xóa đói, giảm nghèo ở các huyện biên giới tỉnh lào cai trong giai đoạn hiện nay - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu
lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự
phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc, từng địa phơng. Mặc dù
thế giới đã đa ra một mức đói nghèo chung tơng đối chuẩn(đói có thu nhập dới
1 USD/ngời/ngày, nghèo dới 2 USD/ngời/ngày), và chuẩn đó cũng sẽ thay đổi
theo tiến trình phát triển kinh tế toàn cầu. Song mức độ và tiêu chí đánh giá về
đói nghèo ở mỗi quốc gia, khu vực, vùng miền vẫn có sự khác biệt.
Chúng ta biết rằng, đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần,
mà còn là vấn đề chính trị, xã hội và là một trong những nội dung cơ bản
trong phát triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phơng, mỗi quốc gia và trên toàn
thế giới. Giải quyết tình trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa
cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách, nhằm bảo đảm phát triển kinh tế và
tiến bộ, công bằng xã hội. Vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nớc ta
có rất nhiều chủ trơng về xóa đói, giảm nghèo (XĐGN). Tại Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X, một lần nữa Đảng ta khẳng định: "Nhà nớc tập trung đầu
t xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất,
nâng cao kiến thức để ngời nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vơn lên thoát
nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững" [ 22, tr.217].
Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế nớc ta từng bớc khởi sắc và đạt đợc
nhiều thành tựu to lớn, đời sống nhân dân đã đợc cải thiện và nâng cao một b-
ớc rõ rệt. Tuy nhiên, cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, bên cạnh một
bộ phận dân c giàu lên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói,
nghèo với khoảng cách ngày càng xa. Tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam còn rất cao,
theo chuẩn nghèo mới đợc Chính Phủ ban hành trong Quyết định số
170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005, cả nớc có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo,
chiếm 22% số hộ toàn quốc. Vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc
(42%), Tây nguyên (38%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (9%) [7, tr.29].
Đây là vấn đề thách thức đối với sự phát triển và trở thành mối quan tâm
chung của toàn xã hội.

công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề xóa đói,
giảm nghèo đợc công bố, cụ thể là các công trình sau:
- PTS.Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Hân, Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều
kiện kinh tế thị trờng, Nxb Chính trị quốc gia, 1996. Cuốn sách này nêu lên các
quan niệm về phân hóa giàu nghèo và tình trạng đói nghèo ở nớc ta và trên thế
giới; đánh giá thực trạng đời sống, các khó khăn và yêu cầu của phụ nữ nghèo
nông thôn; đa ra các khuyến nghị khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định chính
sách xóa đói, giảm nghèo, giúp phụ nữ nghèo nông thôn vơn lên.
2
- Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn nớc ta
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, 1997. Cuốn sách đã đánh giá khá đầy đủ về
thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và biện pháp xóa đói giảm nghèo ở nông
thôn nớc ta đến năm 2000.
- PGS.TSKH Lê Du Phong - PTS. Hoàng Văn Hoa (đồng chủ biên),
Kinh tế thị trờng và sự phân hóa giàu - nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía
Bắc nớc ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Các tác giả đã
đánh giá những thành tựu về kinh tế - xã hội qua hơn 10 năm đổi mới và tiềm
năng ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc nớc ta.
- Trần Thị Hằng, Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trờng ở Việt
Nam hiện nay, luận án tiến sỹ kinh tế, Học Viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2000
- TS. Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả), Nghèo đói và xóa đói, giảm
nghèo ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, 2001. Các tác giả đã phản ánh tổng
quan về nghèo đói trên thế giới; đa ra các phơng pháp đánh giá về nghèo đói
hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam và nghiên cứu thực tiễn về nghèo đói ở tỉnh
Quảng Bình; qua đó đa ra một số quan điểm, giải pháp chung về xóa đói giảm
nghèo ở Việt Nam.
- Vũ Minh Cờng, Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa
đói, giảm nghèo ở tỉnh Hà Giang, Luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xóa
đói, giảm nghèo.
- Phân tích thực trạng nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói, đánh giá
những kết quả và hạn chế trong công tác xóa đói, giảm nghèo ở các huyện
biên giới Lào Cai những năm qua.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh việc thực hiện xóa đói,
giảm nghèo ở các huyện biên giới tỉnh Lào Cai.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu:
Với mục đích của luận văn, tác giả quan tâm nghiên cứu xóa đói, giảm
nghèo tỉnh Lào Cai nói chung và đặc biệt chú trọng phân tích, đánh giá đặc điểm
kinh tế- xã hội và tình hình đói nghèo ở các huyện biên giới tỉnh Lào Cai.
- Giới hạn nghiên cứu:
Đánh giá, phân tích thực trạng nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo từ
năm 2001 đến năm 2005. Nêu ra mục tiêu, giải pháp xóa đói, giảm nghèo đến
năm 2010 sao cho phù hợp với chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Lào Cai và cả nớc.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
4
- Để xem xét vấn đề nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo một cách
khách quan, sát thực tiễn, luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phơng pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm đờng lối, chính sách của
Đảng và Nhà nớc ta.
- Ngoài ra, luận văn sử dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu nh điều tra,
khảo sát, phỏng vấn, so sánh, phân tích, tổng kết, kết hợp giữa nguyên lý của
kinh tế học với khảo sát đánh giá thực tiễn, kế thừa những kết quả nghiên cứu
từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan để giải quyết nhiệm vụ của
luận văn.
6. Những đóng góp và ý nghĩa của luận văn

