LỜI NÓI ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bắt đầu từ năm 1991, các công ty tài chính bắt đầu đi vào hoạt động tại nước ta.
Là một trong số các công ty tài chính ra đời sớm nhất ở nước ta, công ty cổ phần
chứng khoán Bảo Việt (BVSC) là một trong những công ty tài chính lớn nhất ở
nước ta hiện nay. Trong 10 năm liên tục công ty luôn làm ăn có lãi và tạo được sự
uy tín nhất định trên thị trường. Trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển mạnh
mẽ của thị trường chứng khoán, công ty đã tham gia đầu tư trên thị trường này và
đã thu được những lợi nhuận đáng kể. Khai thác nguồn vốn kinh doanh để tiến
hành kinh doanh trên thị trường thị trường chứng khoán có thể là hướng đi hiệu
quả cho công ty tài chính trong thời gian sắp tới. Một hoạt động tương đối phát
triển và làm việc có hiệu quả tại BVSC là bộ phận phân tích đầu tư chứng khoán,
tuy nhiên nó vẫn còn gặp phải nhiều khó khắn và hạn chế nhất định.Với suy nghĩ
đó, sau một thời gian thực tập tại công ty, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Hoạt
động phân tích đầu tư chứng khoán tại Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán Bảo
Việt ”
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động phân tích đầu tư chứng
khoán
- Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng hoạt động của công ty cổ phần
chứng khoán Bảo Việt, xem xét phân tích thực trạng đầu tư chứng khoán của công
ty.
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp để phát triển hoạt động phân tích đầu
tư chứng khoán của công ty.
1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
• Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu nghiệp vụ tư vấn xác định giá trị
doanh nghiệp
• Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nghiệp vụ xác định giá trị doanh
nghiệp tại công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt
không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thị trường chứng
khoán. Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứng khoán là thu hút vốn đầu tư
dài hạn cho việc phát triển kinh tế và tạo ra tính thanh khoản cho các loại chứng
khoán. Do vậy để thúc đẩy thị trường chứng khoán hoạt động có trật tự, công bằng
và hiệu quả cần phải có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán. Lịch
sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán cho thấy thời tiền sử của
thị trường chứng khoán, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Sau
này, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, chức năng và quy mô hoạt
động giao dịch của các nhà môi giới tăng lên đòi hỏi sự ra đời của công ty chứng
khoán là tập hợp có tổ chức của các nhà môi giới riêng lẻ.
Chúng ta có thể khái niệm công ty chứng khoán như sau: Công ty chứng khoán
là một định chế tài chính trung gian thực hiện nghiệp vụ trên thị trường chứng
khoán.
ở Việt Nam, theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998
của UBCKNN, công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu
hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp
giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán.
Do đặc điểm một công ty chứng khoán có thể kinh doanh trên một lĩnh vực,
loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định do đó hiện nay, có quan điểm phân
chia công ty chứng khoán thành các loại như sau: công ty môi giới chứng khoán,
3
công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty trái phiếu, công ty chứng khoán
không tập trung.
Hiện nay, có ba loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán, đó là: công
ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần.
Nguyên tắc hoạt động của công ty chứng khoán: Công ty chứng khoán hoạt
động theo 2 nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức và
nhóm nguyên tắc mang tính tài chính.
Nhóm nguyên tắc mang tính đạo đức:
nguồn tài chính để kinh doanh, ngoại trừ trường hợp số tiền đó dùng phục vụ cho
giao dịch của khách hàng.
- Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách
hàng với tài sản của mình. Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán
của khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng đồng
ý bằng văn bản.
1.1.2. Vai trò của công ty chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán công ty chứng khoán có vai trò đặc biệt quan
trọng: vừa là nhà đầu tư tham gia trực tiếp vào hoạt động của thị trường, vừa là
cầu nối giữa nhà phát hành và các nhà đầu tư khác, cung cấp các dịch vụ cần thiết
phục vụ cho hoạt động của thị trường.Các công ty chứng khoán còn góp phần duy
trì và thúc đẩy sự phát triển của thị trường. Dù thị trường chứng khoán mang hình
thức sở giao dịch hay thị trường OTC thì sự góp mặt của các công ty chứng khoán
là không thể thiếu.
