TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
BỘ MÔN SINH HỌC VÀ BỆNH THUỶ SẢN
NGÔ MINH DUNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG GÂY BỆNH CỦA VI
KHUẨN Edwardsiella ictaluri VÀ Aeromonas hydrophila
TRÊN CÁ TRA ( Pangasius hypophthalmus)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
CHUYÊN NGÀNH BỆNH HỌC THUỶ SẢN
i
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu khả năng gây bệnh của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
và Aeromonas hydrophila trên cá tra” được thực hiện bởi hai thí nghiệm gây
cảm nhiễm vi khuẩn Aeromonas hydrophila (A. hydrophila) và Edwardsiella
ictaluri (E. ictaluri) trên cá tra giống bằng phương pháp tiêm. Mỗi thí nghiệm
CFU/ml và 1×10
8
CFU/ml kết quả thu
được ở nghiệm thức 1×10
8
CFU/ml có thời gian biểu hiện bệnh lý sớm nhất là
37 giờ sau khi tiêm vi khuẩn cho cá. Chủng vi khuẩn sử dụng gây cảm nhiễm
có giá trị LD
50
= 10
6,5
CFU/ml.
Trong cả hai thí nghiệm, khi quan sát biến đổi mô học ở các cơ quan gan, thận
và tỳ tạng chỉ thấy có hiện tượng sung huyết và xuất huyết, không có hiện
tượng hoại tử ở các cơ quan. ii
4.1 Dấu hiệu bệnh lý của cá sau gây cảm nhiễm 13
4.2 Tỷ lệ cá chết và kết quả LD50 sau khi gây cảm nhiễm 14
4.2.1 Thí nghiệm gây cảm nhiễm A. hydrophila 14
4.2.2 Thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn E. ictaluri 18
4.3 Tổn thương do vi khuẩn A. hydrophila và E. ictaluri trên một số cơ
quan của cá tra 20
4.3.1 Những biến đổi mô học do vi khuẩn A. hydrophila 20
4.3.2 Những biến đổi mô học do vi khuẩn E. ictaluri 23
4.4 Kết quả tái định danh vi khuẩn 26
4.4.1 Tái định danh vi khuẩn A. hydrophila 26
4.4.2 Tái định danh vi khuẩn E. ictaluri 27
4.5 Một số hạn chế trong quá trình thí nghiệm 28
Chương 5: Kết luận và đề xuất 29
5.1 Kết luận 29
5.2 Đề xuất 29
Tài liệu tham khảo 30
Phụ lục 34
iii
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
DANH SÁCH BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Nồng độ vi khuẩn sử dụng gây cảm nhiễm 10
Bảng 4.1 Thời gian cá bắt đầu xuất hiện bệnh 15
Bảng 4.2 Tỉ lệ cá chết trong thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn
A. hydrophila 15
Bảng 4.3 Thời gian cá bắt đầu xuất hiện bệnh 18
Bảng 4.4 Tỉ lệ cá chết trong thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn
E. ictaluri 18
Trang
Hình 4.1 Biểu hiện bên ngoài cá tra bị nhiễm A. hydrophila 13
Hình 4.2 Nội tạng cá tra nhiễm A. hydrophila bị xuất huyết 13
Hình 4.3 Cá tra nhiễm E. ictaluri bị đốm trắng ở nội tạng 14
Hình 4.4 Mô gan cá tra bị nhiễm A. hydrophila 22
Hình 4.4 Mô thận và tỳ tạng cá tra bị nhiễm A. hydrophila 23
Hình 4.5 Mô cá tra bị nhiễm E. ictaluri 26
Hình 4.5 Mô cá tra bị nhiễm E. ictaluri 27
Hình 4.6 Kết quả test các chỉ tiêu sinh hóa của chủng Xương-CĐ3L310
28
Hình 4.8 Kết quả test các chỉ tiêu sinh hóa của chủng Tỷ-PT207 29
v
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
Trong thời gian gần đây, dịch cúm gia cầm và bệnh lở mồm long móng, bệnh
tai xanh ở lợn lan rộng ở nhiều nước trên thế giới. Dịch bệnh cũng đã xuất
hiện ở Việt Nam đã làm giảm đáng kể nguồn thực phẩm phục vụ cho đời sống
con người. Người tiêu dùng bắt đầu chọn sản phẩm thủy sản dùng làm thực
phẩm dinh dưỡng hàng ngày. Theo công bố của bộ thủy sản ngày 05-12-2005
thì kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành thủy sản đạt 2,5 tỉ USD (trích dẫn bởi
Trần Thị Ngọc Hân, 2006). Điều này cho thấy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thủy
sản ở Việt nam hiện nay là rất lớn. Việc quy hoạch vùng nuôi và đẩy mạnh
nuôi các đối tượng thủy sản có giá trị xuất khuẩu với mức đầu tư rất cao, quy
mô thâm canh hóa tạo ra sản phẩm sạch mà không tác động đến môi trường
đang là vấn đề rất quan trọng đặt ra cho các nhà khoa học, những người quản
lý và đầu tư nuôi trồng thủy sản.
Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là một trong những đối tượng nuôi đang
bệnh xảy ra làm thiệt hại hàng trăm triệu đồng/hộ nuôi. Từ những vấn đề trên
đề tài “Nghiên cứu khả năng gây bệnh của vi khuẩn Edwardsiella ictaluri
và Aeromonas hydrophila trên cá tra” được thực hiện.
Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu đặc điểm sinh lý sinh hóa và khả năng gây bệnh của hai dòng vi
khuẩn E. ictaluri và A. hydrophila trên cá tra.
Nội dung đề tài
1. Xác định LD
50
của vi khuẩn E. ictaluri và A. hydrophila trên cá tra trong
điều kiện gây cảm nhiễm bằng phương pháp tiêm với các mật độ vi khuẩn
khác nhau.
2. Khảo sát sự biến đổi về cấu trúc mô học ở 3 cơ quan gan, thận, tỳ tạng
của cá tra đã gây cảm nhiễm vi khuẩn E. ictaluri và A. hydrophila. 2
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra
Cá tra là một trong những loài cá da trơn ở hạ lưu sông Mê kông thuộc địa
phận Việt Nam.
Theo Nguyễn Bạch Loan (2004) cá tra có hệ thống phân loại như sau:
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasidae
Chi: Pangasius
Loài: Pangasius hypophthalmus
Theo Dương Nhựt Long (2006), cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê kông, có ở
Aeromonas là vi khuẩn Gram âm, di động, hình que hoặc hình que cầu, hiếu
khí và yếm khí không bắt buộc, khử Nitrate, có khả năng lên men, Oxidase
dương tính, kháng với O/129 (Từ Thanh Dung, 2005)
Điều kiện sống và gây bệnh
Ở Châu Âu, bệnh do A. hydrophila trên cá chình thường xuất hiện vào mùa
xuân - hè, nhiệt độ nước khoảng 17
o
C - 22
o
C, khoảng nhiệt độ này cũng được
cho là khoảng nhiệt độ thích hợp cho vi khuẩn này phát triển (Esteve et al.,
1993). Bên cạnh đó, Groberg (1978) khi gây cảm nhiễm A. hydrophila trên cá
hồi giống đã kết luận tỉ lệ chết thường cao ở 20,5
o
C và 17
o
C, tỉ lệ chết thấp
hơn ở 15
o
C và 12
o
C, còn ở 9
o
C hay thấp hơn nữa thì cá chết rất ít hoặc không
thấy các chết (trích dẫn bởi Roselynn and Stevenson, 1988).
Báo cáo của Rahman et al., (2000) cũng cho rằng vi khuẩn A. hydrophila có
độc lực cao nhất ở 17
o
C (LD
50
8
CFU/ml), tiêm dưới da (mật độ vi
khuẩn 8,5x10
4
- 8,5×10
8
CFU/ml) và ngâm vi khuẩn (mật độ vi khuẩn 4,6x10
4
- 4,6×10
8
CFU/ml). Sau khi so sánh đã đưa kết luận gây cảm nhiễm bằng
phương pháp tiêm dưới da thì độc lực của vi khuẩn mạnh nhất với giá trị LD
50
4
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
là 10
6,4
CFU/ml. Bên cạnh đó, Azad et al., (2001) gây cảm nhiễm tiêm vi
khuẩn này trên cá rô phi, ở mật độ vi khuẩn 10
7
CFU/ml đã gây chết trên 80%.
