TIỂU LUẬN:
Báo cáo thực tập tại Công ty
Dịch vụ Hai Bà Trưng
Lời mở đầu
I).Giới thiệu chung về công ty.
1.Quá trình hình thành và phát triển :
Vào giữa những năm 80, nền kinh tế quan liêu bao cấp đòi hỏi phải
được phát triển và mở rộng để đáp ứng, thoả mãn những nhu cầu thiết yếu đang
gia tăng của người dân. Trước tình hình như vậy, cùng với sự ra đời của nhiều
Công ty dịch vụ khác, Công ty Dịch vụ Hai Bà Trưng đã được thành lập dựa trên
QĐ số 4071/QĐ - UB ngày 19/5/1984 của Nhà nước. Đến ngày 1/5/1985, Công
ty dịch vụ Hai Bà Trưng chính thức đi vào hoạt động, được đặt trụ sở tại 53 Lạc
Trung - Hà Nội, kinh doanh các mặt hàng như: Đồ dùng gia đình, nông sản thực
phẩm và điện tử điện lạnh Từ 1985 đến 1987: Công ty hoạt động dựa trên sự
cung ứng hàng hoá, vốn của Nhà nước. Quá trình hoạt động kinh doanh dựa trên
chỉ tiêu, Pháp lệnh của Nhà nước. Việc hạch toán kinh doanh chỉ là điều xa vời,
chưa được thực hiện. Từ 1987 đến 1992: Nền kinh tế quan liêu bao cấp, bế quan
toả cảng đã bộc lộ rõ nhưng mặt trái của nó, đình trệ sự phát triển đòi hỏi sự thay
thế của nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước để phù hợp với xu thế
của thời đại. Việc hoạt động dựa trên sự bao tiêu toàn bộ đầu vào của Nhà nước
không còn được thực hiện ở Công ty nữa. Công ty phải tự chủ trong hoạt động
kinh doanh của mình dựa trên nguồn vốn ban đầu được cấp. Hoạt động chính
của Công ty thời gian này là mua hàng sản xuất trong nước và bán ra ngoài thị
trường các sản phẩm điện tử, điện lạnh, đồ dùng gia đình. Sự chuyển đổi đột
ngột như vậy khiến Công ty gặp nhiều khó khăn. Công ty không những phải tìm
nguồn hàng, thị trường phù hợp mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức kinh tế
khác cùng loại hình hoạt động. Công ty là một đơn vị kinh doanh thương nghiệp
hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân, được mở tài khoản và sử dụng con dấu
riêng, chịu sự quản lý toàn diện của UBND quận Hai Bà Trưng và hướng dẫn
Để phù hợp với qui mô và nhiệm vụ được giao, công ty đã được
UBND quận Hai Bà Trưng giao lại cho UBND thành phố Hà nội do Sở Thương
mại thành phố trực tiếp quản lý với tên gọi mới là công ty thương mại XNK Hà
Nội theo quyết định số 2894/QĐ-UB ngày 23/5/2001.
Trụ sở tại : 124 Phố Huế - Hà Nội
Tên giao dịch quốc tế: Hanoi commercial and import export company
Tên viết tắt : Hancimex
Từ một công ty chỉ kinh doanh nội địa và các dịch vụ nhỏ khi mới
thành lập, đến nay với sự nỗ lực của mình, công ty đã phát triển thành một công
ty thương mại XNK tổng hợp.
Với phương châm kinh doanh ‘‘duy trì, ổn định và phát triển kinh
doanh nội địa, đẩy mạnh kinh doanh XNK, mở rộng thị trường nước ngoài, phát
triển quan hệ với nhiều nước trên thế giới.’’ Hiện nay công ty đã có quan hệ kinh
doanh XNK với trên 30 nước trên thế giới.
Từ đó ngành nghề kinh doanh của công ty được mở rộng như sau:
-Sản xuất, thu mua hàng thêu ren, may mặc thủ công mỹ nghệ xuất
khẩu.
-Sản xuất chế biến, kinh doanh XNK lương thực thực phẩm, dược
liệu, nông, lâm thuỷ hải sản và các mặt hàng khác.
