ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra - Pdf 10


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THUỶ SẢN
TRẦN THỊ BÉ
ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ LÊN MỨC ĐỘ VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN CỦA CÁ TRA
(Pangasius hypophthalmus) GIAI ĐOẠN GIỐNG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
3.3.1 Vật liệu nghiên cứu 11
3.3.2 Nguồn cá thí nghiệm 11
3.3.3 Thức ăn thí nghiệm 11
3.3.4 Bố trí thí nghiệm 12
3.3.5 Phương pháp thu mẫu và ghi nhận kết quả 15
3.4 Các chỉ tiêu thu thập, tính toán, phân tích và xử lý số liệu 16
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
iv

3.4.1 Các chỉ tiêu tính toán 16
3.4.2 Các chỉ tiêu phân tích 17
3.4.3 Xử lý số liệu 17
Chương 4: Kết quả và thảo luận 18
4.1 Khả năng sử dụng thức ăn của cá tra (P.hypophthalmus) giai đoạn giống
ở các mức nhiệt độ khác nhau từ 22 – 36
0
C 18
4.2 Xác định lượng thức ăn, hiệu quả sử dụng protein và năng lượng
của cá tra (P.hypophthalmus) giai đoạn giống ở 31 – 32
0
C 20
4.2.1 Môi trường bể nuôi 20
4.2.2 Tỷ lệ sống 20
4.2.3 Sinh trưởng 21
4.2.4 Hệ số thức ăn 23
4.2.5 Hiệu quả sử dụng và tích lũy protein 24
4.2.6 Hiệu quả sử dụng và tích lũy năng lượng 26
4.2.7 Thành phần hóa học của cá thí nghiệm 28
Chương 5: Kết luận và đề xuất 29
5.1 Kết luận 29

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
viDANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Con đường chuyển hóa năng lượng trong cơ thể cá 6
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 13
Hình 3.2 Hệ thống bể bố trí thí nghiệm 1 14
Hình 3.3 Hệ thống bể bố trí thí nghiệm 2 15
Hình 4.1 Mối tương quan giữa SGR (%/ngày) và lượng thức ăn
cá ăn vào/ngày 22

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên hiệu quả sử dụng thức ăn của cá
tra giai đoạn giống được tiến hành với 2 thí nghiệm. Thức ăn thí nghiệm có
hàm lượng đạm (32,83%) và mức năng lượng (4,7 kcal/g). Cá thí nghiệm có
nguồn gốc sinh sản nhân tạo, khối lượng cá trung bình ban đầu là 30-50 g/con.
Thí nghiệm xác định lượng thức ăn sử dụng tối đa của cá tra ở các mức nhiệt
độ khác nhau được tiến hành với 8 nghiệm thức ở các mức nhiệt độ từ 22–
36
0
C, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Thí nghiệm được bố trí trong hệ
thống bể có nước chảy tràn (500 L/bể) có sục khí với mật độ là 40 con/bể. Ở
mỗi mức nhiệt độ cá được cho ăn tối đa theo nhu cầu và ghi nhận lượng thức
ăn sử dụng của cá trong 5 ngày. Kết quả của thí nghiệm cho thấy cá sử dụng
thức ăn tốt nhất ở 31–32
0
C với lượng thức ăn là 4,86% khối lượng thân, cá
ngừng ăn ở 21–22
0
C và 35–36
0
C.
Thí nghiệm xác định lượng thức ăn thích hợp, hiệu quả sử dụng protein và
năng lượng của cá tra được thực hiện ở 31–32
0
C (mức nhiệt độ cá sử dụng
thức ăn tốt nhất ở thí nghiệm 1) với 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp
lại 3 lần. Các nghiệm thức được bố trí ngẫu nhiên trong hệ thống gồm 15 bể
(100L/bể), các bể gắn với hệ thống lọc cơ học tuần hoàn, có sục khí, mật độ cá
20 con/bể. Cá được cho ăn 2 lần/ngày với các khẩu phần ăn đã được định sẵn
0; 1,5; 3; 4,5; 4,86 (tối đa) % khối lượng thân. Thời gian thí nghiệm là 28
ngày. Kết quả cho thấy cá duy trì cơ thể khi cho ăn với khẩu phần 0,45% khối