Chúng ta thờng thấy nhiều khái niệm về nghèo nh: nghèo đói, nghèo
khổ, giàu nghèo, phân hóa giàu nghèo hay khoảng cách giàu nghèo, những
khái niệm này đợc các học giả, các nhà khoa học định nghĩa dới nhiều góc độ,
khía cạnh khác nhau nh nghèo về vật chất, nghèo về tri thức, nghèo về văn
hóa Mặt khác, bên cạnh khái niệm nghèo, còn sử dụng khái niệm đói để
phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân c. Chính vì vậy, hiện nay
chúng ta thờng thấy khái niệm kép đói nghèo hoặc nghèo đói.
Đói nghèo là một hiện tợng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là
một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay,
nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đa ra nhiều khái niệm khác
nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả đợc nêu ra tại Hội nghị bàn về
XĐGN ở khu vực Châu á Thái Bình Dơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc
(Thái Lan) tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng:
"Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không đợc hởng và thỏa mãn những
nhu cầu cơ bản của con ngời đã đợc xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển
kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phơng" [63, tr.9]. Đây là
6
khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, đợc nhiều nớc trên thế giới nhất trí sử
dụng, trong đó có Việt Nam.
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, ngời ta chia nghèo thành hai loại:
Nghèo tuyệt đối và nghèo tơng đối.
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân c không đợc hởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn,
mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục )
Nghèo tơng đối: Là tình trạng một bộ phận dân c có mức sống dới mức
trung bình của cộng đồng tại địa phơng, ở một thời kỳ nhất định.
Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ
yếu của ngời nghèo là: Không đợc thụ hởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối
thiểu dành cho con ngời; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ
hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.

