quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh quảng ngãi - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử phát triển của các nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ
(DNVVN) luôn luôn có vai trò và tác dụng rất quan trọng. Gần đây, với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa kinh
tế diễn ra khá sôi nổi, thực tiễn quản lý kinh tế và quản lý doanh nghiệp (DN)
có những chuyển biến sâu sắc, thì các DNVVN lại càng được chú trọng.
Ở nước ta, DNVVN cũng có vai trò quan trọng, do sự phát triển còn
thấp của nền kinh tế quốc dân, do tiềm năng còn lớn của nội lực dân tộc, do
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Trong 16 năm
đổi mới vừa qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan
trọng: cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến theo hướng tiến bộ, tăng trưởng kinh
tế ổn định trong một thời gian dài, Kết quả đó có sự đóng góp của các
DNVVN. Vì vậy, DNVVN ngày càng được coi trọng. Báo cáo chính trị của
Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa chỉ
rõ: "Chú trọng phát triển các DNVVN ". Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 10 năm 2001 - 2010 cũng nhấn mạnh: "Phát triển mạnh các DNVVN ".
Quảng Ngãi là một tỉnh mới được tái lập từ năm 1989 sau gần 14 năm
hợp nhất với tỉnh Bình Định (từ 11/1975 đến 7/1989), là một tỉnh nghèo, với
gần 90% dân số sống ở nông thôn, lại chủ yếu sống bằng nghề nông và ở mức
sống thấp, lao động nhàn rỗi và dư thừa nhiều (tỷ lệ thất nghiệp chung khoảng
2,64%, tỷ lệ thất nghiệp thành thị: 5,74%) Song bên cạnh đó Quảng Ngãi lại
có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế: về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, có
nhiều làng nghề truyền thống, có khu công nghiệp Dung Quất, có nhiều nhà
máy lớn, có lực lượng lao động dồi dào, Vì vậy, việc phát triển và phát huy
tiềm lực của các DNVVN trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết bởi nó sẽ đóng một
1
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh. Muốn
vậy, đòi hỏi cần phải nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về thực trạng
DNVVN trên địa bàn tỉnh để từ đó tìm ra định hướng, giải pháp phát triển
DNVVN trên địa bàn, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng và phát triển

đường lối CNH, HĐH do Đại hội Đảng lần thứ IX đề ra thì việc nghiên cứu
DNVVN vẫn là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Đối với địa bàn tỉnh Quảng Ngãi chưa có tác giả, chưa có công trình nào
đặt vấn đề nghiên cứu về DNVVN. Đây là vấn đề lớn, mới mẻ và có ý nghĩa thiết
thực đối với tỉnh, đang đòi hỏi cần có những đầu tư nghiên cứu cụ thể, có hệ thống.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi lựa chọn đề tài này với mong
muốn đi sâu nghiên cứu, học hỏi những vấn đề về lý luận, đồng thời tiến hành
tổng hợp số liệu kết hợp với quá trình khảo sát thực tiễn trên địa bàn, để từ đó
đề xuất ý kiến của mình về phát triển DNVVN ở tỉnh Quảng Ngãi.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích:
Luận văn hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình hình
thành và phát triển của DNVVN, cũng như luận giải rõ vai trò của DNVVN
trong nền kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế nói chung, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
nói riêng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát triển DNVVN
có hiệu quả, đóng góp vào tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Quảng Ngãi.
- Nhiệm vụ:
Thứ nhất, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về DNVVN trong nền
kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động
3
hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ hai, phân tích thực trạng DNVVN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Thứ ba, nêu những quan điểm và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm
phát triển DNVVN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Phạm vi nghiên cứu:
Vấn đề DNVVN là vấn đề rộng và phức tạp, tồn tại trong mọi lĩnh vực
của nền kinh tế quốc dân. Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, luận văn tập
trung chủ yếu phân tích thực trạng của các DNVVN trong công nghiệp - dịch