đối tượng nuôi quan trọng ở các tỉnh như An Giang, Đồng Tháp và Cần Thơ
với các hình thức nuôi thâm canh trong ao, bè…Trong nuôi cá thâm canh thì
giá thành thức ăn chiếm rất lớn, đặc biệt là hàm lượng đạm trong thức ăn đóng
vai trò rất quan trọng, bởi lẻ hàm lượng này thấp hay cao hơn nhu cầu của cơ
thể đều có thể gây ra các tác hại như sinh trưởng chậm, không bình thường
hay mẫn cảm với mầm bệnh (Tacon, 1995 được trích bởi Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 1997). Ngoài ra thức ăn dư thừa sẽ gây lãng phí làm thức ăn
trở nên đắc tiền không cần thiết, tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả người
nuôi…
Có khá nhiều nghiên cứu về cá da trơn trên thế giới nhất là nghiên cứu về nhu
cầu dinh dưỡng như nhu cầu protein, năng lượng, carbohydrate, lượng thức ăn
sử dụng hay một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
và phát triển của cá. Trong đó có nghiên cứu của Henken và ctv (1986) về ảnh
hưởng của protein và năng lượng lên sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức
ăn của cá trê phi (Clarias gariepinus). Nghiên cứu về khả năng sử dụng
protein và năng lượng ở 3 loài cá da trơn Châu Á (P. bocourti, P.
hypophthalmus and P. djambal) của Lê Thanh Hùng và ctv, 2004. Ngoài các
nghiên cứu về protein và năng lượng còn có một số nghiên cứu khác về các
yếu tố môi trường tác động đến sinh trưởng của cá như nghiên cứu của
Buentello và ctv (1999) về sự ảnh hưởng của nhiệt độ nước và hàm lượng oxy
hòa tan lên khả năng sử dụng thức ăn và sự tăng trưởng trên cá nheo Mỹ
(Itaclurus punctatus). Nghiên cứu của Usmani và Jafri (2002) về ảnh hưởng
của kích cỡ cá và nhiệt độ lên khả năng sử dụng protein của cá hai loài cá da
trơn (H. fossilis và C. gariepinus). Hay ảnh hưởng của các mức nhiệt độ khác
nhau lên khẩu phần ăn và quá trình trao đổi chất trên cá Rhamdia quelen của
Lermen và ctv (2004). Bên cạnh những vấn đề trên thì mức độ cho ăn cũng
không kém phần quan trọng đối với sự phát triển của cá. Điều này đã được
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống


- Xác định lượng thức ăn sử dụng tối đa của cá tra giống ở các mức nhiệt độ từ
22 đến 36
0
C, với bậc thang nhiệt độ là 2
0
C.
- Xác định lượng thức ăn thích hợp, hiệu quả sử dụng năng lượng và protein
của cá tra giống ở mức nhiệt độ cá sử dụng thức ăn tốt nhất. Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

3

CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của cá tra
2.1.1 Hệ thống phân loại
Theo kết quả định danh của Robert và Vidthayanon (1991), cá tra thuộc
Bộ: Siluriformes
Họ: Pangasiidae
Giống: Pangasius
Loài: Pangasius hypophthalmus Sauvage,1878
2.1.2 Phân bố
Ngoài tự nhiên cá sống ở lưu vực sông Cửu Long (Thái Lan, Lào, Campuchia
và Việt Nam). Ở Việt Nam, cá tra phân bố ở vùng hạ lưu sông Cửu Long, cá
có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù, nước đọng, nhiều chất hữu cơ, hàm
lượng oxy hoà tan thấp và có thể nuôi với mật độ cao (Nguyễn Văn Kiểm,
2004).