-Kinh doanh hàng điện tử, điện lạnh, điện dân dụng, hàng tiêu dùng,
vật liệu xây dựng và trang trí nội thất.
chính là đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Hoạt động kinh doanh của công ty chủ yếu được thực hiện dựa trên nguồn
vốn vay nên hiện nay công ty chỉ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau :
* Hoạt động XNK :
-XK : Công ty chủ yếu XK các hàng nông sản như : lạc, gạo, chè sang
một số nước Châu á như : Đài Loan, Singapo
-NK : Chủ yếu là hoá chất, điện lạnh, điện dân dụng, hàng trang trí nội
thất, nguyên vật liệu từ các nước như : Đức, ấn Độ, Trung quốc, Nhật, Hàn
quốc
*Hoạt động kinh doanh nội địa :
Chủ yếu là kinh doanh các mặt hàng : điện dân dụng, quần áo may sẵn,
hàng tiêu dùng Các loại hoạt động nayd diễn ra tại các cửa hàng của công ty.
Ngoài ra, công ty còn làm đại lý bán vé máy bay cho hãng hàng không
Pacific Airline. Địa diểm tại công ty-142 Phố Huế.
Hình thức nhập khẩu của Công ty bao gồm nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu
uỷ thác nhưng hình thức nhập khẩu trực tiếp chiếm đa số. Phương thức bán hàng
thường là bán buôn trực tiếp qua kho.
Phương thức nhập khẩu của Công ty chủ yếu là nhập theo giá CIF, địa điểm
giao hàng thường ở hai cảng lớn là Cảng Hải Phòng, Cảng thành phố Hồ Chí
Minh. Ngoài ra, phương thức giao hàng có thể là đường sắt hoặc đường không.
Phòn
g tổ
chức
hành
chín
h
Hệ
thốn
g
các
cửa
hàng
Phòn
g kế
hoạc
h
thị
trườ
ng
Phòn
g
giao
nhận
và
V/C
Phòn
g
XNK2
Giám đốc
bạn hàng trong nước, theo dõi hoạt động của các cửa hàng.
- Phòng giao nhận và vận chuyển: thực hiện việc vận chuyển hàng nhập khẩu
từ cảng về kho của Công ty.
- Các cửa hàng: là mạng lưới tiêu thụ hàng trong nước và ngoài nước của
Công ty, thực hiện việc bán buôn và bán lẻ, là đơn vị hạch toán phụ thuộc. Các
chứng từ liên quan đến hoạt động kinh doanh đều gửi về Công ty làm công tác
hạch toán.
- Phòng tổ chức hành chính : Tham mưu giúp đỡ cho giám đốc công tác :
+Đối nội, đối ngoại, lưu trữ hồ sơ giấy tờ, thủ tục, công văn.
+Tổ chức nhân sự, quản lý sắp xếp, đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên.
+Quản lý tiền lương, tiền thưởng và các chế độ chính sách như : bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế
+Một số công việc hành chính khác như công việc bảo vệ, tạp vụ,vệ
sinh
*.Phương pháp quản lý của công ty :
Bộ máy quản lý của công ty gọn nhẹ, phương pháp quản lý đơn giản, áp dụng
phương pháp quản lý trực tiếp do giám đốc lãnh đạo, quẩn lý điều hành trực tiếp
toàn diện từ các phòng ban đến các cửa hàng. Hoạt động kinh doanh của công ty
được thực hiện thông qua các phòng kinh doanh và cửa hàng. Các phòng kinh
doanh, cửa hàng chịu trách triệm đối với từng lĩnh vực kinh doanh riêng trước
giám đốc. Ngoài ra tại mỗi phòng kinh doanh, trách nhiệm kinh doanh của từng
mặt hàng sẽ được giao cho từng người trong trong phòng và những người này sẽ
Tổng số
CBCNV
65
71
76
109,23%
107,04%
nam
20
23
29
115,00%
126,09%
n
ữ
45
48
110,53%
LĐ gián
ti
ếp
15
14
13
93,33%
92,86%
LĐ KD
TT/t
ổng
CBCNV
76,92%
80,28%
82,89%
LĐ KD
GT/t
Qua bảng số liệu trên ta thấy tình hình lao động của công ty qua một số năm
như sau :
-Tổng số CBCNV của công ty đã tăng trung bình 8% một năm.