1.1.2.1. Đối với các tổ chức phát hành
Mục tiêu khi tham gia thị trường của các tổ chức phát hành là huy động vốn
thông qua phát hành các chứng khoán. Vì vậy thông qua hoạt động đại lý bảo lãnh
phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ
cho nhà phát hành.
5
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là
nguyên tắc trung gian. Theo nguyên tắc này nhà đầu tư và khách hàng không được
phép trực tiếp trao đổi chứng khoán với nhau mà phải tiến hành thông qua trung
gian môi giới.
1.1.2.2. Đối với nhà đầu tư
Thông qua các hoạt động bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư, môi giới và
quản lý danh mục đầu tư công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí về thời
gian và chi phí giao dịch cho nhà đầu tư, do đó hiệu quả đầu tư sẽ được nâng cao.
Đối với những hàng hoá thông thường, việc mua bán thực hiện qua khâu
sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện chức năng tạo tính thanh khoản cho các tài
sản tài chính, vì các chứng khoán sau khi được phát hành sẽ được mua bán trên thị
trường thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro và tạo ra tâm lý yên tâm cho các nhà đầu
tư. Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các công ty
chứng khoán giúp cho nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và
ngược lại. Những hoạt động này nhằm làm tăng tính thanh khoản của các chứng
khoán.
1.1.2.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trường
Các công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin cho các cơ quan
quản lý thị trường. Các công ty chứng khoán coa thể thực hiện được điều này do
vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua
bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Việc cung cấp các
thông tin vừa là quy định của hệ thống pháp luật vừa là nguyên tắc nghề nghiệp
của công ty chứng khoán vì các công ty chứng khoán cần phải hoạt động minh
bạch và công khai. Các thông tin mà công ty chứng khoán cung cấp có thể là các
giao dịch mua, bán chứng khoán trên thị truờng, thông tin về các cổ phiếu, trái
phiếu, thông tin về các tổ chức phát hành và thông tin về các nhà đầu tư…vv.Nhờ
7
những thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát thị truờng và
chống lại các hiện tượng lũng đoạn, thao túng, bóp méo thị trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường
chứng khoán, có vai trò hết sức quan trọng đối với đối với các chủ thể phát hành,
các nhà đầu tư, đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trưòng chứng
khoán nói chung. Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ của
các công ty chứng khoán.
1.1.3. Các hoạt động của công ty chứng khoán.
1.1.3.1. Các hoạt động chính của Công ty chứng khoán
• Hoạt động Môi giới chứng khoán
Hoạt động Môi giới trực tiếp tạo hình ảnh cho công ty, chính vì vậy, các
số vốn nhất định theo quy định của pháp luật (tối thiểu là 12 tỷ đồng), nhằm đảm
bảo rằng các Công ty chứng khoán dùng vốn của họ để kinh doanh và đội ngũ
nhân viên phải có trình độ chuyên môn nhất định, có khả năng phân tích thị
trường, nhạy bén với thông tin, nhạy cảm trong công việc, có khả năng tự quyết
cao để có thể đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.
Công ty chứng khoán vừa kinh doanh chứng khoán cho chính mình, vừa
làm trung gian thực hiện lệnh cho khách hàng, vì vậy có thể dẫn đến sự mâu thuẫn
về lợi ích giữa công ty và khách hàg. Do đó, khi thực hiện hoạt động tự doanh,
Công ty chứng khoán cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tách biệt về quản lý: giữa hai hoạt động tự doanh và môi giới, để đảm bảo
sự phù hợp về lợi ích của các bên. Đặc biệt, không được lấy tài sản của khách
hàng để kinh doanh cho công ty và ngược lại.
- Ưu tiên khách hàng: Công ty chứng khoán với lợi thế về nghiệp vụ có thể
dự đoán trước diễn biến của thị trường, để đảm bảo sự công bằng cho các khách
hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán, Công ty chứng khoán phải ưu tiên
thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước lệnh tự doanh của công ty.