và cá tra bần (P. kunyt). Ở cá basa giống, cá cỡ nhỏ (16,4–16,9 g) và cá cỡ lớn
(75,1–81,3 g) cho thấy nhu cầu protein tăng trưởng tối đa đối với cá giống nhỏ
là 41,6% cao hơn so với cá lớn 34,3%. Đối với cá tra bần có khối lượng lần
lượt là 2–8 g và 14–22 g thì nhu cầu protein để cá tăng trưởng tốt nhất lần lượt
là 40% và 35% (được trích dẫn bởi Dương Thúy Yên, 2000).
Trong quá trình nuôi cá đạt tăng trưởng tốt nhất là vấn đề cần được quan tâm
hàng đầu, xuất phát từ mong muốn đó đã có nhiều nghiên cứu về nhu cầu
protein giúp cá tăng trưởng tối đa. Nghiên cứu của Xinqin và ctv (1994) trên
cá vền giống (bream fingerling) có khối lượng 8,5±0,16 g cá tăng trưởng tốt
nhất khi thức ăn chứa 27% protein, 324 kcal/100g và tỷ lệ P/E là 83mg/kcal.
Mỗi loài cá có nhu cầu protein khác nhau nên mức protein tối ưu cho từng loài
cũng khác. Cá Silurus meridionalis (16–18 g) khi cho ăn thức ăn có hàm
lượng protein 40% sẽ giúp cá tăng trưởng tối đa (Fu và Cao, 2006). Nghiên
cứu của Khan và ctv (1992) trên cá lăng (Mystus nemurus) có khối lượng 7–
18g thì nhu cầu protein giúp cá tăng trưởng tốt nhất là 42%.
Nhu cầu protein cao thì chi phí sản xuất tăng làm giảm lợi nhuận do đó muốn
cá tăng trưởng tốt mà có hiệu quả kinh tế thì phải tìm lượng protein thích hợp.
Một số nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước đã xác định được nhu cầu
protein thích hợp của một số loài cá tạo điều kiện thuận lợi giúp người nuôi
đạt hiệu quả cao. Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hiền và Dương Thúy Yên
(2004) trên cá hú (P.conchophilus) có khối lượng 0,86±0,05 g tăng trưởng tối
đa với hàm lượng protein là 48,5% và khoảng protein thích hợp cho cá là
29,3–35%. Đối với cá tra (Pangasius hyphthalmus) có khối lượng 2±0,03 g
nhu cầu chất protein để cá tăng trưởng tối đa là 38%, nhưng khoảng thích hợp
cho cá tăng trưởng tốt lại giảm giá thành sản xuất và đem lại hiệu quả kinh tế
là 26–30% (Huỳnh Văn Hiền, 2003). Khi nghiên cứu về cá tra (P.
hyphthalmus) và basa (P. bocourt) giống có khối lượng 5–6 g Lê Thanh Hùng
và ctv (1999) đã đưa ra kết luận nhu cầu protein thích hợp cho sự phát triển
của hai loài cá trên lần lượt là 27,8% và 32,2%.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

hàm lượng protein quá cao so với nhu cầu thì tỷ lệ tiêu hóa của protein và các
chất khác bị giảm. Mức protein 42% làm cho cá tăng trưởng tối đa, nhưng cá
tăng trưởng chậm và có phần không tăng trưởng khi hàm lượng protein vượt
quá 45% (Trần Bình Tuyên, 2000).
Khi cho cá ăn ở mức độ giới hạn có thể làm tăng nhu cầu protein (Cho và ctv,
2005). Nếu mức cho ăn thấp gần bằng mức cần thiết để duy trì cơ thể dẫn đến
hệ số chuyển hoá thức ăn cao và tăng trưởng rất chậm hoặc dừng lại. Ngược
lại nếu lượng thức ăn dư thừa cũng cho kết quả hiệu quả chuyển hoá thức ăn
kém do thức ăn bị hao hụt và sự tiêu hoá thức ăn giảm (Dương Thúy Yên,
2000). Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