Nh vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phơng diện nh:
thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu
dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thơng trớc những đột biến, ít đợc tham
gia vào quá trình ra quyết định Qua nghiên cứu. chúng ta nhận thấy đói
nghèo có nguồn gốc căn nguyên từ kinh tế; nhng với t cách là hiện tợng tồn tại
phổ biến ở các quốc gia trong tiến trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện
tợng kinh tế - xã hội phức tạp, chứ không thuần túy chỉ là vấn đề kinh tế cho
dù các tiêu chí đánh giá của nó trớc hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về
kinh tế. Vì vậy, khi nghiên cứu những tác động ảnh hởng đến thực trạng, xu h-
ớng, cách thức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động
của nhân tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng có nh vậy mới đề ra
đợc các giải pháp đồng bộ cho công tác XĐGN ở nớc ta, đặc biệt là ở vùng
miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc ít ngời.
1.1.2 Tiêu chí xác định chuẩn đói nghèo
Để đánh giá đợc mức độ đói nghèo, cần phải đa ra các tiêu chí xác
định mức độ đói nghèo. Tuy nhiên, những tiêu chí xác định không cố định mà
luôn có sự biến động và khác nhau không những giữa các nớc mà ngay trong
cùng một nớc, và cũng khác nhau qua những giai đoạn lịch sử.
Ngân hàng thế giới (WB) đa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu
nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo
đầu ngời trong một năm và mức kcalo tối thiểu cần thiết cho một ngời sống
trong ngày với hai cách tính:
- Phơng pháp Atlas là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD. Theo
phơng pháp này, ngời ta chia thành 6 loại nớc (lấy mức thu nhập bình quân
năm 1990):
8
Trên 25.000USD/ngời/năm : nớc cực giàu
Từ 20.000USD đến dới 25.000.USD / ngời/năm: nớc giàu
Từ 10.000 đến dới 20.000USD /ngời/năm : nớc khá giàu
Từ 2.500 đến dới 10.000USD /ngời/năm : nớc trung bình

9
- Tỷ lệ ngời lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục;
- Thu nhập bình quân đầu ngời theo sức mua tơng đơng (PPP)
HDI đợc tính bằng công thức sau:
3
III
HDI
NEA
++
=

Trong đó: IA: Chỉ số đo tuổi thọ;
IE: Chỉ số đo tri thức;
IIN: Chỉ số đo mức sống [43, tr.134].
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, tuy đã đạt đợc nhiều thành tựu
trong công cuộc đổi mới và có bớc phát triển quan trọng, nhng Việt Nam vẫn
là nớc nghèo, nằm trong nhóm các quốc gia nghèo nhất thế giới. Theo kết quả
phân loại các nền kinh tế theo khu vực và theo thu nhập (bằng phơng pháp
Atlas) của WB năm 2001, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các quốc gia thu nhập
thấp, GDP bình quân đầu ngời từ 755USD trở xuống. Mặc dù GDP bình quân
đầu ngời của nớc ta còn rất thấp, nhng thứ hạng HDI lại cao hơn thứ hạng
GDP nhiều. Điều đó chứng tỏ đời sống của nhân dân đợc cải thiện nhanh hơn
mức tăng trởng GDP và tình trạng nghèo đói cũng đã giảm.
Có thể nhận thấy, trên thế giới có nhiều tiêu chí xác định chuẩn nghèo
đói, nhng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu nên lựa chọn chuẩn nào cho phù
hợp với yêu cầu.
Trong những năm qua, tại Việt Nam 2 loại tiêu chí đợc sử dụng để xác
định chuẩn nghèo. Một là, chuẩn nghèo do Bộ Lao động- Thơng binh và Xã
hội (LĐ- TB&XH) đa ra để áp dụng trong công tác XĐGN, theo tiêu chí thu
nhập bình quân đầu ngời; Hai là, chuẩn nghèo do Tổng cục thống kê (TCTK)

- Hộ nghèo khu vực thành thị có mức thu nhập dới 25kg gạo, tơng ứng
với 90.000đ/ngời/tháng.
Theo tiêu chí này, đến hết năm 1997 cả nớc còn khoảng 2,65 triệu hộ
nghèo đói, chiếm tỷ lệ 17,7%; trong đó có 300.000 hộ thờng xuyên đói, 1.498
xã có tỷ lệ nghèo đói từ 40% trở lên. Đến cuối năm 2000 tình trạng đói cơ bản
đợc giải quyết.
Giai đoạn 2001-2005: Theo Quyết định 1143/QĐ.LĐ- TB&XH ngày
1/11/2000 thì chuẩn hộ nghèo đợc điều chỉnh theo chuẩn mức thu nhập bình
quân 1 đầu ngời trong hộ cho từng vùng nh sau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000đ/tháng;
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/tháng;
- Vùng thành thị: 150.000đ/tháng.
áp dụng chuẩn mới tỷ lệ hộ nghèo tăng lên, cuối năm 2001 có 14,5%
hộ nghèo, nhng với nhiều chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc đợc đề
ra kịp thời cùng với sự nỗ lực của toàn dân, đến cuối năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo
chỉ còn 7%.
11
Giai đoạn 2006-2010: Theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày
8/7/2005 của Thủ tớng Chính phủ, chuẩn nghèo giai đoạn này đợc nâng lên
cho phù hợp với mức sống đã đợc nâng lên của nhân dân, số hộ nghèo theo
tiêu chí cũ đã giảm đáng kể, đồng thời đa ra chuẩn đói nghèo mới để gần với
chuẩn đói nghèo của quốc tế.
- Vùng nông thôn: 200.000đ/ngời/tháng;
- Vùng thành thị: 260.000/ngời/tháng;
Với chuẩn nghèo này, cả nớc còn 22% hộ nghèo, tập trung chủ yếu ở
các tỉnh miền núi, biên giới, Tây Nguyên.
Phơng pháp xác định đờng đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục
Thống kê và WB đa ra, đã đợc thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống
dân c ở Việt Nam (các năm 1992-1993 và 1997-1998). Đờng đói nghèo ở mức
thấp gọi là đờng đói nghèo về lơng thực thực phẩm (thờng tính bằng rổ hàng

