Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
MSB: Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải
RRTD: Rủi ro tín dụng
NQH: Nợ quá hạn
L/C: Thư tín dụng
KTNQD: Kinh tế ngoài quốc doanh
TPKT: Thành phần kinh tế
CBNV: Cán bộ nhân viên
CBTD: Cán bộ tín dụng
HĐTD: Hoạt động tín dụng
HĐKD: Hoạt động kinh doanh
VNĐ: Việt Nam đồng
USD: Đồng đô la Mỹ
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển của nền kinh tế vị trí của hệ thống
Ngân hàng thương mại rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của mình trên trường quốc tế, tận dụng tối đa các cơ hội và vượt qua những
thách thức mà hội nhập kinh tế mang lại.
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động chính,
nó thường chiếm một tỷ trọng lớn trong các danh mục tài sản của ngân hàng. Do
vậy, rủi ro tín dụng cũng là rủi ro chính của ngân hàng. Sự mất mát vốn vay và
thu nhập do vô số các nguyên nhân khác nhau chính là những rủi ro ngân hàng
thường gặp phải khi cho vay. Cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của
ngành ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng, sẽ góp phần thúc đẩy nhanh
tiến trình hội nhập của nước ta. Việc nghiên cứu và tìm kiếm các biện pháp
chuyển của môi trường kinh tế. Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc
trưng quan trọng của nó.
1.1.1. Khái niệm về hoạt động cho vay.
Tại Việt Nam các quyết định 1627/2001_QĐ_NHNN ngày 31/12/2001
của thống đốc ngân hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng
đối với khách hàng và hướng dẫn thực hiện số 49/QĐ_HĐQT ngày 31/05/2002
của NHCT Việt Nam , quyết định số 106/QĐ_HĐQT_NHCT ngày 20/08/2002
về việc cho vay đối với khách hàng trong hệ thống ngân hàng công thương Việt
Nam, phân tích đánh giá doanh nghiệp dưới giác độ tài chính _ ngân hàng.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng chuyển
nhượng quyền sử dụng cho khách hàng một khoản tiền, để sử dụng vào mục đích
và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để
làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình.
1.1.2. Các hình thức cho vay
Cho vay ngắn hạn
Cho vay ngắn hạn, là các khoản cho vay mà thời hạn không quá 12 tháng;
nhằm đáp ứng các nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời của khách hàng. Đây là loại
cho vay có mức rủi ro thấp hơn so với cho vay trung và dài hạn (do thời gian
hoàn vốn nhanh), nên mức lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn so với cho
vay trung và dài hạn.
Cho vay trung hạn(>12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn (>60 tháng)
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
Cho vay trung và dài hạn là loaị cho vay có thời hạn vay – trả dài, dùng để cấp
vốn cho các đối tượng đầu tư dài hạn (xây dựng doanh nghiệp mới, các công
trình thuộc cư sở hạ tầng, đường giao thông, bến cảng….). Nhìn chung, cho vay
trung và dài hạn đầu tư để hình thành tài sản cố định. Do thời gian dài, lượng
vốn cho vay lớn nên rủi ro cao. Các hình thức:
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
logíc kinh tế, hứng chịu rủi ro cho một người mà ngân hàng tin tưởng ứng vốn
cho vay, nhưng nó không chỉ gồm một giao dịch pháp lý mà nhiều loại (cho vay,
bảo lãnh , cầm cố…).
* Lãi suất trong hợp đồng cho vay theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân
hàng cho vay. (Ví dụ: Lãi suất cố định, lãi suất thả nổi,…).
* Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo tuỳ vào việc đánh giá
và xếp hạng khách hàng của ngân hàng cho vay.
* Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả ngốc và lãi hoặc một số
thoả thuận khác nếu được ngân hàng cho vay chấp nhận. Trường hợp khách
hàng không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thì tài
sản đảm bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.
1.1.4. Những yếu tố cấu thành nghiệp vụ cho vay.
1.1.4.1. Các bên tham gia.
- Người cho vay: Là một định chế tài chính hay một thể nhân cho định chế
hay thể nhân khác vay một khoản tiền nào đó, trên cơ sở hợp đồng cho vay đã
được thoả thuận các điều kiện về mức vay, thời hạn vay, lãi suất, hình thức trả
gốc và lãi, tài sản đảm bảo …
- Người vay: Là người có phương án, dự án cần có vốn để thực hiện nó bao
gồm:
+ Các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm
hửu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ
chức khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 của bộ luật dân sự.
+Các thể nhân.
