Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mở đầu
Trải qua hơn 10 năm thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và
Nhà nước, nền kinh tế ta đang chuyển mạnh mẽ từ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang cơ chế thị trường theo địch hướng xã hội chủ nghĩa và đã đạt
được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Bước vào giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế theo hướng công
ngiệp hóa và hiện đại hóa với những yêu cầu mới, vấn đề hỗ trợ nguời nghèo
và xoá đói giảm nghèo không chỉ là mối quan tâm của các nhà hoạch định
chính sách mà còn là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo ngân hàng…
Một thực tế cho thấy trong điều kiện hiện nay có rất nhiều dịch vụ tài
chính vi mô đã hoạt động có hiệu quả trong thời gian qua. Tuy vây, nhưng
những điều kiện cụ thể nhằm hỗ trợ người nghèo có thể tiếp cận được những
nguồn vốn ấy vẫn chưa thực sự như mong đợi. Nhiều người vẫn tìm đến
những khu vực tài chính phi chính thức để vay vốn, gây ra nhiều bất cập trong
thời điểm hiện nay
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, hoàn thiện dịch vụ tài chính vi mô của
quỹ CitiFoundation là một yêu cầu, một đòi hỏi của các nhà quản lý kinh tế,
chính phủ và các nhà lãnh đạo ngân hàng. Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài
“Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation”
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
1
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1. Tính cấp thiết của khóa luận:
Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc giảm nghèo đói
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
thiện nhất. Khóa luận thực tập này sẽ đứng trên giác độ của Citibank Việt
Nam xem xét các điều kiện để phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam trong
thời gian từ 5 đến 10 năm tới, những nhân tố quyết định đến sự phát triển tài
chính vi mô tại Việt Nam, và những khuyến nghị cũng như giải pháp cho
Citibank Việt Nam để phát triển dịch vụ tài chính vi mô tại Việt Nam trong
tương lai.
2. Cấu trúc khóa luận.
• Phần mở đầu của đề tài sẽ nói rõ sự cần thiết của đề tài, mục đích
nghiên cứu, đề tài có ảnh hưởng đến những đối tượng nào, giới hạn –
phương pháp nghiên cứu.
• Trong chương I sẽ giới thiệu về cơ sở nền tảng lý luận về các dịch vụ
tài chính vi mô của các NHTM. Người đọc sẽ được tiếp cận với những
kiến thức căn bản như: khái quát về NHTM, khái niệm dịch vụ tài
chính vi mô của NHTM và các chỉ số phân tích hiệu quả…
• Chương thứ II sẽ bàn về thực trạng của dịch vụ tài chính vi mô tại quỹ
CitiFoundation, các hạn chế và nguyên nhân.
• Chương thứ III dựa vào những cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương I
& chương II sẽ áp dựng để đưa ra những giả pháp và kiến nghị cho hoạt
động của quỹ CitiFoudation trong thời gian sắp tới.
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
3
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Chương I: Các vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ tài chính vi mô của
Ngân hàng thương mại
4
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Sơ đồ 1.1. Mô hình hoạt động của NHTM
(Nguồn : Commercial Bank Managerment, Peter S.Rose, NXB Tài chính
2001)
1.1.2. Khái quát quá trình phát triển hệ thống Ngân hàng thương mại ở
Việt Nam
1.1.2.1. Một số mốc lịch sử:
• Thành lập Ngân hàng quốc gia Việt Nam nay là Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam(Sắc lệnh số 15/SL ngày 06/05/1951). Bãi bỏ Ngân
khố quốc gia và Tín dụng sản xuất thuộc Bộ Tài chính. Chính thức
đánh dấu sự ra đời của ngành ngân hàng tại Việt Nam.
• Các NHTM quốc doanh lần lượt ra đời : Ngân hàng Ngoại Thương
thành lập năm 1962, Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam năm
1981, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và
phát triển Việt Nam năm 1990.
• Bước ngoặt lớn trong lịch sử ngành ngân hàng là việc chuyển từ
mô hình 1 cấp sang mô hình 2 cấp vào tháng 05/1990, tách riêng
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
5
Ngân hàng hiện đại
Chức năng
ủy thác
Chức năng
tín dụng
Chức năng
hoạt động của các tổ chức nhận tiền gửi; Thực hiện nghiệp vụ hỗ
trợ tổ chức nhận tiền gửi có nguy cơ mất khả năng chi trả; bảo vệ
quyền lợi người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi khi tổ chức
nhận tiền gửi bị giải thể, phá sản, Cho phép các tổ chức tín dụng
thành lập Công ty chứng khoán và tham gia niêm yết chứng
khoán.