Ngoài ra, Đoàn Nhật Phương (2001) thí nghiệm gây cảm nhiễm 15 chủng A.
hydrophila trên cá chép bằng phương pháp tiêm với mật độ vi khuẩn từ 10
3
CFU/ml đến 10
7
hụt lớn ở cá tra giống từ 10% - 90% (Từ Thanh Dung và ctv., 2004). Đầu năm
2006 ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp cá chết do bệnh mủ gan lên tới 60%
(Bộ tài nguyên môi trường Việt Nam, 2006).
Đặc điểm sinh hóa
E. ictaluri là loài vi khuẩn thuộc Enterobacteriaceace, gram âm, hình que
ngắn, di động yếu hoặc không di động. Catalase dương tính, oxidase âm tính
và lên men glucose, không sinh ra H
2
S và Indole âm tính. Vi khuẩn E. ictaluri
phát triển trên môi trường TSA chậm 36-48 giờ ở nhiệt độ 28-30
o
C (Từ Thanh
Dung, 2005).
Điều kiện sống và gây bệnh
Theo Từ Thanh Dung (2005) bệnh bắt đầu xuất hiện vào tháng 5 và phát triển
mạnh nhất vào khoảng tháng 7 đến tháng 10 rồi giảm xuống ở các tháng còn
lại. Đặc biệt bệnh mủ gan xuất hiện vào thời gian lũ về là cao nhất với tỉ lệ
87,8% số hộ nuôi cá ghi nhận ở An Giang (Trần Anh Dũng, 2005). Lê Thị Bé
5
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Năm (2002) cũng cho rằng bệnh xuất hiện mạnh vào mùa lũ trong năm, nước
đục mang nhiều phù sa, chất lượng nước biến động, đồng thời nước chảy
mạnh cá dễ bị sốc, giảm khả năng đề kháng đối với mầm bệnh vì vậy bệnh dễ
dàng bộc phát. Bệnh xuất hiện ở tất cả các giai đoạn nhưng gây thiệt hại
nghiêm trọng ở giai đoạn cá lứa.
Khi nhiệt độ nước dao động trong khoảng 26
o
C - 28
o
o
C
(Francis-Floy et al., 1987).
Dấu hiệu bệnh lý
Cá bị bệnh không có những dấu hiệu bất thường bên ngoài. Ở giai đoạn mới
chớm bệnh cá vẫn còn bắt mồi. Tuy nhiên ở giai đoạn này nếu không phát
hiện sớm và môi trường nuôi quá bẩn thì bệnh cá sẽ trở nên trầm trọng hơn và
rất khó khăn trong điều trị. Khi bị bệnh nặng hơn, cá có biểu hiện gầy, bơi lờ
đờ, da nhợt nhạt, có hiện tượng xuất huyết trên da và hậu môn. Bên trong nội
quan (gan, thận, tỳ tạng) xuất hiện những đốm trắng đường kính từ 1-3mm các
cơ quan này sưng to và có hiện tượng nhũn ở thận (Từ Thanh Dung và ctv,
2004)
Một số thí nghiệm gây cảm nhiễm
Wolter và Johnson (1994) gây cảm nhiễm (bằng phương pháp ngâm) trên Cá
Nheo Mỹ (15-20 cm) với mật độ vi khuẩn E. ictaluri 1,2.10
6
CFU/ml ở 25
o
C,
tốc độ nước chảy 1L/phút, cho ăn 3% trọng lượng thân/ngày. Tỉ lệ chết dao
động từ 38-95,3% trong thời gian thí nghiệm là 7 ngày (trích dẫn từ Phan Thị
Mỹ Hạnh, 2004). Klesius & Sealey (1995) sử dụng E. ictaluri với mật độ
1x10 CFU/mL ngâm trong một giờ trên Cá Nheo (14-17 cm). Tỉ lệ chết là
28% trong vòng 5-20 ngày.