Quan hệ
+ Hộ gia đình. vay mượn
+ Tổ hợp tá
Điều kiện của chủ thể vay vốn:
lãi suất mà còn quan tâm đến sự an toàn của khoản vay. Còn người vay ngoài
vấn đề lãi suất họ còn quan tâm vào giá tiền của giá trị sử dụng mà họ phải trả
có phù hợp với khả năng tài chính và kết quả kinh doanh mang lại cho họ hay
không.
-Chi phí marketing trực tiếp.
- Chi phí dự phòng cho trường hợp không thu hồi được vốn cho vay.
- Chi phí quản lý.
- Lợi nhuận mong đợi trong tương lai.
- Chi phí khác.
1.1.5. Vai trò của hoạt động cho vay.
1.1.5.1. Vai trò đối với nền kinh tế.
* Cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó là hình
thức kinh doanh chủ yếu của ngân hàng. Với vai trò là trung gian tài chính ngân
hàng đóng vai trò là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người
cần vốn để đầu tư.
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
6
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
* Hoạt động cho vay góp phần mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công
nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật…
1.1.5.2. Vai trò đối với người đi vay.
Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mai có các kỳ hạn khác nhau.
Ngắn hạn, trung han và dài hạn bên cạnh đó lãi suất linh hoạt cố định hay thả
nổi… vì thế khách hàng tuỳ ý lựa chọn kỳ hạn vay và thoã thuận hình thức lãi
suất vay phù hợp với mục tiêu kinh doanh của mình.
Mặt khác việc vay vốn ngân hàng giúp khách hàng tập chung được vốn kinh
doanh đồng bộ, giảm chi phí huy động và chủ động trong việc hoàn trả gốc và
lãi theo hợp đồng. Bên cạnh đó việc thoã thuận giữa ngân hàng và khách hàng
khi hết hợp đồng cho vay tạo điều kiện cho khách hàng kinh doanh tiếp… như
mát, thiệt hại” hay “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một hay nhiều biến
cố không mong đợi”… Nhưng nói chung, mọi quan niệm đều đi đến thống nhất:
“rủi ro là biến cố xẩy ra ngoài ý muốn, sự hiểu biết, dự tính của chủ thể và đem
lại những hậu quả xấu”. Rủi ro có thể xẩy ra bất cứ lúc nào trong mọi lĩnh vực
cuộc sống, nhất là trong lĩnh vực tín dụng nói chung và nghiệp vụ cho vay nói
riêng.
Vì vậy nhận thức đúng đắn và đầy đủ rui ro cho vay là rất quan trọng để
từ đó đưa ra các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay.
Rủi ro cho vay là những sự cố trong sử dụng vốn của Ngân hàng Thương
mại, làm những tổn thất vốn, tài sản và uy tín của Ngân hàng trong phạm vi nhất
định
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá rủi ro
• Phân loại nợ
- Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn:Là các khoản nợ mà trong hạn các tổ chức tín
dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn…
- Nhóm 2: Nợ cần chú ý:
o Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
o Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã
cơ cấu lại.
- Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn:
o Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày.
o Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nhóm 4: Nợ nghi ngờ:
o Các khoản nợ quá hạn từ 180 đến 360 ngày
o Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90-180 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại.
- Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn:
o Các khoản nợ trên 60 ngày.
o Các khoản nợ khoanh chờ xử lý.
khấu, dự trử bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở… Để điều chỉnh mức cung ứng
tiền tệ khi có biến động xẩy ra.
+ Chính sách đầu tư phát triển: Đây là những chính sách mà khi chính phủ
điều chỉnh sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp cho các ngân hàng thương mại, thường là
những ảnh hưởng không tích cực cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
9
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
thương mại. Tuy nhiên nếu ngân hàng thương mại nắm bắt được thông tin kinh
tế kịp thời thì sẽ hạn chế được rủi ro sẩy ra.
• Nguyên nhân từ phía môi trường pháp lý .
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh
vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành
mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi.
Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất rể bị lợi
dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn
đến kinh doanh gập nhiều khó khăn, ngân hàng cho vay gặp rủi ro.
• Môi trường tự nhiên .
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất
kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố
khó dự đoán, nó thường xẩy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của
con người. Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẽ rủi ro
với khách hàng của mình. Ở Việt Nam do thời tiết diễn biến phức tạp nên môi
trường tự nhiên đươc coi là nguyên nhân gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng cho vay khi đầu tư phát triển các thành phần kinh tế.
• Môi trường kinh tế xã hội .
Môi trường kinh tế xã hội trong một nước biến động chịu ảnh hưỏng của
những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro
trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực
kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất.
xảy ra do ngân hàng cho vay không đánh giá đúng giá trị tài sản đảm bảo hoặc
giá trị tài sản thế chấp có biến động theo chiều hướng xấu.