• Năm 2001, Sửa đổi, bổ sung NĐ 63/1998 theo hướng nới lỏng các
giao dịch vãng lai, Ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động
của Quỹ tín dụng nhân dân.
• Năm 2002, tự do hóa lãi suất cho vay VND – bước cuối cùng tự
do hóa hoàn toàn lãi suất thị trường tín dụng ở cả đầu vào và đầu
ra.
• Ngày 01/04/2007, mở cửa lĩnh vực ngân hàng với việc cho phép
thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
6
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
•
1.1.2.2. Hệ thống tổ chức của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
Với chủ trương đa dạng hóa hình thức sở hữu trong lĩnh vực ngân
hàng, số lượng các ngân hàng ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng. Tính
đến cuối tháng 11/2007, cả nước có 6 NHTM quốc doanh, 35 NHTM cổ
phần, 33 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 5 ngân hàng liên doanh.
Sơ đồ 1.2. Số lượng các Ngân hàng ở Việt Nam
(Nguồn : Tổng hợp từ NHNN và báo cáo thường niên)
5
31
34
6
5
33
35
0
10
20
30
40
50
60
1994 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Số lượng Ngân hàng ở Việt Nam
Ngân hàng liên doanhNgân hàng thương mại cổ phầnChi nhánh Ngân hàng nước ngoài
Ngân hàng Thương mại Quốc Doanh
Agribank
Tổng tài sản một số Ngân hàng 2007-2008
233.900
166.945
105.000
22.507
lưới rộng khắp gồm hơn 2.600 chi nhánh trên cả nước, khối các NHTM quốc
doanh chiếm 60% về giá trị tổng tài sản, 68,67% thị trường huy động vốn
đầu vào và trên 63,49% thị trường tín dụng (tính đến cuối năm 2007).
NHTM cổ phần ngày càng mở rộng thị phần trong lĩnh vực ngân
hàng. Số lượng các NHTM cổ phần bùng nổ trong giai đoạn 1992-1997, đóng
góp rất lớn vào sự phát triển của ngành ngân hàng. Top các NHTM cổ phần
hoạt động hiệu quả phải kể đến ACB, Sacombank, Techcombank.
Lĩnh vực ngân hàng Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Số
lượng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh gia tăng
nhanh chóng sau năm 1992, đến nay đã có sự góp mặt của 33 chi nhánh ngân
hàng nước ngoài và 05 ngân hàng liên doanh. Hai loại hình ngân hàng này
đang dần gia tăng sự ảnh hưởng tới toàn ngành, năm 2007 tổng hoạt động cho
vay chiếm 9,3% toàn ngành.
1.1.3. Các hoạt động chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Một hoạt động khác biệt của các NHTM so với các loại hình doanh
nghiệp khác trong nền kinh tế là các NHTM tiến hành hoạt động nghiệp vụ
của mình không những chỉ bằng vốn riêng của mình mà chủ yếu bằng vốn
huy động. NHTM huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau: từ tiền gửi tiết
kiệm của dân cư, tiền gửi thanh toán của dân cư và các tổ chức kinh tế, tiền
gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế và tổ chức tín dụng trong đó tiền gửi tiết
kiệm là nguồn huy động vốn chủ lực của NHTM. Ngoài ra, các NHTM còn
phát hành các công cụ nợ khác để huy động vốn như chứng chỉ tiền gửi, kỳ
phiếu…
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
8
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
50%
60%
2004 2005 2006 2007 2008
Tăng huy động Bằng VND Bằng ngoai tệ
Huy động vốn từ nền kinh tế
0
200
400
600
800
1000
1200
2003 2004 2005 2006 2007 2008
Nghìn tỷ đồng
Bằng ngoại tệ Bằng VND Tiền huy động
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
• Cho vay thương mại: là hình thức cho vay trực tiếp đối với người
bán, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất
kinh doanh.