6

2.2.2 Nhu cầu năng lượng
Mọi hoạt động sống của động vật đều cần năng lượng, năng lượng được cung
cấp từ thức ăn hoặc từ những cơ quan dự trữ năng lượng của cơ thể. Năng
lượng từ thức ăn của động vật thủy sản được sử dụng cho nhiều quá trình yêu
cầu năng lượng. Sự phân chia năng lượng sử dụng cho từng chức năng phụ
thuộc vào khả năng tiêu hóa và hiệu quả sử dụng năng lượng của động vật
thủy sản (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2004). Nhu cầu năng lượng của cá gồm
có nhu cầu năng lượng duy trì và nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng. Con
đường chuyển hóa năng lượng trong cơ thể cá được Smith (1989) phát họa
như sau (được trích bởi Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2004).


Năng lượng tích lũy
(34%)

Bài tiết qua phân(25%)
Bài tiết qua mang và nước
tiểu (8%)
- Trao đổi chất cơ sở (15%)
- Hoạt động (8%)
- Tỏa nhiệt (10%)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

7

Ở cá tỷ lệ P/E (Protein/ Năng lượng) vô cùng quan trọng, là một trong những
chỉ số quan trọng của thức ăn để đánh giá sự ảnh hưởng của nó lên vật nuôi.
Nếu thức ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu của cá sẽ làm giảm sự bắt
mồi, ngược lại nếu thức ăn thiếu năng lượng thì protein trước tiên được dùng
để cung cấp năng lượng thoả mãn nhu cầu của cơ thể như vậy hiệu quả sử
dụng protein của cá thấp. Nhu cầu năng lượng của các loài cá khác nhau
không chỉ phụ thuộc vào thành phần loài mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
như nhiệt độ môi trường, thức ăn dùng thí nghiệm và cách chăm sóc cho
ăn…(Dương Thúy Yên, 2000).
Khi nghiên cứu về tỷ lệ P/E thì thấy khả năng sinh trưởng của cá lóc giống
(C.striatus) cao nhất khi cho ăn thức ăn có chứa 40% đạm với tỷ lệ P/E là
90,9mg đạm/kcal. Hiệu quả sử dụng chất đạm (PER) bị ảnh hưởng bởi việc
tăng năng lượng từ 400 đến 480 kcal/100g (thức ăn) ở tất cả các mức đạm,
ngoại trừ 40% (khẩu phần với năng lượng 400 kcal/100g cho thấy PER cao
nhất). Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) thấp nhất thu được ở tỷ lệ P/E là 90,9 mg

Khi nhiệt độ tăng sự tăng trưởng của cá cũng tăng lên dẫn đến nhu cầu protein
của cá cũng tăng theo. Dupree và Sneed (1966) thấy rằng, nhu cầu protein tối
ưu của cá nheo Mỹ ở 20,6
0
C là 35%, ở 24,4
0
C là 40% (Được trích dẫn bởi
Dương Thúy Yên, 2000). Tốc độ tăng trưởng của cá trê phi (Clarias
gariepinus) tốt nhất ở mức nhiệt độ 24
0
C với mức năng lượng ăn vào là 25,4
mg.kJ
−1
và ở 29
0
C là 34,7 mg.kJ
−1
( Henken và ctv, 1986). Khi nhiệt độ tăng
dẫn đến hiệu quả sử dụng năng lượng của cá hồi cũng tăng như ở 15
0
C là 0,78
còn ở 23
0
C là 0,89 (Weerd và Verreth, 1993).
Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến nhu cầu protein mà còn ảnh hưởng
nhiều đến nhu cầu năng lượng của cá. Năng lượng cần thiết cho hoạt động
sống cũng như năng lượng duy trì của cơ thể càng lớn khi nhiệt độ càng cao.
Nó ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa của cá, nhiệt độ cao thì quá trình trao đổi
chất và tiêu hóa thức ăn diễn ra càng nhanh kích thích cho cá ăn càng nhiều.
Mặc dù lượng thức ăn cá ăn vào tăng theo nhiệt độ nhưng nếu như nhiệt độ