9
- Góp phần bình ổn thị trường: khi thị trường có sự biến động bất thường,
các Công ty chứng khoán sẽ điều tiết cung cầu, bình ổn giá cả của các loại chứng
khoán thông qua hoạt động tự doanh, bằng cách mua vào khi giá chứng khoán
giảm và bán ra khi giá chứng khoán tăng nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
• Hoạt động bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng, đòi
hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK tư vấn cho đợt phát hành và thực
hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây là nghiệp vụ bảo lãnh
phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng
doanh thu của các CTCK.
Hoạt động bảo lãnh phát hành là việc công ty chứng khoán có chức năng
bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
Lập nghiệp đoàn bảo lãnh
Ký hợp đồng bảo lãnh
Nộp hồ sơ xin phép
phát hành
Thăm dò thị tr ờng
- Công bố việc phát hành
- Phân phát bản cáo bạch
- Phân phát phiếu đăng ký mua CK
- Nhận tiền đặt cọc
Giấy phép phát hành CK có hiệu
lực
Phân phối cổ phiếu trên cơ sở phiếu đăng
kớký
Bình ổn thị tr ờng
L u ký CK Thanh toán
Tổ
chức
phát
hành
UBCK
• Hoạt động quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Đây là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng
khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng
lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng
nghiệp vụ mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng uỷ thác tiền
cho công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược
mang những nguyên tắc đã được khách hàng chấp nhận hoặc yêu cầu
Quy trình nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quát thông
qua các bước sau:
kiểm soát nội bộ là khả năng công ty có thể đảm bảo an toàn tài sản cho khách
hàng, chống lại sự thất thoát do sự vô ý hay cố ý của nhân viên công ty.
- Ký hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán ký hợp đồng quản lý giữa
công ty và khách hàng theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mục
tiêu đầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư mà
công ty được hưởng.
- Thực hiện hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán thực hiện đầu tư vốn
uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảm bảo tuân
thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng và chính công
ty.
- Kết thúc hợp đồng quản lý: Khi đến hạn hợp đồng hay trong một số
trường hợp công ty giải thể, phá sản, ngừng hoạt động công ty phải cùng với
khách hàng bàn bạc và quyết định xem có tiếp tục gia hạn hay thanh lý hợp đồng
không. Trong trường hợp công ty chứng khoán phá sản, tài sản uỷ thác của khách
hàng phải được tách riêng và không được dùng để trả các nghĩa vụ nợ của công ty
chứng khoán.
Công ty chứng khoán có nghĩa vụ phải thường xuyên báo cáo cho khách
hàng biết về giao dịch, về trạng thái danh mục đầu tư theo yêu cầu của khách hàng
hay định kỳ hàng tháng Tài sản uỷ thác được quản lý chuyên nghiệp, sử dụng tối
đa trình độ chuyên môn và phương tiện của các Công ty chứng khoán. Khách hàng
có thể tiết kiệm được thời gian, hơn nữa chỉ phải trả phí khi thực sự có lợi. Công
ty chứng khoán đầu tàu thúc đẩy hoạt động này phát triển là Công ty chứng khoán
Sài Gòn thu hút 42% tổng số hợp đồng uỷ thác, Công ty chứng khoán Công
thương chiếm 32%.
• Hoạt động tư vấn tài chính doanh nghiệp và đầu tư chứng khoán
13
Đây là một trong 5 hoạt động kinh doanh chính của Công ty chứng khoán.
Hoạt động tư vấn của Công ty chứng khoán có thể được hiểu: đó là việc Công ty
chứng khoán thông qua hoạt động phân tích, dự báo các dữ liệu về lĩnh vực chứng
tài chính doanh nghiệp, tư vấn niêm yết đăng ký giao dịch, tư vấn chuyển đổi, mua
bán sát nhập doanh nghiệp.