• Cho vay tiêu dùng dưới hình thức trả góp, thấu chi: Đây là hình
thức tín dụng đang rất phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu của người
dân như cho vay trả góp mua nhà, mua xe hoặc sửa chữa nhà
cửa…
• Cho vay tài trợ dự án: bên cạnh hoạt động tín dụng truyền thống,
các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho
các dự án.
• Cho thuê tài chính: rất nhiều ngân hàng đứng ra kinh doanh quyền
lựa chọn thuê các thiết bị và máy móc cần thiết thông qua hợp
vốn tín dụng NH trong những năm gần đây bao gồm đầu tư các dự án cơ sở
hạ tầng, đầu tư bất động sản mà đặc biệt là các dự án khu nhà ở mới, khu đô
thị mới, đầu tư vốn trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ, nuôi trồng thủy sản
…Bên cạnh đó, đối tượng đầu tư chứng khoán, vàng, tiêu dùng …cũng thu
hút một phần khối lượng rất lớn vốn tín dụng.
1.1.3.3. Các hoạt động khác
Trong những năm qua, kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước liên tục
tăng trưởng với tốc độ cao tạo thuận lợi cho hoạt động thanh toán quốc tế qua
hệ thống ngân hàng. Trong những năm 2005-2006, hoạt động thanh toán quốc
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
11
Tín dụng cung cấp cho nền kinh tế
0
200
400
600
800
1000
2003 2004 2005 2006 2007
2008 (*)
Nghìn tỷ đồng
Khu vực quốc doanh Khu vực ngoài quốc doanh
Tăng trưởng tín dụng
Tăng trưởng tín dụng 2004-2008
0%
10%
20%
30%
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
12
Tăng trưởng xuất nhập khẩu 2002-2006
0,0%
10,0%
20,0%
30,0%
40,0%
2002 2003 2004 2005 2006
Xuất khẩu Nhập khẩu
Tăng trưởng xuất khẩu 2002-2006
0
10.000
20.000
30.000
40.000
50.000
2002 2003 2004 2005 2006
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1.2. Dịch vụ tài chính vi mô của Ngân hàng thương mại
Dịch vụ tài chính vi mô của các NHTM và các tổ chức tài chính vi mô
(TCTCVM) đã ra đời từ khi có hoạt động tài chính. Các tổ chức này trong
thời kỳ đầu tiên thường thuộc khu vực phi chính thức như phường, hụi, họ,
người cho vay nặng lãi. Đầu những năm 50, các chiến lược phát triển của các
một phương pháp mang tính lâu dài hơn các phương pháp tạo thu nhập không
bền vững cho mục đích phát triển cộng đồng.
Kể từ những năm 80 đến nay, nhiều dịch vụ tài chinh vi mô của một số
NHTM đã phát triển một cách bền vững hơn. Các nhà tài trợ tích cực ủng hộ
và khuyến khích các hoạt động tài chính vi mô quy mô nhỏ, tập trung nguồn
lực tài chính cũng như các hỗ trợ kỹ thuật cho các tổ chức tài chính vi mô đã
đạt được sự tiếp cận và mức tài chính bền vững.
Đến những năm 90, các hoạt động của các NHTM và bên cạnh các tổ chức
tài chính vi mô được mở rộng, không chỉ bao gồm hoạt động cung cấp tín
dụng. Tiết kiệm, bảo hiểm và chuyển tiền đã được nhiều tổ chức tài chính
cung cấp cho dân chúng và các doanh nghiệp nông thôn. Tuy vậy, hoạt động
chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanh số và tần suất sử dụng vẫn là hoạt động tín
dụng.
Thế kỷ 20 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ tài chính vi
mô. Liên hiệp quốc đã chọn năm 2005 là “Năm quốc tế về tài chính vi mô”,
đánh dấu một bước tiến vượt bậc của tài chính vi mô nói riêng, tài chính nông
thôn nói chung từ những thử nghiệm trong thập kỷ 70 tới một trào lưu mang
tính toàn cầu. Hoạt động của các TCTCVM không chỉ lôi cuốn sự chú ý của
các nhà tài chính, các nhà phát triển mà còn tạo sự quan tâm lớn đối với các
nhà báo, chuyên gia nghiên cứu, các nhà làm luật và công chúng nói chung
trên toàn thế giới.