Phụ nữ và trẻ em phải làm việc đến kiệt sức trong các xởng thợ; nông dân bị c-
ỡng đoạt ruộng đất, mất hết t liệu sản xuất Họ trở thành nạn nhân của tình
trạng bị bóc lột giá trị thặng d tơng đối và giá trị thặng d tuyệt đối của các chủ
t bản trong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời kỳ cạnh tranh tự do của
CNTB. Cũng theo Mác và Ăngghen, nguồn gốc trực tiếp dẫn đến tình trạng
nghèo đói ở đây là phơng thức phân phối giá trị thặng d trong xã hội một cách
bất công giữa nhà t bản và ngời lao động, hai ông cũng chỉ ra rằng chỉ có xóa
bỏ chế độ t hữu, bóc lột mới có thể giải phóng giai cấp vô sản và quần chúng
lao động khỏi cảnh nghèo đói lầm than, làm cho họ trở thành ngời lao động t do và
làm chủ, tiến tới một xã hội công bằng, văn minh.
Tiếp tục những nghiên cứu phân tích về CNTB của Mác và Ăng ghen,
VI. Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gay gắt trong thời kỳ
CNTB độc quyền, lũng đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; qua đó ông nhận
thấy nghèo khổ không chỉ trong các nớc t bản mà còn ở trong các nớc thuộc
địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức. Lênin cho rằng muốn giải phóng toàn bộ
giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi ách thống trị của CNTB phải tiến
hành cách mạng vô sản do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Sau Cách
mạng Tháng mời Nga năm 1917, trong bớc chuyển từ "chính sách cộng sản
thời chiến" sang "chính sách kinh tế mới" Lênin là ngời chủ trơng phát triển
kinh tế hàng hóa, dùng lợi ích vật chất, coi đó nh một nhân tố đòn bẩy kinh tế,
để khuyến khích ngời lao động, giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế.
Trong quá trình đi tìm đờng cứu nớc, cứu dân, Hồ Chí Minh đã tiếp
thu đợc những tinh hoa của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào
điều kiện của nớc ta. Ngời chủ trơng làm cách mạng để giành độc lập tự do
cho tổ quốc; để "đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học
hành" [33, tr.161]. Ngay từ khi nớc ta mới giành đợc độc lập (1945), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã quan tâm ngay đến nhiệm vụ chống đói nghèo. Ngời coi đói
và dốt cũng là giặc, thứ giặc này nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm, giành
13
đợc độc lập rồi mà nhân dân vẫn sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu thì độc