1.1.4.2. Các hoạt động phụ trợ
Để phục vụ tốt nhất cho khách hàng khi đến với Công ty chứng khoán,
ngoài các hoạt động chính chiếm tỉ trọng lớn trong doanh thu, Công ty chứng
khoán còn thực hiện các hoạt động phụ trợ để thoả mãn nhu cầu của khách hàng,
thúc đẩy các hoạt động chính phát triển; như hoạt động lưu ký chứng khoán, quản
lý thu nhập của khách hàng, quản lý quỹ,
1.2 Hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán.
1.2.1 Các khái niệm
Phân tích chứng khoán là việc dùng các chỉ số, sơ đồ, bảng biểu, các hệ số
tài chính để đánh giá hoạt động của TTCK cả về bề rộng cũng như chiều sâu. Việc
phân tích chứng khoán cung cấp các thông tin cần thiết cho các nhà đầu tư cũng
như các nhà quản lý thị trường, các nhà quản trị doanh nghiệp trong hoạt động của
họ trên TTCK. Phân tích chứng khoán bao gồm Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ
thuật:
Phân tích cơ bản là phân tích tình hình tài chính của các công ty cổ phần
niêm yết trên TTCK, dựa vào các báo cáo tài chính của công ty như: bảng cân đối
kế toán, bảng báo cáo thu nhập, bảng lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáo
tài chính. Từ đó, thiết lập các hệ số tài chính để thấy được những mặt mạnh và yếu
trong hoạt động tài chính của công ty, qua đó cũng thấy được xu hướng và tiềm
năng phát triển của công ty.
Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm
cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ
các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về
15
việc mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết
quả thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất
cho việc ra các quyết định đầu tư, nó đó giúp cho các nhà quản lý có thể lựa chọn
Sự ổn định và phát triển kinh tế bền vững làm giảm thiểu các rủi ro và tăng hiệu
quả của hoạt động đầu tư, điều này làm tăng tính hấp dẫn cho thị trường trong
nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Mặt khác nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của các
nhà đầu tư, các doanh nghiệp trong nước cũng tăng theo. Đây là tiền đề cho sự
phát triển các hoạt động của công ty chứng khoán, trong đó có hoạt động phân tích
đầu tư.
• Công chúng đầu tư
Công ty chứng khoán có phát triển hay không, doanh thu có tăng trưởng
hay không phần lớn do sự tác động từ phía công chúng đầu tư. Khi nhà đầu tư
vẫn dành sự quan tâm đến chứng khoán và thị trường chứng khoán, họ muốn gia
nhập thị trường, lúc đó Công ty chứng khoán nói chung và hoạt động phân tích
đầu tư của Công ty chứng khoán nói riêng vẫn phát triển. Ngược lại, khi có dấu
hiệu nhà đầu tư rời bỏ thị trường, các doanh nghiệp không “tha thiết” với phương
thức huy động vốn mới này thì các hoạt động của Công ty chứng khoán sẽ ngừng
tăng trưởng là điều dễ hiểu.
• Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán phát triển sẽ tạo cơ sở cho mọi hoạt động của
Công ty chứng khoán phát triển, hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán cũng
không nằm ngoài quy luật đó. Khi thị trường phát triển sẽ tạo ra nhu cầu phân tích
đầu tư chứng khoán nhiều hơn, bởi lúc này việc huy động vốn trung và dài hạn
cho nền kinh tế qua kênh này sẽ chiếm tỷ trọng lớn. Điều đó đồng nghĩa với việc
các doanh nghiệp, tổ chức sẽ rất cần đến các hoạt động phân tích đầu tư.Hơn nữa
khi thị trường phát triển các Công ty chứng khoán sẽ được đầu tư tốt hơn về công
nghệ, kỹ thuật, trình độ vì vậy sẽ tạo điều kiện cho Công ty chứng khoán nâng cao
chất lượng phân tích đầu tư.