1.2.1. Khái niệm dịch vụ tài chính vi mô của các Ngân hàng thương mại
Tài chính vi mô là tài chính qui mô nhỏ quy mô nhỏ (tài chính vi mô),
nhưng do đặc thù khu vực nông thôn với tỷ lệ hộ nghèo cao, mức sống nhìn
chung thấp hơn nhiều so với thành thị, tài chính vi mô thường được gắn liền
với tài chính nông thôn. Về hoạt động, tài chính nông thôn trước kia thường
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
14
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
15
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
trong hoạt động tài chính tại khu vực nông thôn và thành thị tạo ra những đặc
trưng cho các TCTCVM như sau.
Thứ nhất, chi phí giao dịch trong khu vực nông thôn cao hơn đối với
TCTCVM và khách hàng. Khu vực nông thôn thường có mật độ dân số phân
tán, cơ sở hạ tầng cứng (đường sá, dịch vụ viễn thông) và cơ sở hạ tầng mềm
(giáo dục, y tế) có chất lượng thấp. Doanh nghiệp và dân chúng nông thôn có
khả năng tiếp cận tới thông tin, dịch vụ giáo dục và đào tạo kinh doanh kém
hơn khu vực thành thị. Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát
triển hoạt động của các TCTCVM. Để phát triển hoạt động, các TCTCVM
phải giải quyết được vấn đề giảm chi phí giao dịch đối với khách hàng.
Thứ hai, TCTCVM muốn hoạt động thành công phải vận dụng linh hoạt
cả cơ sở pháp lý chính thức và phi chính thức. Việc áp dụng theo luật lệ chính
thức trong khu vực nông thôn thường mất nhiều chi phí và thời gian hơn khu
vực đô thị. Các hình thức bảo đảm truyền thống như nhà cửa, đất đai cũng
kém hiệu lực hơn. Tại nhiều khu vực nông thôn, dân chúng hầu như không có
tài sản gì có thể thế chấp được trừ đất đai đã được cấp sổ hoặc các doanh
nghiệp đã đăng ký kinh doanh. Thực tế, các hương ước, lề lối phi chính thức
có hiệu lực hơn nhiều tại khu vực nông thôn, mặc dù các “luật lệ” phi chính
thức này rất đa dạng và thậm chí khác nhau ngay trong một vùng.
Thứ ba, các TCTCVM phải đối mặt với rủi ro cao. Thị trường tài chính và
hàng hóa trong khu vực nông thôn thường bị chia cắt, vì vậy giá cả thường bị
biến động mạnh nếu có sự thay đổi nhỏ về cung và cầu. Thu nhập của dân cư
nông thôn chủ yếu từ nông nghiệp, các nguồn thu nhập phi nông nghiệp như
khu vực chính thức, (ii) khu vực bán chính thức và (iii) khu vực không chính
thức.
(i) Khu vực chính thức:
Khu vực chính thức bao gồm 4 tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài
chính vi mô bao gồm: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
(AGRIBANK), Ngân hàng cho người nghèo, Các quỹ tín dụng nhân dân, và
các ngân hàng thương mại.
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
17
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
• Ngân hàng AGRIBANK
Thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các TCTD Việt Nam,
AGRIBANK hiện là Ngân hàng thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và
chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn Việt Nam. Hiện nay, AGRIBANK
là ngân hàng lớn nhất Việt Nam tính theo cả tài sản, mạng lưới hoạt động, và
số lượng khách hàng. Đến tháng 12/2007, tổng tài sản AGRIBANK đạt hơn
295.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu gần 16.000 tỷ đồng; tổng dư nợ đạt trên
242.000 tỷ đồng, với hơn 2200 chi nhánh và điểm giao dịch được bố trí rộng
hắp trên toàn quốc và hơn 30.000 cán bộ nhân viên. AGRIBANK luôn chú
trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho
công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên
tiến.
AGRIBANK cũng là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam trong việc tiếp
nhận và triển khai các dự án nước ngoài, đặc biệt là các dự án lớn của WB,
ADB, AFD. Các dự án nước ngoài đã tiếp nhận và triển khai đến cuối tháng
12/2007 là 103 dự án với tổng số vốn trên 3,6 tỷ USD, số vốn qua
triển một mạng lưới gồm 500-700 chi nhánh trên khắp 64 tỉnh thành trong vài
năm tới.
• Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND)
Sau sự sụp đổ của các hợp tác xã tín dụng nông nghiệp đầu những năm
90, các ngân hàng thương mại không thể lấp chỗ trống trong khu vực tài
chính nông thôn và cần có một hệ thống TCNT để bù vào chỗ trống này. Một
trong những mục tiêu quan trọng nhất là nhu cầu phục hồi lòng tin của dân
chúng với hệ thống tài chính nông thôn chính thức.Vì vậy, từ ‘‘hợp tác xã’’
đã được đưa ra khỏi tên của tổ chức tài chính mới thiết lập này và gọi là Quỹ
Tín dụng nhân dân. Đây thực chất là các hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm cộng
đồng theo mô hình Caisse Populaire ở Quebec, Canada.
Quá trình phát triển QTDND chia thành hai giai đoạn, giai đoạn 1 triển
khai thí điểm thành lập từ 8/1993-8/2000, thời gian đầu có 14 tỉnh thành tham
gia với 179 QTDNDN và 46045 thành viên (trung bình 257 thành viên/quỹ),
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
19
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
sau đó dựa trên kinh nghiệm phát triển của các QTDNDN hiện có đã phát
triển ra 53 tỉnh thành với tổng số 959 QTDND cơ sở (2 QTDND đô thị và 957
QTDND nông thôn).
Từ 2000 đến nay, hệ thống QTDND đang thực hiện chấn chỉnh tổ chức và
hoạt động, tiếp tục phát triển các QTDND mới ở những nơi có đủ điều kiện
một cách an toàn, thận trọng. Hiện tại, hệ thống QTDND có 955 QTDND cơ
sở và một QTDND trung ương. QTDND là loại hình tổ chức tín dụng hợp tác
hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động,
thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy
phường ở Việt Nam trong 36 tỉnh (57% số tỉnh trên toàn quốc). Hiện tại có
hai TCTCVM NGO lớn là quỹ tình thương TYM do Hội LHPN Việt Nam và
quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm CEP do Liên đoàn lao động
Thành phố HCM thành lập năm 1992 đang dẫn đầu về quy mô và thành tích
hoạt động. Mặc dù mới chỉ có một tỷ lệ nhỏ các hộ gia đình được tiếp cận với
nguồn vốn tín dụng này (351.298 khách hàng, tức chưa tới 6% hộ gia đình),
nhưng các chương trình đã thành công trong việc tiếp cận với khu vực người
nghèo nhất có hoàn cảnh thiệt thòi nhất, những người không thể tiếp cận với
các dịch vụ của NHCSXH và các chương trình dành cho người nghèo khác
được nhà nước hỗ trợ.
Các đối tượng chính của các TCTCVM NGOs là hộ nghèo, hộ dân tộc
thiểu số, sinh sống ở vùng sâu vùng xa chưa có điều kiện tiếp cận với các
TCTCVM chính thức. Các TCTCVM NGOs này cũng rất chú ý đến việc tiếp
cận với phụ nữ trong nhóm các đối tượng này. Các TCTCVM cùng hoạt động
trên thị trường TCVM, song có sự khác biệt nhất định về thị trường tập trung.
hoạt động của các TCTCVM đó.
(iii) Khu vực không chính thức:
Tại Việt Nam, các nguồn tài trợ không chính thức bao gồm từ gia đình,
bạn bè, từ các nguồn cho vay không chính thức và các quỹ tín dung nông thôn
truyền thống. Đặc điểm của hình thức tín dụng này là lãi suất thường rất cao
hơn nhiều so với khu vực chính thức và bán chính thức, và lãi suất thường là
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
21
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
do 2 bên thỏa thuận. Rủi ro cho cả người cho vay và người đi vay cũng cao.
Không được pháp luật bảo vệ.
