lượng sách theo đơn đặt
hàng, số sách còn lại công ty sẽ chuyển đến các siêu thị sách khắp trong cả
nước. ở đây sẽ bán số lượng sách còn lại của công ty.
Sơ đồ kênh phân phối sách của công ty:
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong hai loại kênh này thì lượng hàng bán qua kênh gián tiếp chiếm tỷ
trọng lớn, chiếm tới hơn 80% trong tổng doanh số bán của công ty.
Do công ty kinh doanh về dịch vụ nên hầu hết các sản phẩm là cung cấp
trực tiếp cho khách hàng. Chỉ có mỗi sản phẩm về sách chuyên ngành do công ty
phát hành là cần hệ thống kênh trung gian. Chính vì lý do đó nên công ty sử
dụng kênh phân phối trực tiếp là chủ yếu.
Sinh viên: Đỗ Thị Thanh Thuỷ Lớp Marketing 44B
Công ty
Doanh nghiệp Siêu thị sách
Người tiêu dùng

Trích đoạn Chế độ thù lao và các biện pháp động viên khuyến khích của công ty. Chuẩn bị tiếp xúc chào bán. Trưng bày hàng hoá và dẫn chứng minh hoạ. ứng xử với những phản đối của khách hàng. Kết thúc bán hàng và hoàn tất các dịch vụ sau bán hàng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status