17
Thị trường càng phát triển, số lượng các nhà đầu tư, các tổ chức phát hành
càng lớn sẽ tạo điều kiện phát triển các nghiệp vụ của công ty chứng khoán. Hơn
nữa với sự phát triển của hệ thống kiểm toán kế toán, hệ thống công bố thông tin,
chứng khoán luôn nhạy cảm với sự biến đổi của nền kinh tế xã hội trong nước và
quốc tế, do đó nếu công ty chứng khoán không có đủ trang thiết bị cần thiết để thu
thập và xử lý thông tin thì không thể bảo vệ quyền lợi cho khách hàng.Các nhân
viên phân tích cũng sẽ không có đủ các thông tin cần thiết để thực hiện nghiệp vụ.
• Yếu tố tài chính
Hiện nay hầu hết các loại hình kinh doanh không cần phụ thuộc vào yếu tố
vốn pháp định, nhưng để thành lập Công ty chứng khoán nói chung và hình thành
hoạt động phân tích đầu tư chứng khoán nói riêng thì vốn pháp định luôn là điều
kiện đầu tiên được đưa ra xem xét. Hoàn toàn dễ hiểu, bởi đây là doanh nghiệp
cung cấp các dịch vụ tài chính, nhà cung cấp chỉ có thể tạo được lòng tin nơi
khách hàng, phát triển hoạt động trên mọi phương diện khi họ có tiềm lực tài
chính đủ mạnh, có thể đối mặt với nhiều khó khăn từ nền kinh tế bên ngoài và từ
chính khách hàng của mình.
Hoạt động phân tích đầu tư đòi hỏi Công ty chứng khoán phải đáp ứng các
điều kiện về vốn và nhân sự. Do đây là hoạt động kinh doanh chất xám nên yêu
cầu về vốn không lớn như các hoạt động khác, nhưng cần thiết để đầu tư vào các
công cụ phục vụ cho quá trình hoạt động, xử lý số liệu. Công cụ càng hiện đại sẽ
giúp cho việc phân tích nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển của hoạt động và
của toàn công ty
1.2.3 Các phương pháp phân tích đầu tư chứng khoán.
1.2.3.1. Phương pháp cơ bản
Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi
tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát triển của
19
công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá chứng khoán. Việc
phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá trị hay trên giá trị hiện
hành.
Trong phân tích cơ bản, các yếu tố cơ bản có thể bao gồm tất cả các yếu tố
liên quan đến tình hình tài chính của một công ty, ví dụ như doanh thu và lợi
Bảng cân đối kế toán cung cấp cho các nhà đầu tư rất nhiều thông tin cơ
bản về công ty: công ty nợ bao nhiêu, phải thu khách hàng bao nhiêu (bao lâu thì
thu xong), tiền và các khoản tương đương tiền công ty đang sở hữu và các quỹ đã
được lập trong quá trình hoạt động.
- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho biết số tiền thực mà công ty kiếm được, nó
cũng cho thấy khả năng chi trả của công ty cho hoạt động kinh doanh hiện tại và
tăng trưởng trong tương lai.
Quả thực, một trong những chức năng quan trọng nhà đầu tư nên xem xét
khi đầu tư vào một công ty là khả năng tạo ra tiền của công ty đó. Điều đó đơn
giản là vì một công ty cho thấy lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh không
có nghĩa là công ty đó sẽ không có những khó khăn sau đó do sự thiếu hụt về dòng
tiền. Xem xét một cách kỹ lưỡng báo cáo lưu chuyển tiền tệ có thể cung cấp cho
nhà đầu tư một sự đánh giá tốt hơn về hoạt động kinh doanh của công ty.
Vấn đề quan trọng là cần phải xem xét xu hướng của các tỷ số này để thấy
được tính thanh khoản của công ty đang được cải thiện hay đang giảm sút.
• Phân tích các yếu tố định tính
- Phân tích các yếu tố định tính của công ty
Ngoài việc phân tích báo cáo tài chính như được đề cập ở trên, có một số
những nhân tố định tính đặc trưng về công ty mà chúng ta cần phải quan tâm.