về XĐGN của Hồ Chí Minh, vừa hợp với lòng dân.
1.2.1.2. Quan điểm, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta về xóa đói
giảm nghèo
14
Từ khi hòa bình đợc lập lại ở miền Bắc(1954) và đất nớc hoàn toàn
thống nhất (1975), Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều quyết sách để xóa dần
nghèo đói nh: Cải cách ruộng đất; xây dựng các công trình thủy lợi; miền
giảm thuế Làm cho dân bớt nghèo, vơn lên giàu không phải là chính sách
nhất thời có tính chất đối phó, mà là chủ trơng chiến lợc, là mục tiêu hoạt
động của Đảng và Nhà nớc ta. Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI đến nay, đất nớc ta bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện: Xóa bỏ cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, sau này là kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Việc giải phóng
sức sản xuất, phát triển kinh tế làm cho thu nhập, đời sống của đại đa số nhân
dân từng bớc đợc cải thiện. Nhng do điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, lại
chịu hậu quả to lớn của thiên tai và chiến tranh, kèm theo tác động mạnh mẽ
của cơ chế thị trờng, nên sự phân hóa thu nhập, đời sống giữa nông thôn,
thành thị, giữa các vùng ngày càng tăng nhanh. Trong quá trình đổi mới, hội
nhập và phát triển, bộ phận dân nghèo kể cả những gia đình có công với cách
mạng, chịu nhiều thua thiệt. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu,
nghèo và trợ giúp ngời nghèo đã trở thành nhu cầu bức thiết, và là một trong
những biểu hiện bản chất XHCN. Lúc đầu phong trào XĐGN là sáng kiến của
thành phố Hồ Chí Minh, sau đó lan tỏa ra nhiều địa phơng khác và trở thành
phong trào XĐGN sôi động trong cả nớc. Từ thực tiễn phong trào XĐGN,
Nghị quyết TW5 khóa VII đã nêu lên một nhiệm vụ có ý nghĩa kinh tế - chính
trị, xã hội to lớn: "Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xóa đói giảm nghèo, nhất là
ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trớc đây là căn cứ
cách mạng". Thực hiện chủ trơng của Đảng và Chính phủ, phong trào XĐGN
đã trở thành cuộc vận động lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ
đói nghèo, giúp cho các hộ còn nghèo, đói giảm bớt khó khăn. Đại hội đại

kinh tế để thực hiện quá trình XĐGN. Việt Nam là một nớc đang phát triển ở
trình độ thấp, nguồn lực của Nhà nớc, của cộng đồng còn rất hạn chế và bản
thân ngời nghèo còn hết sức khó khăn. Trong những năm thực hiện đờng lối
đổi mới, kinh tế ngày một tăng trởng, bớc đầu tạo công ăn việc làm, nguồn
vốn và cơ hội vơn lên cho ngời nghèo. Trong 20 năm đổi mới, nền kinh tế nớc
ta có nhiều bớc phát triển vợt bậc. Từ năm 1991đến năm 1995 bình quân hàng
năm tốc độ tăng trởng theo GDP là 8,3%, năm 2001-2005 bình quân là 7,5%,
tuy có giảm sút so với giai đoạn trớc nhng vẫn cao hơn nhiều nớc trong khu
vực. Nhờ kinh tế tăng trởng, thu ngân sách tăng nên Nhà nớc có điều kiện đầu
t nhiều hơn cho các chơng trình xã hội và XĐGN. Nh vậy, đối với nớc ta giữa
tăng trởng kinh tế, phát triển xã hội và XĐGN có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Tăng trởng kinh tế là điều kiện vật chất, là nội lực để XĐGN, XĐGN là
mục tiêu, động lực phát triển kinh tế xã hội, là tiền đề cơ bản đảm bảo cho sự
16
ổn định chính trị - xã hội để phát triển kinh tế. Do đó giải pháp cơ bản là phải
làm cho chơng trình XĐGN trở thành một bộ phận cơ bản cho chiến lợc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nớc, gắn liền với tăng trởng bền vững và hạn chế
tác động của thiên tai.
Quan điểm thứ hai: Xóa đói, giảm nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội sâu
rộng cho nên mọi lúc, mọi nơi đều phải thống nhất chính sách kinh tế với
chính sách xã hội.
Đói nghèo do nền kinh tế thấp kém, và bởi trình độ lạc hậu về mọi mặt.
Những yếu tố đó tác động lẫn nhau và hậu quả là đói nghèo tăng, dẫn đến
những hộ, xã, huyện nghèo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mặc dù
phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, Chính phủ Việt Nam đứng đầu là Chủ
Tịch Hồ Chí Minh đã từng chủ trơng phải chống "giặc dốt, giặc đói". Chủ tr-
ơng này mang lại kết quả góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong
giai đoạn hiện nay, nớc ta cố gắng thực hiện chủ trơng nhất quán kết hợp giữa
tăng trởng kinh tế với giải quyết các vẫn đề xã hội. Nghèo đói theo cách xem
xét biện chứng là vấn đề xã hội, nghèo đói và mất ổn định xã hội thờng có