7
Gần đây nhất, Williams và Lawrence (2005) đã sử dụng vi khuẩn E. ictaluri
R4383 WT và R4383 HM với nồng độ lần lượt là 7,0x10
7
CFU/ml và
7,2x10 CFU/ml ngâm trên cá Nheo Mỹ trong thời gian 30 phút, tỉ lệ chết là
7
CFU/ml trong 1 giờ, thời gian theo dõi thì nghiệm là 10 ngày thì ở mật độ
1x10
7
CFU/ ml có tỉ lệ cá chết cao nhất (75% số cá thí nghiệm) so với 2 nồng
độ còn lại là 1x10
5
CFU/ml và 1x10
6
CFU/ml. Và đưa ra kết luận rằng mật độ
vi khuẩn 1x 10
7
CFU/ml có độc lực cao nhất. Bên cạnh đó, Lương Trần Thục
Đoan cũng gây cảm nhiễm bằng phương pháp tiêm với mật độ vi khuẩn từ
1x10
4
CFU/ml đến 1x10
6
CFU/ml đã cho rằng mật độ vi khuẩn 1x10
5
CFU/ml
và 1x10
6
CFU/ml có độc lực đủ mạnh để gây chết cá trong thí nghiệm tiêm (ở
1x10
6
CFU/ml cá chết 100% chỉ sau 5 ngày thí nghiệm) và kết luận rằng
phương pháp tiêm vi khuẩn làm cá chết nhanh hơn phương pháp ngâm vi
khuẩn trong khoảng thời gian 1 giờ. Trong khi đó, Phan Thị Mỹ Hạnh (2004)
7
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện từ tháng 03/2007 đến tháng 06/2007.
- Địa điểm nghiên cứu tại trại thực nghiệm bệnh cá và phòng thí nghiệm bệnh
học thủy sản - Khoa Thủy Sản - Trường Đại Học Cần Thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ thí nghiệm
- Bể composit: 36 bể, mỗi bể 80 lít.
- Máy sục khí, hệ thống sục khí, xô nhựa, vợt.
- Dụng cụ tiểu phẫu, que cấy, đèn cồn, khay nhựa, bình xịt cồn, giấy tissues,
bút lông, kính hiển vi, lame.
- Cốc thủy tinh, lọ thủy tinh, đĩa Petri, ống đong.
- Ống tiêm, kim tiêm.
- Cân điện tử, máy Autolauve, máy ly tâm.
- Máy đúc khối, máy cắt lát mỏng, máy xử lý mẫu.
- Tủ ấm, tủ lạnh, tủ sấy.
- Máy ảnh, sổ ghi chép theo dõi hàng ngày.
3.2.2 Hóa chất thí nghiệm
- Chlorin, cồn, nước cất, formol (70%, 10%)
- Môi trường nuôi cấy vi khuẩn: TSA (Trypticase soya agar), NB (Nutrient
broth).
- Các loại hóa chất nhuộm Gram.
- Các hóa chất Test sinh hóa để định danh các dòng vi khuẩn theo phương
- Mẫu vi khuẩn được trữ vào tháng 11/2006 ở nhiệt độ -80
o
C.
Mã vi khuẩn A. hydrophila: Xương-CĐ3L310
Mã vi khuẩn E. ictaluri: Tỷ-PTK207
- Vi khuẩn trữ được cấy trên môi trường TSA để có khuẩn lạc rồi tiếp tục
đem cấy sang trên môi trường TSA để chắc chắn có khuẩn lạc thuần, kiểm
tra tính thuần dựa vào các chỉ tiêu về hình thái: hình dạng, màu sắc khuẩn
lạc, nhuộm gram.
- Vi khuẩn đã thuần được nuôi tăng sinh trong 100 ml NB, ủ trong tủ ấm ở
28
o
C từ 24-48 giờ.
- Sau đó vi khuẩn được ly tâm với tốc độ 5.000 vòng/phút ở 4
o
C trong vòng
5 phút. Tiếp đó vi khuẩn sẽ được rửa sạch 3 lần trong nước muối sinh lý
bằng cách ly tâm ở 5.000 vòng/phút ở 4
o
C trong vòng 5 phút (Theo
Rahman et al., 2000)
- Xác định mật độ vi khuẩn bằng hai cách tiến hành song song
1. Mật độ vi khuẩn được đo bằng máy so màu quang phổ ở bước sóng 610
nm. Với OD = 1 tương đương với mật độ vi khuẩn là 1×10
9
CFU/ml (Theo
Lương Trần Thục Đoan, 2006).
2. Pha loãng dung dịch vi khuẩn, dùng pipet hút 20µl cho lên môi trường
TSA, lặp lại 7 lần (140µl/ độ pha loãng/ dòng vi khuẩn). Cho vi khuẩn
phát triển 24-48 giờ ở điều kiện 28
2 2,16 × 10
4
1 × 10
6
3 2,16 × 10
5
1 × 10
7
4 2,16 × 10
6
1 × 10
8
- Tiêm 0,1 ml vi khuẩn cho mỗi con cá, mẫu đối chứng tiêm 0,1 ml dung dịch
nước muối sinh lý. Vị trí tiêm ở gốc vi ngực.