31
0
C vào tháng 5 và tháng 10, thấp nhất 26
0
C vào tháng giêng. Biên độ chênh
lệch trong ngày khoảng 1,5
0
C, nhiệt độ trên tầng mặt cao hơn dưới đáy 2–3
0
C.
Khoảng chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa khô rét (từ tháng 11 đến tháng 4
năm sau) và mùa mưa nóng (từ tháng 5 đến tháng 10) khoảng 3
0
C (Thông tin
kĩ thuật dành cho người nuôi cá basa và cá tra, Nhà Xuất Bản Nông Nghiệp).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

9

2.4 Mức độ cho ăn
Lượng thức ăn là tiêu chí đầu tiên ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và hệ số thức
ăn của cá (Alcorn và ctv, 2002). Việc xác định lượng thức ăn thích hợp cho
một đối tượng nuôi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng nhất là về kinh tế. Nhiều
nghiên cứu trong cũng như ngoài nước về việc xác định lượng thức ăn (khẩu
phần ăn) thích hợp của một số loài cá tiêu biểu và mỗi loài đều có khẩu phần
ăn thích hợp riêng.
Khẩu phần ăn không những phụ thuộc vào thành phần loài cá, giai đoạn phát
triển của cá mà còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường nhất là về nhiệt
độ. Sư dự đoán mới nhất về sinh trưởng của cá Clarias lazera đó chính là câu

(13,3–14 g) khi cho ăn với thức ăn chứa 32% đạm và khẩu phần cá được cho
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

10

ăn 1, 3, 6, 9, 12% khối lượng thân thì ở mức cho ăn 6% thích hợp cho sự tăng
trưởng của cá.
Giai đoạn phát triển khác nhau thì khẩu phần ăn của các giai đoạn đó cũng
khác nhau. Có như vậy mới phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cá.
Cá càng lớn lượng thức ăn cung cấp càng ít (tính theo % khối lượng thân). Đối
với cá lóc có khối lượng từ 10–20 g, khẩu phần ăn là 8–10% khối lượng thân,
nhưng ở kích cỡ lớn hơn 50–100 g thì khẩu phần ăn lại giảm xuống còn 5–8%
khối lượng thân (Dương Nhựt Long, 2004).
Nhìn chung các vấn đề nghiên cứu về cá da trơn trong và ngoài nước đã
nghiên cứu khá đầy đủ. Tuy nhiên đối với cá tra (P. hypophthalmus) chưa có
những nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của điều kiện môi trường lên nhu cầu
dinh dưỡng của cá. Do đó vấn đề nghiên cứu về lượng thức ăn sử dụng, hiệu
quả sử dụng chất đạm và năng lượng của cá ở các mức nhiệt độ khác nhau là
cần thiết.


trường sống mới.
3.3.3 Thức ăn thí nghiệm
Nguyên liệu chính dùng để phối chế thức ăn thí nghiệm gồm có bột cá, bột đậu
nành, bột mì và bổ sung thêm dầu mực, Vitamin – premix, chất kết dính
(gelatin).
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của nguyên liệu dùng làm thức ăn thí nghiệm
Chỉ tiêu Bột cá