-Tỷ lệ số lao động nam và lao động nữ ở công ty có số chênh lệch lớn. Tuy
nhiên trong một số năm gần đây tỷ lệ số lao động nam đang có chiều hướng tăng
lên.Tỷ lệ nam có chiều hương tăng lên để phù hợp với công vệc hiên trường của
nghiệp vụ xuất nhập khẩu :làm tại kho, làm thủ tục hải quan ,nhận hàng tại
cảng
-Số CBCNV có trình độ đại học và trung cấp của công ty còn ít nhưng do công
ty quan tâm nhiều đến khâu tuyển chọn nên tỷ lệ này ngày càng tăng rõ rệt. Có
như vậy mới đáp ưng được yêu cầu ngày càng khắt khe, với mức độ khó của
công việc
-Lao động kinh doanh trực tiếp ở công ty là chủ yếu và tỷ lệ này có xu hướng
tăng lên.
*Tình hình thu nhập của CBCNV trong công ty.
Tuy nước ta đã chuyển sang kinh tế vận động theo cơ chế thị trường
nhưng nhìn chung các doanh nghiệp Nhà Nước vẫn còn phần nào bị ảnh hưởnh
của chế độ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Cụ thể là tác phong làm việc của
CBCNV trong doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa linh hoạt. Nhưng với công ty
thương mại XNK Hà Nội thì đào tạo được các đặc điểm khác biệt so với các
doamh nghiệp nhà nước cùng loại, có thể nói công ty đã tạo được động cơ trong
công việc với CBCNV để họ tập trung cao sức lực, trí lực cửa mình vào công
việc. Một trong những nguyên nhân tạo động cơ lao động đó là công ty đã có một
chế độ đãi ngộ rất hợp lý với CBCNV. Tuy là một doanh nghiệp Nhà nước
nhưng do hạch toán kinh doanh độc lập nên công ty có chế độ trả lương hết sức
trong kinh doanh vì không chủ động được nguồn vốn.
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần
đây ta có thể xem qua một số chỉ tiêu sau:
Bảng 2: Kết quả kinh doanh của Công ty Hancimex
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm2001 Năm 2002
Doanh thu
ợi nhuận
ộp NS
Lương
Kim ng
ạch XNK
101000
16515
450000
(USD) 217000
20021,5
900500000
(USD)
(Nguồn: phòng kế toán công ty Hancmex)
0
50
100
150
200
250
1999 2000 2001 2002
BiÓu ®å doanh thu
Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Doanh thu của Công ty ngày càng tăng: năm 2000 tăng hơn so với năm
1999 là 28,7% (tương đương 29.000 triệu đồng); năm 2001 tăng hơn so với năm
doanh nghiệp.Lợi nhuận này được thu chủ yếu từ hoạt động xuất nhập khẩu.
- Hancimex là một công tyluôn hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước.
Ngoài hai loại thuế chính là thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (VAT) công
ty còn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.Nộp ngân sách của công ty năm 2000 so
với năm 1999 giảm 2 triệu đồng, tương đương13,33% do doanh thu năm 2000
giảm so với năm 1999. Năm 2001, 2002 số tiền nộp ngân sách Nhà nước tăng lên
do doanh thu và lợi nhuận của Công ty tăng.
- Lương của cán bộ công nhân viên năm 2000 giảm so với năm 1999 là 50
triệu do lợi nhuận năm 2000 giảm so với năm 1999 và số cán bộ công nhân viên
chức được tăng cường thêm , năm 2001 và 2002 lương của cán bộ công nhân
viên đều tăng do lợi nhuận tăng. Ngoài khoản lương cố định được trả theo hợp
đồng thì cán bộ công nhân viên chức được trả thêm nột khoản được trích thêm từ
lợi nhuận công ty thu được tuỳ vào mức đóng góp của họ đối với công ty.
- Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1999 và 2000 thấp vì lúc đó công ty có
qui mô nhỏ trực thuộc sự quản lý của UBND Quận Hai Bà Trưng nên hoạt động
kinh doanh chưa được linh hoạt. Từ năm 2001, công ty trực thuộc sự quản lý của
Sở Thương mại thành phố nên qui mô của công ty được mở rộng, hoạt động
XNK được đẩy mạnh do đó kim ngạch XNK tăng lên nhanh chóng.
Để đạt được kết quả như vậy, Công ty Hancimex đã hoạt động trên cơ sở một
phần vốn kinh doanh của Nhà nước giao, một phần do quá trình hoạt động của
Công ty đã bảo toàn và tăng cường vốn do tiết kiệm trong chi tiêu, sử dụng hợp
lý có hiệu quả các nguồn vốn tự có, một phần do biết khai thác vốn từ nhiều
nguồn khác nhau.