- Thời gian theo dõi sau khi gây cảm nhiễm là 10 ngày.
3.3.3 Phương pháp thu mẫu
- Quan sát và ghi nhận các dấu hiệu bệnh lý, số cá chết cá ở các mốc thời
gian 1h, 3h, 6h, 9h, 12h, 18h, 24h, ngày 2,…ngày 14 sau khi gây cảm
nhiễm.
- Tiến hành thu mẫu cá lờ đờ hay vừa mới chết và ghi nhận lại dấu hiệu bên
ngoài và bên trong cơ thể mẫu cá.
- Phân lập vi khuẩn ở 3 cơ quan: gan, thận, tỳ tạng.
- Thu mẫu mô ở 3 cơ quan: gan, thận, tỳ tạng. Cố định mẫu bằng dung dịch
NBF trong lọ nhựa.
50%
H
L
L
−
−
¾ a: số lũy thừa mà tại đó vi khuẩn gây chết cá thấp nhất (trên 50%)
¾ H%: tỷ lệ cá chết cao nhất (dưới 50%)
¾ L%: tỷ lệ cá chết thấp nhất (trên 50%)
3.3.6 Phương pháp định danh vi khuẩn
Chỉ tiêu về hình thái
- Hình dạng, màu sắc khuẩn lạc
- Nhuộm Gram và hình dạng của vi khuẩn.
Chỉ tiêu về sinh lý, sinh hóa (Chi tiết xem phần phụ lục A)
- Tính di động,
- Các phản ứng Oxydase, Catalase, O/129, Decarboxylase, Voges-Proskauer
(VP), Indole, Citrate, Ure, Asculin, phản ứng tạo Nitrite từ Nitrate; Khả
năng lên men và oxy hóa đường glucose (O-F test), khả năng sinh gas và
H
2
S, khả năng thủy phân Starch, Gelatin
Định danh vi khuẩn dựa theo phương pháp của Bergey (1974) và dòng chuẩn
vi khuẩn dựa theo dòng chuẩn của Inglis et al., (1993).
11
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
3.3.7 Phương pháp làm tiêu bản mẫu mô (chi tiết ở phần phụ lục B)
Thu mẫu ở 3 cơ quan: gan, thận, tỳ tạng. Cố định bằng dung dịch NBF trong
lọ nhựa, sau đó thực hiện các bước sau:
4.1 Dấu hiệu bệnh lý của cá sau gây cảm nhiễm
Thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila và E. ictaluri trên cá tra
giống được thực hiện trong cùng địa điểm và điều kiện thí nghiệm. Mỗi thí
nghiệm gồm có 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức với 3 lần lặp lại và 1 nghiệm
thức đối chứng. Kết quả sau khi gây cảm nhiễm ở tất cả các nghiệm thức đều
xuất hiện cá chết, trừ nghiệm thức đối chứng. Tổng số cá thí nghiệm là 208
con.
Trong quá trình thí nghiệm, cá được gây cảm nhiễm A. hydrophila có những
biểu hiện bơi lờ đờ, gầy, có hiện tượng xuất huyết ở các gốc vây, hậu môn,
xung quanh miệng. Cá sắp chết thường ngửa bụng, thả trôi theo nước. Giải
phẫu bên trong thấy bóng hơi căng phồng, gan tái nhợt hoặc sưng, thận sưng,
ruột, tuyến sinh dục, bóng hơi đều xuất huyết. Xoang bụng xuất huyết và có
nhiều dịch nhờn, có mùi hôi thối đặc trưng ngay cả khi cá còn sống (Hình 4.1). A
Hình 4.1 Biểu hiện bên ngoài cá tra bị nhiễm A. hydrophila (¼)
A. Cá bị xuất huyết miệng, mắt. B. Cá bị xuất huyết vi bụng và hậu môn
Hình 4.2 Nội tạng cá tra nhiễm A. hydrophila bị xuất huyết (¼)
13
14
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Bảng 4.1: Thời gian cá bắt đầu xuất hiện bệnh
Bảng 4.1 cho thấy ở nghiệm thức 2,16×10
6
CFU/ml có thời gian cá biểu hiện
bệnh lý sớm nhất 17 giờ và chậm nhất ở mật độ 2,16×10
3
CFU/ml là 26 giờ.