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
lớn, mức độ tăng trưởng qua các năm hoặc một thời kỳ càng tăng chứng tỏ
dịch vụ của NHTM đa dạng. Tương tự, nếu số lượng khách hàng tăng cả về
con số tuyệt đối và tương đối (mức độ tăng trưởng), NHTM đó đã đạt được
mức tiếp cận rộng hơn đối với khách hàng. Các giá trị tăng trưởng tuyệt đối
và tương đối của dư nợ tín dụng và tiết kiệm cũng cho kết luận tương tự về độ
rộng trong tiếp cận của NHTM.
b. Độ sâu của tiếp cận
Đây là khái niệm dùng để đo lường khả năng các khách hàng khác nhau có
thể tiếp cận dịch vụ của NHTM tới mức nào; cũng như giá trị ròng mà khách
hàng nhận được. Tuy vậy, các chỉ tiêu đo lường độ sâu của tiếp cận trực tiếp
thông qua sự thay đổi ròng của giá trị thu nhập và tài sản khách hàng sau khi
tiếp cận được với dịch vụ tín dụng rất khó xác định. Do khách hàng của
NHTM có những đặc trưng cơ bản, mức độ tiếp cận đến các nhóm khách
hàng thu nhập thấp rất quan trọng. Vì vậy, các chỉ tiêu gián tiếp đơn giản hơn
được sử dụng để đo lường độ sâu của tiếp cận tới các nhóm khách hàng mục
tiêu của các NHTM bao gồm:
- Mức vay trung bình: mức vay trung bình thấp nghĩa là nhiều khách hàng có
thu nhập thấp đã được vay tại NHTM, vì đối với các khách hàng này nhu cầu
vay vốn thường có giá trị thấp. Quy mô món vay trung bình/GDP bình quân
đầu người được coi như một chỉ tiêu dùng để so sánh độ sâu của tiếp cận đến
các khách hàng của một NHTM trên tầm quốc tế.
Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ mức độ tiếp cận của NHTM càng sâu. Đây là
chỉ số được ưa thích vì tính toán đơn giản và có thể sử dụng để so sánh xuyên
quốc gia. Theo chuẩn quốc tế, tỷ lệ này dưới 20%, TCTCNT đã phục vụ tầng
lớp khách hàng nghèo (tầng đáy). Nếu trong khoảng từ 20-150%, NHTM đã
phục vụ các khách hàng trung bình và có mức tiếp cận rộng, và NHTM chỉ
tập trung vào các khách hàng giầu có nếu tỷ lệ này lớn hơn 150%.
Nguyễn Thanh Phúc
OSS = Thu nhập hoạt động / Tổng chi phí hoạt động
NHTM được coi là đảm bảo bền vững về hoạt động nếu OSS>100%,
tuy nhiên thông lệ quốc tế cho thấy, để đạt độ bền vững hoạt động lâu dài thì
Nguyễn Thanh Phúc
Tài chính doanh nghiệp 47A
Ngân hàng – Tài chính
24
Khóa luận tốt nghiệp
Giải pháp phát triển dịch vụ tài chính vi mô của quỹ CitiFoundation
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
OSS nên lớn hơn 120%.
b. Tự bền vững về tài chính (FSS)
Tỷ số tự bền vững về tài chính (FSS) cũng đo lường xem mức độ thu nhập
trang trải các chi phí hoạt động của một NHTM có điều chỉnh theo lạm phát
và loại bỏ tác động của trợ cấp. Các điều chỉnh này nhằm làm rõ tình hình tài
chính của một NHTM sẽ như thế nào nếu không có các khoản trợ cấp, khi vốn
được huy động trên thị trường thương mại, thay vì từ nguồn viện trợ hoặc tài
trợ ưu đãi của các nhà tài trợ, và khi tính tới chi phí từ lạm phát. FSS được
tính bằng công thức sau:
FSS = Thu nhập hoạt động được điều chỉnh / Tổng chi phí hoạt động
được điều chỉnh
Tương tự như OSS, dịch vụ tài chính vi mô được coi là tự bền vững về tài
chính nếu FSS>100%.
c. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) hay lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu (ROE)
Hai nhóm chỉ tiêu này đo lường mức độ sinh lời trên tổng tài sản hoặc vốn
chủ sở hữu. Các tỷ lệ này càng cao, chứng tỏ khả năng sinh lời của NHTM
trên một đồng giá trị tài sản hay vốn chủ sở hữu càng lớn. Tuy vậy, nếu tỷ lệ
này lớn quá, NHTM có thể đang gặp rủi ro khi đầu tư vào các danh mục mạo
hiểm có rủi ro cao. ROE và ROA thường được sử dụng chung để đánh giá