Ngoài ra mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn được trình bày trong 3 chương, 7 tiết.
5
CHƯƠNG 1: DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA
1.1. SỰ PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM VỀ DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
1.1.1. Quá trình nghiên cứu về DNVVN ở Việt Nam
- Tính tất yếu khách quan của sự phát triển của DNVVN ở Việt
Nam
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, DNVVN ra đời sớm
hơn DN lớn. Tiền thân của các DNVVN là các hộ gia đình sản xuất tự cung tự
cấp.
DNVVN không chỉ là một phạm trù phản ánh độ lớn của DN mà là
một phạm trù bao hàm nội dung tổng hợp về kinh tế tổ chức sản xuất, tổ chức
quản lý, tiến bộ khoa học - công nghệ. DNVVN tồn tại và phát triển là tất yếu
khách quan phù hợp với yêu cầu của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ, tính chất phát triển của lực lượng sản xuất.
6
Lịch sử ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hóa gắn với sự hình
thành và phát triển của các DN. Nền sản xuất hàng hóa xuất hiện khi sự phân
công lao động đạt đến một trình độ nhất định, cùng với chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất được xác lập.
Trong giai đoạn tiền sử (Các Mác gọi là sản xuất hàng hóa giản đơn)
không có sự phân biệt giữa giới chủ và giới thợ. Người sản xuất hàng hóa vừa là
người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp, vừa là người
điều khiển (quản lý) công việc của mình (gia đình mình), vừa là người trực tiếp
mang sản phẩm của mình ra trao đổi thị trường. Đó là loại DN cá thể, DN gia
đình.

cùng với quá trình ra đời nghề thủ công và làng nghề truyền thống trong nông
thôn. Những nghề và làng nghề thủ công truyền thống quan trọng, nổi tiếng
phần lớn đã ra đời từ rất lâu, vài trăm đến hàng nghìn năm ở đồng bằng sông
Hồng rồi sau đó lan ra cả nước. Hình thành tổ chức SXKD của nghề thủ công
và làng nghề truyền thống trước đây chủ yếu là kinh tế hộ gia đình hoặc liên
gia đình trong từng làng xã, vừa mang tính chất sản xuất hàng hóa, vừa mang
tính chất sáng tạo nghệ thuật.
Trong thời kỳ bị thực dân Pháp đô hộ, nghề thủ công truyền thống vẫn
được tiếp tục tồn tại và phát triển. Dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật
và phương thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa (TBCN), các DNVVN đã được
hình thành.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và đất nước bước
vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, các DNVVN vẫn phát
triển. Vùng bị tạm chiếm, nhiều chủ DN chủ yếu ở các thành phố lớn như: Hà
Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn bỏ vốn ra kinh doanh. Trong vùng tự do,
chính quyền cách mạng thành lập các DN để sản xuất các mặt hàng phục vụ
8
kháng chiến và đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng thời khuyến khích nhân
dân lập xưởng sản xuất sản phẩm phục vụ tiêu dùng. Các DNVVN ở vùng tự
do đã có tác dụng to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của bộ đội,
nhân dân và phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp đến thắng lợi vẻ
vang.
Từ năm 1954 đến năm 1975, các DNVVN ở hai miền Bắc - Nam phát
triển theo hai đường lối, cơ chế khác nhau. Ở miền Bắc tiến hành xây dựng
chủ nghĩa xã hội (CNXH), hàng loạt xí nghiệp quốc doanh có quy mô lớn ra
đời, đồng thời các xí nghiệp quốc doanh của cấp huyện được phát triển mạnh,
còn DNVVN của tư nhân bị cải tạo, xóa bỏ. Ở miền Nam, một mặt các cơ sở
công nghiệp lớn, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Đà Nẵng, Sài
Gòn, được phát triển, mặt khác các DNVVN chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân
cũng ra đời và phát triển mạnh.