Trong khi đó thời gian xuất hiện bệnh ở nghiệm thức 2,16×10
5
CFU/ml là 18
giờ và nghiệm thức 2,16×10
4
CFU/ml là 18,5 giờ. Thời điểm xuất hiện bệnh
của thí nghiệm phù hợp với thời điểm xuất hiện dấu hiệu bệnh lý của chủng A
5
là 18,5 giờ trong thí nghiệm xác định LD
50
của A. hydrophila khi gây cảm
nhiễm trên cá chép (Cyprinus carpio) của Đoàn Nhật Phương (2001). Bên
cạnh đó, ở thí nghiệm xác định LD
50
của vi khuẩn này trên cá trắm cỏ
(Ctenopharyngodon) của Ngô Thị Ngọc Thủy (1998) cũng đã ghi nhận thời
điểm làm cá chết 50% là 24 giờ.
nhạy cảm của ký chủ và khả năng gây bệnh của chủng vi khuẩn sử dụng gây
cảm nhiễm. Bên cạnh đó, cùng với thời gian biểu hiện bệnh lý của các mật độ
vi khuẩn thì tỉ lệ cá chết ớ các nghiệm thức cũng cho thấy được độc lực của
chủng vi khuẩn.
Bảng 4.2: Tỉ lệ cá chết trong thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila
Tỉ lệ trung bình cá chết trong thời gian theo dõi
(%/tổng số cá/ngày)
Nghiệm thức
(CFU/ml)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tỉ lệ cá chết
(%)
Đối chứng 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2,16×10
3
0 50 4,17 0 0 0 0 0 0 0 54,17±7,22
2,16×10
4
33,33 41,66 0 0 0 0 0 0 0 0 75±12,5
2,16×10
5
62,5 12,5 4,17 0 0 0 0 0 0 0 79,17±26
2,16×10
6
75 8,33 0 0 0 0 0 0 0 0 83,33±14,43
15
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Kết quả bảng 4.2 cho thấy ở nghiệm thức 2,16×10
6
thứ 2 và chỉ xuất hiện trong vòng 2 ngày.
Qua kết quả thí nghiệm nhận thấy rằng, cá chỉ chết tập trung chỉ trong vòng 2-
3 ngày, những ngày sau đó không thấy xuất hiện cá chết. Ở các nghiệm thức
cá đều chết với tỉ lệ cao từ 75% đến 83,33%. Riêng ở nghiệm thức với mật độ
vi khuẩn thấp nhất 2,16×10
3
CFU/ml cũng có tỉ lệ chết khá cao là 54,17%.
Kết quả của thí nghiệm không xác định được giá trị LD
50
của chủng vi khuẩn
A. hydrophila đem gây cảm nhiễm, vì ở nghiệm thức có mật độ vi khuẩn thấp
nhất đã có tỉ lệ cá chết trên 50%. Trong khi đó, thí nghiệm xác định LD
50
vi
khuẩn này trên cá chép, Đoàn Nhật Phương (2001) đã kết luận chủng
A. hydrophila có độc lực mạnh nhất với giá trị LD
50
từ 2,64×10
6
CFU/ml đến
4,52×10
6
CFU/ml. Chủng A. hydrophila trong thí nghiệm của Ngô Thị Ngọc
Thủy (1998) cũng ghi nhận giá trị LD
50
= 1,35×10
7
CFU/ml.
Ngoài ra, trong thí nghiệm so sánh độc lực của các dòng A. hydrophila có ECP
(Extracellular products) khác nhau, Thompson và Adams (1998) đã kết luận
50
=1,4×10
4
CFU/ml khi gây
cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila ở cá thơm (ayu Plecogrossus). Bên cạnh
đó, trên cá rô phi (Oreochromis mossambicus) với vi khuẩn A. hydrophila
16
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chủng SAH 93 và thu được kết quả LD
50
= 10
6,22
CFU/ml, cá bị nhiễm bệnh có
những biểu hiện bệnh lý rất rõ (Azad et al., 2001).