Tóm lại:Việc nghiên cứu các guyên nhân gây nên rủi ro cho vay có ý
nghĩa rất quan trọng giúp các ngân hàng cho vay đưa ra được những giải pháp
hữu hiệu nhằm ngăn chặn rủi ro xảy ra cho hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.4. Tác động của rủi ro trong hoạt động cho vay.
1.2.4.1. Rủi ro làm phát sinh tăng chi phí giảm lợi nhuận.
Khi các ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu
tiên là các ngân hàng cho vay phải tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ quá hạn
vừa làm mất thời gian của cán bộ cho vay, vừa làm tăng khoản chi phí về đi lại
để lấy nợ. Nếu các khoản nợ này có liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng cho
vay phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công việc thương lượng, gặp gỡ các
bên trong quá trình xử lý nợ. Đây là những chi phí trước mắt mà các ngân hàng
cho vay phải bỏ ra. Bên cạnh đó các ngân hàng cho vay phải bỏ ra chi phí cơ hội
rất lớn: Các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng quay vốn tín dụng, làm mất đi
các khoản đầu tư khác của mình, đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng lớn của nợ qúa
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
hạn với tâm lý cuả cán bộ cho vay. Nợ quá hạn phát sinh làm cho cán bộ tín
dụng phải mất thời gian xử lý nợ, không tiếp cận được những món vay mới đồng
thời còn làm cho cán bộ cho vay ngần ngại mở rộng hoạt động cho vay… Tất cả
những vấn đề này làm giảm thu nhập tiềm ẩn và làm tăng chi phí cho các ngân
hàng cho vay, từ đó làm ảnh hưởng tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng cho vay.
1.2.4.2. Rủi ro làm giảm uy tín của cac ngân hàng cho vay.
Các ngân hàng cho vay khi gặp rủi ro, kinh doanh kém hiệu quả, uy tín sẽ bị
giảm sút trên thị trường. Đây là sự thiệt hại vô hình mà không thể lường được
giá trị.
1.2.4.3 Rủi ro trong hoạt động cho vay còn gây ra tổn thất gián tiếp cho các
12/07/1991 tại TP Cảng Hải Phòng, là một trong những ngân hàng thương mại
cổ phần đầu tiên ở nước ta . Với bề dày kinh nghiệm 16 năm hoạt động trong
lĩnh vực tài chính – ngân hàng và có cổ đông chiến lược là các doanh nghiệp lớn
thuộc ngành Bưu chính viễn thông, Hàng hải, Hàng không, Bảo hiểm…,
Maritime Bank sở hữu nhiều tiềm năng to lớn để bứt phá và lớn mạnh trong thời
kỳ hội nhập.
Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải (MSB) là một trong những
ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập theo giấy phép 0001/nh-
cp và đi vào hoạt động chính thức từ ngày 12/7/1991 được phép hoạt động trong
25 năm sau đó vào ngày 7/7/2003 theo quyết định 719/QĐ cấp lại thì ngân hàng
được phép hoạt động trong 99 năm. MSB có 24 cổ đông sáng lập với số vốn
điều lệ ban đầu 40 tỷ đồng và tăng lên 70 tỷ theo quyết định 193/QĐ-NH5 vào
ngày 12/9/1994 tới ngày 18/3/2004 theo quyết định 53/QĐ-NH5 thì số vốn điều
lệ tăng lên 140 tỷ đồng đến 30/6/2005 là 242 tỷ đồng năm 2006 là 700 tỷ đồng
và đến năm 2007 đạt con số 1500 tỷ đồng
Maritime Bank còn có được nguồn nhân lực chất lượng cao trẻ tâm huyết
đoàn kết trong năm 2006 ngân hàng tuyển dụng mới 163 nhân viên với trình độ
đại học và trên đại học nâng số nhân viên lên 599 người vào cuối năm 2006 tăng
24% với năm 2005 và 857 người trong năm 2007 , hệ thống công nghệ tin học
hiện đại thực hiện tốt dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán giai
đoạn 2.
Sinh viên: Nguyễn Thuỳ Linh - Lớp: TC11-10
13
Luận văn tốt nghiệp GVHD: GS.,TS.Vũ Văn Hoá
2.1.2. Bộ máy tổ chức MSB Hà Nội
Nguồn: Báo cáo thường niên MSB Hà Nội 2009
Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban như sau:
* Phòng tổ chức hành chính:Phòng tổ chức hành chính có chức năng tham
mưu cho Giám đốc các lĩnh vực: Tổ chức đào tạo CNV, tuyển dụng lao động,
quản lý tiền lương, công tác phòng tổng hợp thi đua, công tác hành chính quản
HCM
Chi
nhánh
Vũng tàu
Chi
nhánh
Quảng
ninh
Đại hội đồng cổ đông