thúc đẩy họ vơn lên XĐGN.
Trong cơ chế thị trờng, dù muốn hay không tình trạng có bộ phận dân c
giàu lên và một bộ phận dân c khác nghèo đói, có vùng giàu có và vùng nghèo
đói vẫn diễn ra. Vấn đề đặt ra là kiên trì chủ trơng XĐGN bằng các chính sách
kinh tế - xã hội phù hợp để luôn có khoảng cách giàu nghèo hợp lý, số hộ
nghèo đói ngày càng giảm, số hộ giàu tăng lên.
Quan điểm thứ t: Xóa đói, giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế bằng
chủ động, tự lực vơn lên của ngời nghèo, cộng đồng, các ngành, các cấp và
Nhà nớc cùng sự tranh thủ giúp đỡ của bạn bè quốc tế.
Quan niệm này thể hiện XĐGN phải bằng sức mạnh tổng hợp, sức
sáng tạo và nguồn lực của ngời nghèo, của cộng động, của Nhà nớc và toàn xã
hội. Trớc hết làm cho ngời nghèo, vùng nghèo không ỷ lại thụ động, chờ cứu
giúp mà phải tự cứu mình, vơn lên bằng chính sức lao động của mình; khai
thác đất đai, tài nguyên thiên nhiên và đổi mới cung cách làm ăn, đồng thời
nhờ sự hỗ trợ của cộng đồng và Nhà nớc. Trên thực tế, ở nớc ta có nhiều vùng
nghèo, hộ nghèo đợc Chính phủ và cộng đồng trợ giúp rất nhiều nhng vẫn khó
khăn trong việc thoát nghèo. Điều đó có nguyên nhân quan trọng từ phía ngời
nghèo. Hoặc họ thiếu khả năng làm ăn, hoặc họ thiếu nghị lực để bỏ những
thói h, tật xấu, tập tục lạc hậu. Vì thế, trong việc giúp đỡ ngời nghèo, Việt
Nam đã tổng kết đợc phơng châm "Cho mợn cần câu, hơn cho xâu cá".
Chính phủ và chính quyền các cấp cần giành cho ngời nghèo, vùng
nghèo nguồn lực về vốn, kỹ thuật và môi trờng pháp lý, tâm lý xã hội, đồng
thời tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Quan tâm và giúp đỡ ngời
18
nghèo, coi đó là trách nhiệm, tình cảm không chỉ đối với ngời nghèo, mà là
sự phát triển bền vững của đất nớc. Ngoài ra, cần mở rộng hợp tác quốc tế,
tranh thủ khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực từ các n ớc, các tổ
chức quốc tế bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú để thực hiện công tác
XĐGN.
1.2.2. Một số chơng trình, chính sách hỗ trợ liên quan đến xóa đói,