DNVVN) đã được hình thành, phát triển và đóng góp một phần đáng kể cho
sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, theo nhận định của các nhà kinh tế
thì DNVVN còn gặp nhiều khó khăn trong SXKD, chưa phát huy được hết
tiềm năng của mình bởi nhiều nguyên nhân: do bản thân của các DN, do hiểu
biết về loại hình DN này còn nhiều hạn chế, Mặt khác, các chuyên gia cùng
nhận định, khu vực DNVVN ở Việt Nam sẽ trở thành một động lực quan trọng
cho sự phát triển của kinh tế đất nước. Chính vì vậy, đòi hỏi cần phải tiến hành
nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện về DNVVN, để từ đó tạo điều kiện cho
các DNVVN phát huy hết khả năng của mình cho sự nghiệp phát triển kinh tế
đất nước.
Việc nghiên cứu loại hình DNVVN đã được Nhà nước quan tâm và được
các tổ chức của nhiều nước trên thế giới ủng hộ, hỗ trợ. Nhiều cơ quan khoa học,
cơ quan quản lý và nhiều địa phương đã tiến hành nghiên cứu về DNVVN: Bộ
10
Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, Viện
Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội),
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hội đồng Liên minh các HTX
Việt Nam, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO), Trung
tâm kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh
Ngay từ những năm 1990, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung
ương đã tiến hành hai cuộc hội thảo về DNVVN có sự tài trợ của Cộng hòa
Liên bang Đức, sau đó tiến hành khảo sát 135 DNVVN ở tỉnh Hà Bắc.
Năm 1991, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội) cùng với Trung tâm xúc tiến việc làm châu Á
(ARTEP-ILO) và các cộng tác của trường Đại học kinh tế Stockholm (Thụy
Điển) đã tiến hành khảo sát điều tra 1.000 DN nhỏ ở Hà Nội, Hải Phòng,
thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phú, Quảng Ninh, Long An (theo chương trình
của dự án VIE 90/MO).
Năm 1993, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội phối hợp với

1.1.2. Những vấn đề lý luận đã đạt được về DNVVN ở Việt Nam
Như đã trình bày phần trên, việc nghiên cứu DNVVN ở Việt Nam mặc
dù chỉ mới thực hiện trong thời gian ngắn so với thực tế tồn tại DNVVN ở
Việt Nam, song kết quả đạt được rất lớn, hàng loạt các vấn đề về DNVVN ở
Việt Nam đã được làm sáng tỏ. Cụ thể:
- Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bắt đầu đã hình thành khái
niệm DNVVN, thuật ngữ DNVVN bước đầu đã đi vào cuộc sống, đi vào các
tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng và Nhà nước.
12
- Từng bước hoàn chỉnh định nghĩa về DNVVN. Mỗi cơ quan nghiên
cứu đều đưa ra định nghĩa về DNVVN. Trên cơ sở những định nghĩa đó, trong
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa DNVVN ở
Việt Nam: DNVVN là các cơ sở SXKD, đã ĐKKD theo pháp luật hiện hành,
có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm
không quá 300 người. Theo định nghĩa thì DNVVN ở Việt Nam bao gồm:
+ Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DN.
+ Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DNNN.
+ Các HTX thành lập và hoạt động theo Luật HTX.
+ Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-
CP ngày 03 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh
(ĐKKD).
- Khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của các DNVVN trong sự
nghiệp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
- Phân tích làm rõ những ưu thế, hạn chế cũng như khuyết điểm của
các DNVVN.
- Xác định những điều kiện kinh tế - xã hội cũng như vai trò quản lý
của Nhà nước, của các tổ chức phi chính phủ đối với sự phát triển nhanh,
mạnh và có hiệu quả của các DNVVN.
- Nghiên cứu hình thành và hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô cũng
như các chính sách hỗ trợ để phát triển DNVVN.

giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi và bình đẳng trước
pháp luật. Đường lối này lại được củng cố thêm ở Đại hội Đảng VII, VIII, IX,
các văn kiện của Đảng tại các kỳ Đại hội này đều nêu rõ chủ trương xuyên
14
suốt là thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là các bộ
phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Theo đó các DN thuộc bất cứ thành phần kinh tế nào kinh doanh đúng pháp
luật, theo định hướng chung của Nhà nước đều được khuyến khích, tạo điều
kiện để phát triển. Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ DNVVN
bắt đầu du nhập vào nước ta, cũng có ý kiến cho rằng, đây là loại hình kinh tế
của chủ nghĩa tư bản. Nhưng qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã khẳng
định rằng, sự tồn tại của DNVVN là tất yếu khách quan đối với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta. Từ đó, đã tác động lớn đến quan điểm
của Đảng và Nhà nước đối với DNVVN. DNVVN không còn coi là phụ trợ
như trước, mà giờ đây là công cụ hữu hiệu, là nhà thầu phụ quan trọng cho các
DN lớn góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII nhấn mạnh: "Trong phát triển
mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu
hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần
thiết và có hiệu quả" [10, tr. 28]. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục
nhấn mạnh: "Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, xây dựng một
số tập đoàn lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hóa" [12, tr. 27].
Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để từng
bước hình thành hệ thống thể chế chính sách khuyến khích phát triển
DNVVN. Có thể kể ra đây những văn bản quan trọng như:
+ Hiến pháp năm 1992 công nhận quyền tự do kinh doanh của mọi
công dân theo quy định của pháp luật, công nhận quyền được đối xử của các
thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
+ Nghị định 66-HĐBT ngày 2-3-1992 của Hội đồng Bộ trưởng về cá

+ Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng
Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn.
+ Quyết định số 46/2001 ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
xuất, nhập khẩu thời kỳ 2001-2005 đề ra một cơ chế 5 năm thay cho cơ chế
hàng năm trước đây, giảm bớt các biện pháp phi quan thuế, tăng các biện pháp
kinh tế.
+ Các chính sách về tín dụng ngân hàng cho đầu tư phát triển như
Quyết định 67/1997/QĐ-TTh, Nghị định 43/1999/NĐ-CP
+ Đặc biệt là Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp
phát triển DNVVN.
Rõ ràng là, trải qua 16 năm đổi mới của Đảng, thể chế kinh tế nước ta
đã từng bước chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường, một hệ
thống các chính sách theo thể chế kinh tế thị trường đã từng bước hình thành,
tuy chưa thật sự hoàn chỉnh, song hệ thống chính sách hiện hành này đã bao
quát hầu hết các lĩnh vực liên quan đến hoạt động của DNVVN như: chính
sách về hành nghề và tạo lập DN, chính sách về thuế, chính sách về vốn và tín
dụng, chính sách thương mại, chính sách đất đai, chính sách công nghệ,
Nhờ hệ thống chính sách này mà kinh tế dân doanh bước đầu bùng nổ,
mọi lực lượng sản xuất được giải phóng đã đem lại sức phát triển mới của nền
kinh tế nước ta, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Một ví
dụ nổi bật, là từ khi Luật DN có hiệu lực thi hành, chỉ riêng năm 2000 đã có
thêm 13.891 DN mới ĐKKD, năm 2001 thêm 22.945 DN, 6 tháng đầu năm
2002 thêm khoảng 11.000DN nhưng đáng chú ý nhất là số DN mới này đã giải
quyết được thêm 1 triệu lao động mới có việc làm (khoảng 30% số lao động
mới) (chưa kể hơn 300.000 hộ kinh doanh cá thể mới đăng ký thu hút khá
nhiều lao động) [21, tr. 62].
Song, như trên đã trình bày, đây là hệ thống chính sách chung cho DN
17
chứ chưa phải là hệ thống chính sách riêng đối với DNVVN (trừ Nghị định
90), vì thế mà cơ chế, chính sách đối với DNVVN còn nhiều sơ hở, chồng