4.2. Thị trường và mặt hàng kinh doanh:
á, tỷ giá biến động bất thường, Nhà nước có những thay đổi trong chính sách
thuế ảnh hưởng tới việc tính toán dự báo thị trường, gây khó khăn trong việc
kinh doanh xuất nhập khẩu song với tinh thần quyết tâm , dám nghĩ dám làm,
trong mấy năm qua Công ty đã phấn đấu đạt được những kết quả đáng khích lệ
trên cả lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như đối với hiệu quả xã hội,
tạo việc làm và thu nhập ổn định cho CBCNV, được cấp trên đánh giá là một đơn
vị hoạt động có hiệu quả, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước.Điều đó
được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách và thuế cho Nhà
nước của Công ty hàng năm.
Nhìn chung các chỉ tiêu kế hoạch Công ty đều hoàn thành và vượt mức.
Riêng chỉ tiêu nộp ngân sách do thuế XNK giảm theo lộ trình hội nhập quốc tế và
hàng xuất khẩu khuyến khích thuế bằng không nên mặc dù doanh số tăng, thu
nhập tăng nhưng nộp ngân sách lại giảm (đây là lý do khách quan do chính sách
của nhà nước).
Thực hiện nhiệm vụ phát triển thương mại theo hướng văn minh hiện đại, các
đơn vị đã tự chủ trong kinh doanh, chủ động khai thác mở rộng thị trường, từ
hình thức bán lẻ đơn thuần nay đã chuyển dần sang các hình thức hiện đại như
liên doanh, làm đại lý kí gửi, ký hợp đồng bán buôn nhiều mặt hàng với doanh số
lớn. Các đơn vị có mức tăng trưởng cao như: cửa hàng Trần Cao Vân, cửa hàng
chợ Mơ, cửa hàng Trương Định, phòng GNVC&DL. Các điểm bán hàng, mặt
hàng hoá phong phú, đa dạng, cửa hàng, quầy hàng sạch đẹp, đội ngũ nhân viên
nhanh nhẹn, nhiệt tình. Kết quả kinh doanh của các đơn vị đạt được như sau:
a) kinh doanh nội địa:
một đơn vị hoạt động đơn thuần nhỏ lẻ đến nay Công ty đã lớn mạnh và phát
triển trên nhiều phương diện, phạm vi hoạt động được mở rộng, chức năng ngành
nghề kinh doanh đa dạng, thị trường và bạn hàng không còn bó hẹp trong nước
mà được mở rộng đến nhiều nước trên thế giới, công ăn việc làm đời sống
CBCNV được cải thiện thu thập ngày cáng tăng, điều đó khẳng định sự trưởng
thành và hướng đi đúng của công ty.
Công ty đã mạnh dạn giao quyền và tạo điều kiện để cán bộ đi học nâng
cao nghiệp vụ. Đến nay đội ngũ cán bộ của Công ty đã tương đối vững về chuyên
môn, tinh thông về nghiệp vụ. Thực hiện chủ trương thành uỷ Hà Nội và Sở
Thương mại về việc đánh giá bổ nhiệm lại cán bộ. Nhìn chung hầu hết số cán bộ
của Công ty đều giữ được phẩm chất đạo đức, phát huy được vai trò trách nhiệm
và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. 5.2 Hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động kinh doanh của Công ty còn
một số hạn chế như:
- Nguồn vốn chủ động còn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh
doanh, còn phải vay ngân hàng nên hiệu quả kinh doanh chưa cao.
- Cơ sở vật chất còn hạn chế, trụ sở, kho tàng, phương tiện vận tải phải đi
thuê nên làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, không chủ động trong việc bảo
quản, lưu trữ, vận chuyển hàng hoá.
- Việc linh hoạt các cơ sở sản xuất, thu mua chế biến hàng xuất khẩu còn
chậm và chưa mạnh dạn đầu tư đầy đủ theo yêu cầu của khách hàng.