Bột đậu nành

Bột mì

Protein 59,83

46,39

10,46

Lipid 5,97

3,29

2,36

Tro 29,26

7,38

0,71


Thành phần hóa học của thức ăn (%)
Protein 32,83Tro 6,96Lipid 10,25Ẩm độ 4,36Năng lượng(kcal/g) 4,713.3.4 Bố trí thí nghiệm
è Thí nghiệm 1: Xác định lượng thức ăn sử dụng tối đa của cá tra
(P.hypophthalmus) giai đoạn giống ở các mức nhiệt độ khác nhau từ 22 –
36
0
C
- Hệ thống thí nghiệm
Hệ thống thí nghiệm gồm có hai hệ thống bể, 3 bể 500L/hệ thống và được đặt
ở 2 vị trí khác nhau, hệ thống bể chảy tràn, có sục khí.
+ Hệ thống bể thứ nhất được tiến hành với các mức nhiệt độ từ 30 đến 36
o

0
C

Tăng
33 – 34
0
C 25 – 26
0
C 31 – 32
0
C Giảm 23 – 24
0
C Bắt đầu ở mức: 29 – 30
0
C 21 – 22
0
C

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
- Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí với 8 nghiệm thức ở các mức nhiệt độ 22, 24, 26, 28,
30, 32, 34, 36
0
C; mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần. Tất cả các bể đều được

lọc cơ học tuần hoàn, có sục khí.
- Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm có 5 nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp
lại cho mỗi nghịêm thức. Cá ở 5 nghiệm thức được cho ăn với các khẩu phần
ăn dự kiến từ 0 đến tối đa (bảng 3.3). Khẩu phần ăn tối đa của cá ở thí nghiệm
1 là 4,86% khối lượng thân, lấy kết quả trên để bố trí thí nghiệm 2. Tất cả các
nghiệm thức đều bố trí với mật độ như nhau 20con/bể. Thời gian tiến hành là
28 ngày.
Bảng 3.3: Khẩu phần ăn của cá thí nghiệm (% khối lượng thân)
Nghiệm Thức
I II

III

IV

V

0 1,5

3,0

4,5

4,86 (tối đa)- Chăm sóc và quản lý
Trong suốt quá trình thí nghiệm cá được cho ăn 2 lần/ngày vào lúc 8 giờ và 17
giờ, cá được cho ăn theo khẩu phần đã được định sẵn. Theo dõi hoạt động của


16

3.4 Các chỉ tiêu thu thập, tính toán, phân tích và xử lý số liệu
3.4.1 Các chỉ tiêu tính toán
- Tỉ lệ sống (Survival Rate)
Số cá thể cuối
SR (%) = × 100
Số cá thể ban đầu

- Tăng trưởng tuyệt đối theo ngày (Daily Weight Gain)

W
c
– W
đ

DWG (g/ngày) =
T

- Tốc độ tăng trưởng tương đối (Specific Growth Rate)

lnW
c
– lnW
đ

SGR (%/ngày) = × 100
T
- Hệ số thức ăn (Feed Conversion Rate)


- Chỉ số protein tích lũy (Net Protein Utilization)

Protein tích lũy
NPU =
Protein ăn vào

- Chỉ số năng lượng tích lũy (Net Energy Utilization)

Năng lượng tích lũy
PER =
Năng lượng ăn vào

W
đ
, W
c
: Khối lượng ban đầu và khối lượng cuối của cá
T: Thời gian thí nghiệm
3.4.2 Các chỉ tiêu phân tích
- Các yếu môi trường
+ Nhiệt độ: Đo 2 lần/ngày bằng nhiệt kế (sáng 8
h
và chiều 14
h
), đo hàng ngày.
+ Oxy: đo bằng máy đo oxy 2 lần/ tuần cùng thời gian với đo nhiệt độ.
- Các phương pháp phân tích thành phần hoá học của cá và thức ăn
+ Độ ẩm: được xác định bằng phương pháp sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ
105

+ Lipid: được xác định bằng phương pháp Soxhlet. Lipid trong mẫu được
chiết xuất ra nhờ quá trình rửa hoàn toàn của Chlorfom (nóng).
+ Năng lượng: đo bằng máy Calorimetter.
3.4.3 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo chương trình excell version 5.0 và statistica.
So sánh trung bình giữa các nghiệm thức dựa vào ANOVA và phép thử
DUCAN ở mức ý nghĩa (P<0,05).
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

