thông tin
tạp chí luật học - 49
Về luật quốc tịch
Việt Nam 1998
PTS. Vũ Hồng Anh *
uốc tịch thể hiện mối quan hệ giữa cá
nhân với một nhà nớc nhất định
đồng thời là cơ sở pháp lí làm phát
sinh các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
giữa công dân và nhà nớc.
Vấn đề quốc tịch gắn liền với vấn đề
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia. Bởi
vậy, ngay sau khi giành đợc độc lập dân
tộc, Hồ Chủ Tịch đ thay mặt Nhà nớc
Việt Nam kí các sắc lệnh quy định về
quốc tịch Việt Nam. Đó là Sắc lệnh số
53/SL ngày 20/10/1945, Sắc lệnh số
73/SL ngày 7/12/1945, Sắc lệnh số
215/SL ngày 20/8/1948, Sắc lệnh số
51/SL ngày 14/12/1959. Ngày 8/2/1971,
ủy ban thờng vụ Quốc hội ban hành
Nghị quyết số 1043/TVQH quy định bổ
sung về quốc tịch Việt Nam. Sau khi đất
nớc thống nhất, trên cơ sở Hiến pháp
1980, ngày 28/6/1988, Quốc hội nớc
Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam đ
thông qua Luật quốc tịch Việt Nam đầu
ngữ cơ bản đợc giải thích tại Điều 2.
Luật quốc tịch Việt Nam 1998 phân biệt
thuật ngữ "ngời Việt Nam ở nớc ngoài"
với thuật ngữ "ngời Việt Nam định c ở
nớc ngoài" (khoản 3, 4 Điều 2). Cả hai
thuật ngữ này đều bao hàm công dân Việt
Nam và ngời gốc Việt ở nớc ngoài. Sự
khác nhau giữa hai thuật ngữ là thời gian
ở nớc ngoài của họ. Nếu những cá nhân
nói trên chỉ thờng trú hoặc tạm trú ở
nớc ngoài thì đợc gọi là "ngời Việt
Nam ở nớc ngoài"; nếu họ c trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài ở nớc ngoài thì
đợc gọi là "ngời Việt Nam định c ở
nớc ngoài". Tơng tự nh vậy, sự khác
nhau giữa thuật ngữ "ngời nớc ngoài c
trú ở Việt Nam" và ngời nớc ngoài
thờng trú tại Việt Nam" (khoản 5, 6
Q
QQ
Q
* Gi
ảng viên Khoa hành chính
-
nhà nớc
Trờng đại học luật Hà Nội
nghĩa Việt Nam không dẫn độ cho nớc
khác (đoạn 2 khoản 2 Điều 4).
Đặc biệt, Luật quốc tịch Việt Nam
1998 quy định mỗi cá nhân ở nớc Cộng
hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam đều có
quyền có quốc tịch (khoản 1 Điều 1)
đồng thời khẳng định mọi thành viên của
các dân tộc sinh sống trên lnh thổ Việt
Nam đều bình đẳng về quyền có quốc
tịch Việt Nam (khoản 2 Điều 1). Quyền
có quốc tịch của cá nhân ở nớc Cộng
hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam đợc bảo
đảm bởi chính sách của Nhà nớc Cộng
hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều
kiện cho trẻ em sinh ra trên lnh thổ Việt
Nam đều có quốc tịch và những ngời
không quốc tịch thờng trú ở Việt Nam
đợc nhập quốc tịch Việt Nam (Điều 8).
Ngoài ra, Luật quốc tịch Việt Nam 1998
còn quy định cho công dân Việt Nam
quyền không bị tớc quốc tịch trừ trờng
hợp do luật này quy định (đoạn 2 khoản 1
Điều 1). Công dân Việt Nam c trú ở
nớc ngoài, ngời đ nhập quốc tịch Việt
Nam dù c trú ở trong hay ngoài lnh thổ
Việt Nam có thể bị tớc quốc tịch Việt
Nam nếu có hành động gây phơng hại
nghiêm trọng đến nền độc lập, đến sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt
Nam hoặc đến uy tín của nớc Cộng hòa
quy định của Luật quốc tịch Việt Nam thì thông tin
tạp chí luật học - 51
áp dụng quy định của điều ớc quốc tế
đó. Quy định này phản ánh xu thế phát
triển chung của pháp luật nội địa của các
nớc trên thế giới.