- Đội ngũ cán bộ của công ty cơ bản nhiệt tình, gắn bó với công việc song
vẫn còn một số ít chưa thực sự tâm huyết, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
-Tính chủ động sáng tạo trong kinh doanh ở một số ít cán bộ chưa được phát
và thế giới . Hình thức này gây nên nhiều chi phí cho việc giao dịch ,thoả thuận
khi tình huống biến động trên thị trường có ảnh hưởng không tốt đến cả hai bên.
Hai hình thức nhập khẩu chủ yếu của công ty :nhập khẩu trực tiếp và nhập
khẩu uỷ thác
+Nhập khẩu trưc tiếp: nhân viên phòng knh doanh xuất nhập khẩu tự tìm
bạn hàng ,mặt hàng mà minh có nhu cầu.Thông qua các đơn chào hàng có thể
quyết định kí kết hợp đồng mua và thực hiện hợp đồng đã kí.
+Nhập khẩu uỷ thác:
-Nhân viên phòng xuất nhập khẩu sau khi nhận hợp đồng uỷ thác ,
căn cứ vào khả năng ,cơ sở của công ty mà quyết định có kí hợp đồng hay không
kí hợp đồng.
-Phòng nhập khẩu có trách nhiệm liên lạc với bên nước ngoài thoả
thuận về hợp đồng,.nhận hàng ,chở hàng cho người uỷ thác
-Thông thường ,ngoài các chi phí về bốc dỡ ,thuế nhập khẩu thi bên
uỷ thác phải trả cho công ty từ 0,5-2% giá trị hợp đồng.
Tổng giá trị của hoạt động uỷ thác chiếm 30-35% tổng giá tri hợp đồng
của công ty.
1.2.Cơ sơ giao hành thường dùng tại Hancimex.
- Cũng như các công ty nhập khâu khác, Hancimex thường sử dụng các cơ
sở giao hàng thông dụng là CIF,CFR Giá FOB hầu như không được sử dụng
bởi có thể thói quen hoặc gặp khó khăn trong hợp đồng thuê tàu. Ơ Hancimex
giá CIF được sử dung phổ biến nhất.
1.3.Đàm phán kí kết hợp đồng.
ở Hancimex có một bộ phận chuẩn bị dự án nghiên cứu thị trương không chỉ
thông qua kinh nghiệm của cán bộ xuất nhập khẩu mà còn phải dựa trên các
thông tin thực tế thập.
- Hợp đồng nhập khẩu được kí kết theo phương thức bên nước ngoài gửi đơn
2.kinh doanh hàng sau khi nhập khẩu.
- Nếu là hợp đồng uỷ thác: sau khi hàng đến cảng thì được vận chuyển đến
công ty uỷ thác .
-Nếu là hợp đồng trực tiếp: được lưu kho tại Hải Phòng hoặc vận chuyển về
Hà Nội đẻ lưu kho thuận tiện cho việc giao dịch ,xuất hàng bán.
-Việc kí kết hợp đồng bán trong nước sẽ được thực hiện bởi bộ phận kinh
doanh nội địa. Hàng hoá sẽ được vận chuyển đến tận nơi hoặc do khách hàng tự
vận chuyển.
3.Những tồn tại của hoạt động nhập khẩu.
-Vốn nhập khẩu còn hạn chế.Chủ yếu sử dụng vốn vay ngân hàng nên tỉ
suất lợi nhuận không cao. Đây cũng là tình trạng trung của các công ty nhập khẩu
của nước ta.
- Công tác thu thập và xử lý thông tin chưa có hiệu quả .Mặc dù nhận thức
tầm quan trọng của việc nay nhưng công ty vẫn chưa có được hệ thống thu thập
và xử lý thông tin riêng biệt .Công vệc này chỉ được thực hiện thông qua các
nhân viên phòng xuất nhập khẩu, phòng dự án ,qua các đơn chào của các bạn
hàng nước ngoài hoặc của một số công ty trong nước . Các thông tin thu thập
thường hạn chế tản mạn, đến chậm hoặc không đến được người cần sử dụng.
Chính vì vậy, các thông tin này chỉ được sử dụng trong phạm vi hẹp hoặc chưa
được sử dụng hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
- Các hình thức nhập khẩu chưa đa dạng .Chủ yếu là nhập khẩu trực tiếp và
nhập khẩu uỷ thác. Tuy kí được nhiều hợp đồng nhưng lại thu được lơi nhuận
không cao do môi một hợp đồng uỷ thác nhưng ta chi thu được từ 0.5-1.2% giá