18

CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khả năng sử dụng thức ăn của cá tra (P.hypophthalmus) giai đoạn
giống ở các mức nhiệt độ khác nhau từ 22 – 36
0
C với bậc thang 2
0
C
Nhiệt độ không những ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý của cá mà nó còn
tác động nhiều đến quá trình trao đổi chất, khả năng bắt mồi hay chính khả
năng sử dụng thức ăn của chúng. Ở mỗi mức nhiệt độ khác nhau cá có khả
năng thích ứng nhất định có nghĩa là tương ứng với một mức nhiệt độ cá có
nhu cầu dinh dưỡng thích hợp với sự phát triển của chúng
Bảng 4.1: Khả năng sử dụng thức ăn của cá tra ở các mức nhiệt độ khác nhau
Nhiệt độ
(
0
C)

4,77±1,48
b

287±89
b

27 – 28 2,73±0,24
c

8,46±0,75
c

509±45
c

29 – 30 3,17±0,31
c

10,1±0,10
c

607±60
c

31 – 32 4,86±0,55
d

13,1±1,60
d


0
C và 35–36
0
C. Ngoài ra ở các mức nhiệt độ 27–28
0
C, 29–
30
0
C và 33–34
0
C cá sử dụng thức ăn khá tốt và không khác biệt có nghĩa giữa
các mức nhiệt độ này. Có thể đây là khoảng nhiệt độ thích ứng của cá trong
quá trình trao đổi chất.
Theo nghiên cứu của Stickney và Lovell (1977) trên cá da trơn ở Nam Mỹ về
nhu cầu dinh dưỡng và thức ăn. Đối với cá có khối lượng 15–130 g ở nhiệt độ
26,7–28,9
0
C ăn 3% khối lượng cơ thể, khi nhiệt độ cao hơn hay thấp hơn
khoảng này thì cá sử dụng thức ăn kém hơn. Cụ thể cá 50 g ở 25,5
0
C ăn 2,8%
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Ảnh hưởng của nhiệt độ lên mức độ và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá tra giai đoạn giống

19

nhưng khi nhiệt độ thấp hơn (22,2
0
C) cá ăn 2,5% khối lượng thân, khi nhiệt độ
của ao nuôi dưới 21

tăng lên. Lượng protein và năng lượng sử dụng của cá tăng theo mức nhiệt độ
từ 23–32
0
C đến 33–34
0
C thì cả hai lượng này bắt đầu giảm xuống và cá ngừng
ăn ở 35–36
0
C. Lượng protein sử dụng của 1 kgcá/ngày khoảng 2,81–13,1 g,
cao nhất ở 31–32
0
C là 13,1 g và thấp nhất ở 23–24
0
C là 2,81 g, khác biệt có ý
nghĩa thống kê (P<0,05) so với các mức nhiệt độ khác.
Mức sử dụng năng lượng dao động từ 169–790 KJ/kg/ngày, cao nhất vẫn là ở
nhiệt độ 31–32
0
C (790 KJ/kg) và thấp nhất ở 23–24
0
C (169 KJ/kg, khác biệt
có ý nghĩa (P<0,05) so với các mức còn lại. Đối với cá yellowtail có khối
lượng từ 8–280 g khi được nuôi ở nhiệt độ nước từ 18,2–31
0
C thì nhu cầu
protein và năng lượng cho cơ thể duy trì và tăng trưởng tối đa/ngày lần lượt là
1,0–5,9 g/kg và 11,6–60,8 kcal, 8,2–21,7g/kg và 92–225 kcal (Watanabe và
ctv, 2000). Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hùng và ctv (1998) thì nhu
cầu protein và năng lượng duy trì của cá tra giai đoạn giống có khối lượng
7,69 g là 3,24 g/kg/ngày và 92 KJ/kg/ngày được nuôi ở nhiệt độ nước 28–


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status