Điều 11 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 quy định: Để chứng minh ngời có
quốc tịch Việt Nam phải căn cứ vào các
giấy tờ sau: Giấy chứng nhận có quốc
tịch Việt Nam, quyết định cho nhập quốc
tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại
quốc tịch Việt Nam, giấy chứng minh
nhân dân, hộ chiếu Việt Nam, giấy khai
sinh của đơng sự kèm theo giấy tờ
chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha
mẹ nếu không có những giấy tờ nêu trên;
các giấy tờ khác do Chính phủ quy định.
Theo quy định tại Điều 15, những giấy tờ
nói trên đợc cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền cấp trên cơ sở những căn cứ sau: 1)
Do sinh ra; 2) Đợc nhập quốc tịch Việt
Nam; 3) Đợc trở lại quốc tịch Việt Nam;
4) Theo điều ớc quốc tế mà Cộng hòa x
hội chủ nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham
gia; 5) Các căn cứ khác theo quy định tại
đứa trẻ nh quy định của khoản 3 Điều 6
Luật quốc tịch Việt Nam 1988. Trờng
hợp trẻ em sinh ra trên lnh thổ Việt Nam
mà khi sinh có cha mẹ đều là ngời
không quốc tịch nhng có nơi thờng trú
ở Việt Nam hoặc có mẹ là ngời không
quốc tịch nhng có nơi thờng trú ở Việt
Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc
tịch Việt Nam (Điều 18 Luật quốc tịch
Việt Nam 1998). Khoản 4 Điều 6 Luật
quốc tịch Việt Nam 1988 chỉ đề cập
trờng hợp đầu, bỏ ngỏ trờng hợp thứ
hai; Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam
1998 đề cập vấn đề quốc tịch đứa trẻ
đợc tìm thấy trên lnh thổ Việt Nam mà
không rõ cha, mẹ là ai đồng thời có bổ
sung quy định về quốc tịch của trẻ sơ sinh
bị bỏ rơi trên lnh thổ Việt Nam mà
không rõ cha mẹ là ai thì những đứa trẻ
đó có quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên,
nếu đứa trẻ nói trên cha đủ 15 tuổi mà
tìm thấy cha mẹ đều có quốc tịch nớc
ngoài hay cha hoặc mẹ có quốc tịch nớc
ngoài hoặc ngời giám hộ có quốc tịch
nớc ngoài thì đứa trẻ đó không còn quốc
tịch Việt Nam. Đối với ngời từ đủ 15
tuổi đến dới 18 tuổi thì phải đợc sự
đồng ý bằng văn bản của ngời đó (khoản
2 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam
1998).
tiếng Việt mà phải biết đủ để hòa nhập
vào cộng đồng x hội Việt Nam; có khả
năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam,
tức là phải có việc làm hoặc có nguồn thu
nhập hoặc đợc ngời khác bảo lnh
(Luật quốc tịch 1988 không quy định
điều kiện này).
Công dân nớc ngoài và ngời không
quốc tịch có thể đợc nhập quốc tịch Việt
Nam mà không phải có đủ 3 điều kiện
cuối nếu thuộc một trong những trờng
hợp sau: Là vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ
của công dân Việt Nam; có công lao
đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ tổ quốc Việt Nam; có lợi cho Nhà
nớc Cộng hòa x hội chủ nghĩa Việt
Nam (điểm a, b, c khoản 2 Điều 20).
Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam 1998
quy định: "Nhà nớc Cộng hòa x hội
chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân
Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch
Việt Nam". Vì vậy, về nguyên tắc, ngời
nớc ngoài đợc nhập quốc tịch Việt
Nam phải từ bỏ quốc tịch trớc đó của
mình. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 20 trao
cho Chủ tịch nớc quyền quyết định
những trờng hợp đặc biệt ngời nớc
ngoài đợc nhập quốc tịch Việt Nam mà
vẫn giữ nguyên quốc tịch trớc đó của
mình. Nh vậy, trong một số trờng hợp,
phải làm đơn xin nhập quốc tịch Việt
Nam). thông tin
tạp chí luật học - 53
Thẩm quyền và thủ tục giải quyết các
vấn đề quốc tịch đợc quy định cụ thể tại
Chơng V của Luật quốc tịch Việt Nam
1998. Theo quy định của Luật quốc tịch
Việt Nam 1998, Quốc hội có thẩm quyền
ban hành văn bản quy phạm pháp luật về
quốc tịch Việt Nam; giám sát tối cao việc
tuân theo pháp luật về quốc tịch Việt
Nam; phê chuẩn hoặc bi bỏ điều ớc
quốc tế mà Cộng hòa x hội chủ nghĩa
Việt Nam kí kết hoặc tham gia về quốc
tịch theo đề nghị của Chủ tịch nớc (Điều
31). Chủ tịch nớc có thẩm quyền cho
nhập quốc tịch Việt Nam; cho trở lại
quốc tịch Việt Nam; hủy bỏ quyết định
cho nhập quốc tịch Việt Nam; kí kết điều
ớc quốc tế nhân danh Nhà nớc Cộng
hòa x hội chủ nghĩa Việt Nam; quyết
định phê chuẩn hoặc tham gia điều ớc
quốc tế về quốc tịch hoặc liên quan đến
quốc tịch, trừ trờng hợp cần trình Quốc
hội quyết định (Điều 32). Chính phủ có
thẩm quyền trình Quốc hội, ủy ban
quốc tịch theo quy định của Chính phủ
(Điều 34). ủy ban nhân dân tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ơng có thẩm quyền
nhận và xem xét hồ sơ xin nhập, xin trở
lại và xin thôi quốc tịch Việt Nam; đề
nghị về việc giải quyết các hồ sơ đó; kiến
nghị việc tớc quốc tịch Việt Nam và việc
hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch
Việt Nam; xét và cấp giấy chứng nhận có
quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất
quốc tịch Việt Nam (Điều 35). Cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan lnh sự của
Việt Nam ở nớc ngoài có thẩm quyền
nhận và xem xét hồ sơ xin trở lại và xin
thôi quốc tịch Việt Nam; trong trờng
hợp cá biệt nhận hồ sơ xin nhập quốc tịch
Việt Nam; đề nghị về việc giải quyết các
hồ sơ đó; kiến nghị việc tớc quốc tịch
Việt Nam và việc hủy bỏ quyết định cho
nhập quốc tịch Việt Nam; xét và cấp giấy
chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy
xác nhận mất quốc tịch Việt Nam (Điều
36 ).
Các vấn đề về quốc tịch đợc giải
quyết theo thủ tục sau:
Ngời xin nhập, xin trở lại, xin thôi
quốc tịch Việt Nam, xin cấp giấy chứng
nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác
nhận mất quốc tịch Việt Nam trong nớc
thì nộp đơn cho ủy ban nhân dân tỉnh,
của Việt Nam ở nớc ngoài sẽ xét và cấp
trên cơ sở chỉ đạo và hớng dẫn của
Chính phủ trong thời hạn không quá 90
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ
(Điều 37, 38, 39).
Khiếu nại đối với quyết định hành
chính, hành vi hành chính của bộ, cơ
quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ơng, cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan lnh sự của
Việt Nam ở nớc ngoài và tố cáo đối với
những hành vi trái pháp luật trong việc
giải quyết các vấn đề về quốc tịch Việt
Nam đợc giải quyết theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo (khoản 1,
Điều 40).
Trờng hợp xảy ra tranh chấp giữa cá
nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam
sẽ do tòa án giải quyết theo thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự (khoản 2 Điều
40)./.
Vấn đề đình chỉ
(tiếp theo trang 48)
theo nguyên tắc biểu quyết đa số. Tuy
nhiên, điều luật này không xác định rõ
căn cứ để hội đồng xét xử ra quyết định.
Theo chúng tôi, điều này cũng gây
không ít khó khăn cho việc áp dụng, bởi
lẽ nếu không xác định một cách cụ thể
quyết vụ án hình sự. Chúng tôi mong
muốn góp ý kiến của mình vào quá trình
sửa đổi, bổ sung BLTTHS của Nhà nớc
ta hiện nay sao cho Bộ luật này ngày
càng hoàn thiện, dễ áp dụng và đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn./.