các dân tộc sinh sống, hoạt động trên địa bàn miền núi, hải đảo, vùng đồng
bào dân tộc.
- Chơng trình mục tiêu quốc gia XĐGN theo Quyết định 133/1998/ QĐ-
TTg ngày 22/7/1998 của Thủ tớng Chính phủ. Đây là một chơng trình có ý
nghĩa cả về kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh, phát huy bản
chất tốt đẹp của chế độ XHCN.
- Chơng trình phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng
sâu, vùng xa theo Quyết định số 135/1998/QĐ- TTg ngày 31/7/1998 của Thủ
tớng Chính phủ và Quyết định số 164/2006/QĐ-TTg ngày 11/7/2006 về việc
phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào
diện đầu t chơng trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng
bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006-2010. Chơng trình này nhằm mục tiêu
nâng cao nhanh chóng đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở
các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đa
nông thôn các vùng này thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát
triển, hòa nhập vào sự phát triển chung của cả nớc, góp phần bảo đảm trật tự
an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
- Chính sách tăng cờng có thời hạn cán bộ, công chức về các xã làm
công tác XĐGN theo Quyết định số 42/1999/QĐ-TTg ngày 10/3/1999 của Thủ
tớng Chính phủ. Với quyết định này, các cán bộ, công chức đi tăng cờng cho
vùng nghèo, xã nghèo phải đảm bảo các tiêu chuẩn nh: am hiểu về xây dựng
xã, về chủ trơng XĐGN, có kiến thức về sản xuất nông lâm ng nghiệp và
phong tục tập quán của nhân dân trong vùng, có phẩm chất đạo đức tốt, có
tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình công tác, tự nguyện nhận nhiệm vụ đợc
giao Đồng thời, cán bộ công chức đi tăng cờng có nhiệm vụ giúp xã triển
khai chơng trình XĐGN đến thôn, bản, hộ gia đình; giúp xã tổ chức lồng ghép
các hoạt động có liên quan đến XĐGN trên địa bàn để tập trung nguồn lực cho
mục tiêu XĐGN.
- Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội tuyến biên giới Việt - Trung đến
năm 2010 theo Quyết định số120/2003/QĐ-TTg ngày 11/6/2003 của Thủ tớng

Xóa đói, giảm nghèo, vơn lên làm giàu là một chủ trơng, một quyết
sách lớn và nhất quán của Đảng và Nhà nớc Việt Nam. Chủ trơng, quyết sách
này đợc hình thành ngay từ khi nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và
ngày càng đợc hoàn thiện hơn trong quá trình phát triển. Chúng không những
đáp ứng đợc nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Việt
Nam, mà còn phù hợp với xu hớng chung của thời đại, phù hợp với mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ mà Liên Hợp quốc đề ra.
Trong những năm qua, nhờ thực hiện chính sách đổi mới toàn diện,
nền kinh tế nớc ta phát triển theo chiều hớng tích cực, tốc độ tăng trởng năm
21
sau cao hơn năm trớc; chất lợng tăng trởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế
từng bớc đợc cải thiện. 5 năm qua, Việt Nam vẫn duy trì đợc khả năng tăng tr-
ởng khá cao và tơng đối bền vững. Tổng sản phẩm trong nớc (GDP) 5 năm
2001 -2005 tăng bình quân 7,5%/năm, cao hơn mức tăng 6,9% của 5 năm trớc
(1996- 2000) [7, tr.11]. Nhờ những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và thực
hiện đồng bộ các chính sách, giải pháp xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích v-
ơn lên làm giàu, 10 năm qua công tác xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam đã đạt
đợc nhiều kết quả đáng kể. Cụ thể:
Một là, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) thành tựu của Việt
Nam trong lĩnh vực XĐGN là một trong những thành công nhất trong quá
trình phát triển kinh tế. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh dù tính theo bất cứ chuẩn
nghèo nào. Điều đáng mừng là tỷ lệ giảm nghèo biểu hiện ở tất cả các vùng,
chỉ tính riêng trong 4 năm, từ 2001 đến 2004 cả nớc đã giảm hơn 1,5 triệu hộ
nghèo (từ 2,8 triệu hộ xuống còn 1,3 triệu hộ), trung bình mỗi năm giảm
375.000 hộ và hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống 2,5%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm rất nhanh ở
khu vực Tây bắc, Tây Nguyên, trung bình mỗi năm giảm 4,5%. Điều đáng lu
ý là tất cả các tỉnh có tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo cao đều đã từng đợc xếp vào
nhóm nghèo nhất khi bắt đầu thực hiện chơng trình, điển hình là tỉnh Hòa
bình, Bắc Kạn, Lào Cai, Kom Tum, Lai Châu. Điều đó khẳng định chính sách
u tiên đầu t phát triển XĐGN của Đảng và Nhà nớc cho các tỉnh nghèo, vùng