tổng số DN thuộc khu vực này đã lên đến 85.393 DN với số vốn ĐKKD bình
quân là 970 triệu đồng/DN (năm 2000), 1,25 tỷ đồng/DN (năm 2001), 1,5 tỷ
đồng/DN (6 tháng đầu năm 2002) [30, tr. 91] [21, tr. 62].
Hiện nay, qua các cuộc điều tra cho thấy DNVVN chiếm đến 95-98%
số DN cả nước. DNVVN có mặt trong hầu hết các ngành kinh tế quốc dân,
trong đó phần lớn tập trung vào các lĩnh vực chính: thương mại, dịch vụ sửa
chữa, vận tải, công nghiệp chế biến, xây dựng, và được phân bổ rộng khắp
trong phạm vi cả nước từ thành phố, thành thị đến vùng nông thôn.
Hiện nay, DNNN đang trong giai đoạn tiếp tục xử lý, củng cố lại và
tiến hành cổ phần hóa, cho thuê, bán cho các thành phần kinh tế khác theo tinh
thần Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX), đồng thời thực hiện Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa IX) về việc tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến
khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, DNVVN sẽ có xu hướng và
điều kiện để phát triển mạnh hơn nữa.
1.2.2. Vai trò của các DNVVN trong thời kỳ CNH, HĐH ở nước ta
Về tiêu chí phân loại DNVVN, có những ý kiến khác nhau nhưng
trong đánh giá về vai trò của DNVVN có thể nói là khá tập trung và thống
nhất: DNVVN có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và
trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thể hiện qua các mặt sau đây:
- Đóng góp vào việc tăng trưởng nền kinh tế
Theo số liệu thống kê và đánh giá của các chuyên gia thì mỗi năm
DNVVN đóng góp 25% - 26% GDP của cả nước [41]. Song trong những năm
gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của loại hình DNVVN này khả năng đóng
19
góp vào GDP của cả nước ngày càng tăng. Trong năm 2000, tỷ trọng của khu
vực kinh tế tập thể trong GDP là 8,5%, khu vực kinh tế tư nhân 32%, khu vực
kinh tế hỗn hợp 3,9%, như vậy tổng của 3 khu vực trên chiếm khoảng 44,2%
GDP của cả nước (mà đây là các khu vực DN tồn tại chủ yếu là DNVVN) [12, tr.
229]. Theo Tổng cục thống kê, năm 2000 khu vực kinh tế tư nhân nộp Ngân sách
11.003 tỷ đồng, năm 2001 là 11.075 tỷ đồng, chiếm 14,8% tổng thu Ngân sách

việc ở DNVVN thấp hơn rất nhiều so với DN lớn, chủ yếu là do chi phí thấp
và thu hút được các nguồn vốn rải rác trong dân.
- Nâng cao thu nhập cho dân cư.
Thu nhập của nhân dân ta còn quá thấp, do nền kinh tế phát triển
chậm. Thu nhập của dân cư nông thôn (chiếm trên 80% tổng dân số) lại chủ
yếu phụ thuộc vào nền nông nghiệp thuần nông, mà trong nông nghiệp, dù sản
lượng thóc có tăng nhanh nhưng nếu không có công nghiệp chế biến thì không
thể làm giàu. Kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu cho thấy, thu nhập của
vùng dân cư có các DN phát triển gấp 4 lần thu nhập của các vùng dân cư
thuần nông; thu nhập bình quân của lao động trong các DNVVN là 300.000đ -
400.000đ/tháng so với thu nhập của lao động nông thôn thuần nông là
100.000đ - 200.000đ/tháng. Do đó việc phát triển DNVVN là biện pháp chủ
yếu để tăng thu nhập, đa dạng hóa thu nhập của các tầng lớp dân cư có thu
nhập thấp ở các vùng trong nước.
- Làm cho nền kinh tế năng động hiệu quả hơn.
Với sự góp mặt của các DNVVN làm cho số lượng các DN trong nền
kinh tế tăng lên rất lớn, kéo theo sự tăng lên về chủng loại, mặt hàng, dịch vụ,
phương thức phục vụ, quá trình này làm tăng thêm mức độ cạnh tranh trong
nền kinh tế, người tiêu dùng được hưởng phần sản phẩm, dịch vụ với chất
lượng tốt hơn, giá cả rẻ hơn, phương thức phục vụ văn minh, tiện lợi hơn. Với
21
quy mô nhỏ, vốn ít, sự thích nghi nhanh, các DNVVN có nhiều khả năng thay
đổi mặt hàng, đổi mới công nghệ, làm cho nền kinh tế năng động hơn. Ngoài
ra các DNVVN còn có tác dụng hỗ trợ, làm chân rết cho các DN lớn kinh
doanh có hiệu quả thông qua các hoạt động như làm đại lý, vệ tinh, tiêu thụ
hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào, thâm nhập vào hết các ngóc ngách của
thương trường mà các DN lớn không với tới được.
- Thu hút vốn.
Vốn là yếu tố cơ bản của quá trình SXKD, nó có vai trò quan trọng
trong phát triển kinh tế của cả nước cũng như đối với từng DN. Nhưng thực tế