Mô hình kinh doanh: Trước khi đi vào xem xét các báo cáo tài chính của
một công ty, một trong những câu hỏi quan trọng nhà đầu tư nên được đặt ra là:
công ty đó đang kinh doanh gì? Câu hỏi đó đề cập tới mô hình kinh doanh của một
công ty - công ty tạo ra tiền như thế nào. Nhà đầu tư nên tìm hiểu mô kinh doanh
21
của một công ty trước khi có quyết định đầu tư và không nên đầu tư vào những
nghành nghề mà nhà đầu tư không am hiểu.
Lợi thế cạnh tranh: Một vấn đề khác mà các nhà đầu tư quan tâm là lợi thế
cạnh tranh của công ty. Một công ty muốn thành công lâu dài thì đều phải có khả
Khi một công ty chiếm thị phần lớn hơn các công ty khác thì nó sẽ có vị thế tốt
hơn trong việc phân bổ chi phí cố định của ngành công nghiệp cần đầu tư nhiều
vốn.
Tăng trưởng ngành: Để đánh giá tiềm năng tăng trưởng của một công ty thì
trước tiên cần phải nghiên cứu xem có sự tăng trưởng về số lượng khách hàng
trong thị trường chung hay không. Điều này rất quan trọng, vì nếu một công ty
không có khách hàng mới thì công ty đó phải biết cách giành lấy thị phần để phát
triển.
Sự cạnh tranh: Việc quan sát một số đối thủ cạnh tranh trong nghành của
một công ty phần nào sẽ giúp nhà đầu tư biết được khả năng cạnh tranh của công
ty của công ty đó. Các ngành có ít rào cản và nhiều đối thủ cạnh tranh sẽ tạo môi
trường kinh doanh khó khăn cho các công ty.
Quy định: Một số ngành bị quy định chặt chẽ vì tính quan trọng của sản
phẩm hay dịch vụ của nghành. Cũng như tầm quan trọng của một số quy định đối
với công chúng, các quy định này có thể gây ảnh hưởng mạnh đến việc thu hút
vốn đầu tư của công ty.
Nhà đầu tư nên luôn xem xét kỹ các quy định có thể ảnh hưởng quan trọng
đến hoạt động kinh doanh của một công ty. Nhà đầu tư cũng nên tính đến những
chi phí tiềm tàng do việc thay đổi quy định gây ra khi ước tính chi phí và thành
quả của việc đầu tư.
1.2.3.2. Phương pháp kỹ thuật
Phân tích kỹ thuật nghiên cứu số cung và cầu chứng khoán dựa trên các
nghiên cứu số lượng và giá cả. Nhà phân tích dùng các biểu đồ để phân tích chiều
hướng giá. Hầu hết các phân tích được thực hiện để phân tích ngắn và trung hạn.
23
Không giống như phân tích cơ bản, nhà phân tích kỹ thuật không quan tâm đến vị
thế tài chính của công ty.
Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác
suất thống kê, …) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại
- Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá
các ngưỡng an toàn và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là
thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ. Đối với nhà
đầu tư việc nhận biết các dấu hiệu về sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp
cho họ sớm có hành động mua vào hoặc bán ra kịp thời.
- Với vai trò là công cụ xác nhận, mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được
sử dụng kết hợp với các phương pháp kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ
thuật để xác nhận về xu thế của giá. Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các
phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối
ưu hơn.
- Với vai trò là công cụ dự đoán, nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân
tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng đoán tốt
hơn. Tuy nhiên như trên đã nói, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là dự
báo tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ; do
đó nếu sử dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác
suất an toàn và chấp nhận rủi ro khi dự đoán là không phù hợp. Không ai có thể
nói trước tương lai chỉ bằng thông tin trong quá khứ. Tuy nhiên nhờ có phân tích
kỹ thuật, khả năng đoán sai do đoán mò hoặc a dua đám đông được hạn chế rất
nhiều.
1.2.4 Những khó khăn đối với một công ty chứng khoán khi thực hiện hoạt
động phân tích đầu tư chứng khoán.
Các công ty chứng khoán gặp rất nhiêu những khó khăn khi thực hiện họat
động phân tích đầu tư chứng khoán:
25