Bắc Trung Bộ 25,64 13,23 10,05
Duyên Hải Nam Trung Bộ 22,34 9,56 8,00
Tây Nguyên 24,90 13,03 11,00
Đông Nam Bộ 8,88 2,25 1,70
ĐB Sông Cửu Long 14,18 7,40 6,78
Toàn quốc 17,18 8,30 7,00
Những thành tựu về tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống dân c và
XĐGN của Việt Nam đợc thế giới công nhận. Tổ chức lơng thực thế giới
khẳng định Việt Nam đã đảm bảo an ninh lơng thực và tự thấy tổ chức mình
đã có thể chấm dứt chơng trình ở Việt Nam. Năm 2002, chơng trình phát triển
Liên hiệp quốc UNDP đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia dẫn đầu
về phát triển và XĐGN. Cũng theo tính toán của UNDP, chỉ số phát triển con
ngời của Việt Nam đã tăng từ 0,605 năm 1990 lên 0,688 năm 2003. Về vị trí
xếp hạng HDI, Việt Nam đứng thứ 108 trong danh sách 177 nớc đợc xếp hạng
vào năm 2005.
Tuy nhiên, theo chuẩn nghèo mới (chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010)
vào cuối năm 2005 cả nớc có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo, chiếm 22% số hộ
toàn quốc (biểu 1.1). Vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất vẫn là vùng Tây Bắc và
Tây Nguyên, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ. Tỷ lệ nghèo ở các vùng đợc thể
hiện ở bảng 1.3 và minh họa bằng sơ đồ 1.1:
Bảng 1.3: Tỷ lệ hộ nghèo các vùng năm 2005 [7, tr.29]
(Theo chuẩn 2006-2010)
Đơn vị tính: %
STT Khu vực Tỉ lệ nghèo Ghi chú
A B 1 2
1 Đông Bắc 33
2 Tây Bắc 42
3 Đồng bằng sông Hồng 14
4 Bắc Trung Bộ 35
5 Duyên hải Nam Trung Bộ 23

Bắc trung bộ
Duyên hải
nam trung
bộ
Tây nguyên
Đông nam
bộ
Đồng bằng
sông cửu
long
Toàn quốc
Ba là, ở Việt Nam, đa số ngời nghèo sống ở vùng nông thôn, miền núi
biên giới, ở các xã đặc biệt khó khăn thuộc chơng trình 135. Sau 7 năm thực
hiện Chơng trình 135, bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã có sự
thay đổi đáng kể, nhất là hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển sản xuất hàng
hóa: Trên 25 nghìn công trình cơ sở hạ tầng và 498 trung tâm cụm xã đợc xây
dựng; khoảng 95% số xã đặc biệt khó khăn có đờng giao thông cơ giới đến
trung tâm cụm xã; gần 50% số xã và trung tâm cụm xã có chợ, trên 95% số xã
đã có trờng học bán kiên cố; 84,5% số xã có trờng trung học cơ sở, thu hút 90-
95% trẻ em trong độ tuổi đến trờng; 88% số xã có điện; 75% số xã có bu điện;
trên 60% số xã có trạm phát thanh truyền hình. Các chơng trình hỗ trợ vùng
nghèo, xã nghèo đã xây dựng đợc hệ thống cơ sở hạ tầng quan trọng. Đây là
lực lợng vật chất to lớn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần tăng thu
nhập, XĐGN và tạo tiền đề để tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa vùng dân
24
tộc, miền núi biên giới [7, tr. 39]. Chất lợng cuộc sống của ngời dân ở các xã
nghèo đợc nâng cao, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc ở miền núi.
Những kết quả trên cho thấy công tác XĐGN ở nớc ta trong những năm qua
đã đạt đợc nhiều kết quả, đời sống nhân dân đợc nâng lên, góp phần ổn định
chính trị an ninh biên giới.

25

Trích đoạn Công tác chỉ đạo và triển khai thực hiện Kết quả thực hiện các chính sách, dự án hỗ trợ trực tiếp ngời nghèo Kết quả các chơng trình, dự án lồng ghép Nguyên nhân của những kết quả đạt đợc Những hạn chế và nguyên nhân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status