+ Cơ cấu ngành: Phát triển nhiều ngành, nghề đa dạng và phong phú
theo hướng lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo.
Thực tế qua 16 năm đổi mới, cơ cấu kinh tế ở nước ta thay đổi theo
hướng tiến bộ, tỷ trọng giá trị nông nghiệp giảm liên tục, còn tỷ trọng của
công nghiệp và dịch vụ tăng lên, trong đó có sự đóng góp của DNVVN.
+ Cơ cấu vùng, lãnh thổ: Các DN được phân bổ rộng khắp trên mọi
vùng lãnh thổ: cả vùng nông thôn, đô thị, miền núi, đồng bằng. Tuy nhiên,
hiện nay, các DNVVN vẫn chủ yếu tập trung ở thành thị. Đây là vấn đề cần
lưu tâm trong việc hoạch định chính sách.
- Góp phần đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tế một đội ngũ
doanh nhân mới trong kinh tế thị trường
Các DNVVN là nơi đào tạo, rèn luyện cho các nhà quản lý DN. Với
quy mô vừa và nhỏ là môi trường thuận lợi cho các nhà quản lý DN làm quen
với môi trường kinh doanh. Bắt đầu từ đây một số nhà quản lý DN đã trưởng
thành lên những nhà quản lý DN lớn, tài ba, biết đưa DN của mình nhanh
chóng phát triển. Đây là vấn đề rất quan trọng bởi ở Việt Nam trong nhiều
23
năm đội ngũ các nhà quản lý DN gắn liền với cơ chế bao cấp nên chưa có kinh
nghiệm với kinh tế thị trường.
Tóm lại, DNVVN có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh
tế đất nước và vai trò này ngày càng được tăng lên cùng với quá trình CNH,
HĐH, bởi DNVVN đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc
làm, huy động vốn trong nước, chuyển dịch cơ sở kinh tế, Do tầm quan
trọng của các DNVVN đang ngày càng tăng và tiềm năng của DNVVN trong
nền kinh tế, nên quyết định của Chính phủ về xây dựng chiến lược phát triển
cho các DNVVN, theo Công văn số 681/CP-KTH và Nghị định số
90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNVVN, rõ ràng là những quyết định
kịp thời.
1.2.3. Khái quát những vướng mắc và hạn chế của DNVVN
Bên cạnh những ưu thế vốn có của bản thân DNVVN, những thuận lợi

chi phí giao dịch cao, việc phải trả hoa hồng là phổ biến, những quy định khắt
khe về tài sản thế chấp,
- Đất đai.
Hiện nay, hầu hết các DNVVN đều thiếu đất đai làm mặt bằng
SXKD, để lập cơ sở mới hoặc mở rộng SXKD. Đó là do các quy định về
quyền sử dụng đất đai thường không rõ ràng, các quyền mua bán, thế chấp,
chuyển nhượng đất công nghiệp vẫn chưa được thừa nhận.
- Trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ.
Phần lớn công nghệ các DNVVN sử dụng đã trở nên lạc hậu. Do DN
thiếu vốn, do thiếu thông tin về thị trường công nghệ lại không được tiếp cận
đầy đủ với những dịch vụ tư vấn để có sự hỗ trợ, việc chuyển giao công nghệ
còn gặp nhiều khó khăn và tốn kém,
25

Trích đoạn Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quá trình lịch sử phát triển DNVVN tỉnh Quảng Ngãi Số lượng và phân bổ ngành nghề, địa bàn hoạt động Tiềm lực DNVVN ở tỉnh Quảng Ngãi Hiệu quả kinh doanh của các DNVVN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status