Hơn nữa, ở thí nghiệm xác định độc lực của các chủng A. hydrophila khác
nhau, De Figuerredo và Plumb (1977) đã gây cảm nhiễm trên cá nheo Mỹ và
đưa kết luận chủng A. hydrophila được phân lập từ cá bệnh có giá trị
LD
50
= 6,4×10
4
CFU/ml, trong khi đó chủng phân lập từ môi trường có
LD
50
= 1,5×10
8
CFU/ml.
Qua các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy vi khuẩn gây bệnh cho ký chủ
ở mức nào còn tuỳ thuộc vào khả năng gây bệnh của vi khuẩn ấy đối với ký
10
7
CFU/ml thì chủng vi khuẩn không có độc lực. Do đó chủng vi khuẩn
A. hydrophila trong thí nghiệm gây cảm nhiễm là có độc lực.
17
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
4.2.2 Thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn E. ictaluri
Cũng như ở thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn A. hydrophila, ở thí nghiệm
này, sau khi gây cảm nhiễm đều xuất hiện cá chết ở tất cả các nồng độ vi
khuẩn và xuất hiện bệnh lý ở những mốc thời gian khác nhau.
Ở nghiệm thức 1×10
8
CFU/ml có thời gian cá biểu hiện bệnh lý sớm nhất 37
giờ và chậm nhất ở mật độ 1×10
5
CFU/ml là 86 giờ. Trong khi đó thời gian
xuất hiện bệnh ở nghiệm thức 1×10
6
CFU/ml là 72,5 giờ và nghiệm thức
1×10
7
CFU/ml là 61 giờ (Bảng 4.3)
phản ánh khả năng gây bệnh của chủng vi khuẩn lên vật chủ.
Bảng 4.4:
Tỉ lệ cá chết trong thí nghiệm gây cảm nhiễm vi khuẩn E. ictaluri
Tỉ lệ trung bình cá chết trong thời gian theo dõi
(%/tổng số cá/ngày)
Nghiệm
thức
(CFU/ml)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tổng tỉ lệ cá
chết (%)
Đối chứng 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
1×10
5
0 0 0 25 0 0 0 0 0 0 25±12,5
1×10
6
0 0 4,17 25 4,17 0 0 0 0 0 33,33±14,43
1×10
7
0 0 50 12,5 4,17 0 0 0 0 0 66,67±7,22
1×10
8
0 50 41,66 0 0 0 0 0 0 0 91,67±7,22
Kết quả bảng 4.4 cho thấy ở nghiệm thức 1×10
8
CFU/ml cá chết với tỉ lệ cao
nhất 91,67%. Tỉ lệ chết thấp nhất 25% ở mật độ 1×10
5
CFU/ml. Trong khi đó,
50
= 10
6,5
CFU/ml. Trong khi đó, Lương
Trần Thục Đoan (2006) sử dụng mật độ vi khuẩn 1×10
6
CFU/ml và 1×10
5
CFU/ml tiêm trên cá tra giống đã thu được tỉ lệ chết 100% và 66,7% trong
khoảng thời gian theo dõi 10 ngày, trong đó mật độ 1×10
6
CFU/ml cá bắt đầu
chết ở ngày thứ 2 và 1×10
5
CFU/ml là ngày thứ 3. Ở thí nghiệm xác định khả
năng bộc phát bệnh của vi khuẩn này lên cá tra sau khi tiêm, sử dụng mật độ
1,5x10
5
CFU/0,1ml và 1,5x10
6
CFU/0,1ml đã thu được tỷ lệ chết ở cả 2 nồng
độ là 100% trong 6 ngày thí nghiệm (Phan Thị Mỹ Hạnh, 2004). Ngoài ra,
Williams và Lawrence (2005) sử dụng mật độ 5,2x10
4
CFU/ml và 5,2x10
5
CFU/ml tiêm trên cá nheo giống trong khoảng nhiệt độ nước 26
0
8
CFU/ml có tỉ lệ chết
cao nhất là 92%.
Qua các nghiên cứu trước đây cho thấy vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể của ký
chủ tạo nên sự nhiễm bệnh hay không, ở mức nào còn tuỳ thuộc vào khả năng
gây bệnh của vi khuẩm đối với ký chủ và điều kiện tác động. Với kết quả thí
nghiệm trên, tuy độc lực của dòng vi khuẩn đem gây cảm nhiễm không cao
nhưng theo Santos (1988) vi khuẩn được xem như không có độc lực khi có giá
19
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu