Quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam - VietcomBank - Pdf 10



i
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA QUẢN
TRỊ KINH
DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH
DOANH QUỐC
TẾ
KHÓA
LUẬN
TỐT
NGHIỆP
(Đềm
QUẢN
TRỊ RỦI
RO
LÃI
SUẤT
TRONG HOẠT
ĐỘNG
KINH
DOANH
TẠI
NGÂN
HANG TMCP

CÁC
CHỮVIÊT
TẮT
DANH MỤC BẢNG
BIÊU
DANH MỤC
HÌNH
VẼ
LỜI
MỞ
ĐẦU
Ì
CHƯƠNG
1:
NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỀ
RỦI
RO
LÃI
SUẤT
VÀ QUẢN
TRỊ RỦI
RO LÃI
SUẤT
TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH
DOANH
NGÂN
HÀNG
5
1.1.

ngân hàng
8
1.1.3.
Quản
trị rủi
ro
trong kinh
doanh
ngân hàng
10
Ì
.2.
RỦI
RO
LÃI
SUẤT
TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH
DOANH
NGÂN HÀNG
15
1.2.1.
Khái
niệm
về
rủi
ro lãi suất
15
1.2.2.
Phương pháp

1.3.1.
Sự
cần
thiết
phải
quản
trị rủi
ro lãi suất
trong
hoạt
động
kinh
doanh
ngân
hàng
32
1.3.2.
Nội
dung quản
trị rủi
ro lãi suất
trong kinh
doanh
ngân hàng
33
1.3.3.
Các
biện
pháp phòng
ngừa

NAM -
VỈETCOMBANK
45
2.1.1.
Sự
hình
thành và
phát
triển
45
i
2.1.2.
Đánh giá
hoạt
động
kinh
doanh
của Vietcombank
trong
thời
gian
từ
2006
tói
nay
50
2.2.1.
Diễn
biến lãi suất
của Vietcombank

chức
quản
trị rủi
ro
lãi suất
của Vietcombank
73
2.3.3.
Các
biện
pháp phòng
ngừa,
giảm
thiểu rủi
ro
lãi suất
của Vietcombank.
.74
2.4.
ĐÁNH
GIÁ
HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG
QUẢN
TRỊ
RỦI
RO
LÃI
SUẤT
TRONG

QUỦN
TRỊ RỦI RO LÃI
SUẤT
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH TẠI
NGÂN HÀNG
TMCP
NGOẠI
THƯƠNG VIỆT
NAM-
VIETCOMBANK
85
3.1.
ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG
QUẢN
TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT CỦA
VIETCMBANK
TRONG
THỜI
GIAN
TỚI
85
3.1.1.
Định hướng phát
triển
của Vietcombank
trong
thời
gian
tới

RO LÃI SUẤT
TRONG
HOẠT ĐỘNG
KINH
DOANH
TẠI
VIETCOMBANK 89
3.2.1.
Nhóm
giải
pháp
đối
vói ngân hàng
TMCP
Ngoại
thương
Việt
Nam 90
3.2.2.
Nhóm
giải
phấp
đối
vói Ngân hàng Nhà nước
94
3.3.
KIẾN
NGHỊ 99
3.3.1.
Kiến

thông
tin
CP:
Cổ
phần
CT: Công
ty
DPRR:
Dự phòng
rủi
ro
GTCG:
Giấy

có giá
IMF:
Intemational
Monetary
Fund
IPO:
Initial
Public Offering
NH:
Ngân hàng
NHNN:
Ngân hàng Nhà nước
NHNT:
Ngân hàng
Ngoại
thương

TTQT:
Thanh
toán
quốc
tế
WB:
World
Bank
hi
DANH MỤC BẢNG
BIỂU
Bảng
1.1:

dụ
về tài sản

nợ có
thể
và không
thể tái
định giá
26
Bảng 1.2:
Loại
trừ
khe
hở
nhạy
cảm

55
Bảng
2.3:
Hoạt
động
thanh
toán
XNK
năm
2007
thể
hiện
qua
bảng
dưệi
đây:
56
Bảng 2.4:Tổng
giá
trị
thanh
toán
XNK
(triệu
USD)
56
Bảng
2.5:
Diễn
biến

đến
21/10/2008
65
Bảng 2.7:
Biểu
lãi
suất
cho vay khách hàng cá nhân sở
Giao
dịch
Vietcombank
từ
ngày
24/08/2006
tệi
ngày
01/02/2009
66
Bảng
2.8:
Trạng
thái
nhạy
cảm
lãi
suất
của
NHNT
tại thời
điểm

theo
kỳ
định
lại
lãi suất thực
tế
tại
thời
điểm
31/12/2008
71
Bảng
2.11:
Mức
lãi suất
trần
đối
vệi
các kỳ
hạn
75
Bảng
2.12:
Các mức
lãi suất cho vay
khách hàng ngày
76
Bảng
3.1:
Một

42
Biểu
đồ
2.1:
Tổng
nguồn vốn của
NHNT 53
Biểu
đồ
2.2:
Số
thẻ
Connect
24
phát
hành
58
Biểu
đồ
2.3: Lợi
nhuận
trước
thuế,
trước
trích
lập
dự phòng
(tỷ
VND)
58

tổ
chức
QTRR
của Vietcombank
74
V
LỜI
MỞ ĐẨU
Ì.
TÍNH
CẤP
THIẾT
CỦA ĐỀ TÀI
Kinh
doanh
trong lĩnh
vực Ngân hàng là
loại
hình
kinh
doanh
đặc
biệt,
tiềm
ẩn nhiều rủi ro.
Trong
nền
kinh tế thị
trường,
các quy

động
đến
hiệu
quả
kinh
doanh
của
các
NHTM.
Trên
thực
tế, rủi
ro
ngân hàng có
thợ
xuất hiện
tại
tất
cả các
nghiệp
vụ của ngân hàng như:
thanh
toán,
tín
dụng,
tiền
gửi,
ngoại
tệ,
đầu

ổn
định.
Sự
gia
nhập
của
Việt
Nam
vào
Tổ
chức
thương
mại thế
giới
(WTO)
với
cam
kết
mở
cửa căn bản
thị
trường
dịch
vụ ngân hàng và
tự
do
hóa
dịch
vụ thương mại
tài

vụ,
mạng
lưới
hoạt
động quản
trị
rủi
ro
được
xem

một
trong
những
yếu
tố
hàng đầu
đợ nâng cao năng
lực
cạnh
tranh
và phát
triợn tốt
nhất
đối với
các
NHTM.
Quản
trị rủi ro trong kinh
doanh

và ngân hàng
TMCP
Ngoại
thương
Việt
Nam nói
riêng
phải đối
mật
thực
sự
với
nguy

tiềm
ẩn
rủi
ro lãi suất

quản
trị
rủi
ro lãi suất trở
thành vấn đề
trọng
điợm
đối với
các nhà
quản
lý ngân hàng.

quả cuối
cùng là nền
kinh
tế,
các
doanh
nghiệp,
các
tầng
lớp
dân

được
lợi
hơn vì
sẽ
được hưởng giá
rẻ

chất
lượng
dịch
vụ
cao.
Thực
tế biến
động lãi
suất trong
thời
gian



rủi
ro lớn
về
lãi
suất,
ảnh
hưởng
mạnh
đến
lợi
nhuận
NH.
Từ
dưới
10%/năm, lãi
suất
huy động
VND
vọt
lên trên 19%/năm.
Và ở
đỉnh
điểm,
lãi
suất
cho
vay
tối

nhuận bị
bóp
nghẹt.
Đó

khó khăn
chung của hệ
thống
NHTM
khi
da
số vẫn

lợi
nhuận
từ
tín dụng chiếm
tới
60-70%
tổng

cấu.
Trong những
tháng
cuối
năm
2008,
lãi
suất
giảm


rủi
ro lãi
suất trở
nên
cấp
thiết

được
các nhà
quản lý
NH
cũng nhu các
bên
liên
quan quan
tâm hơn
bất
cứ
khi
nào.
Ngân hàng thương
mại cổ
phẩn
(TMCP)
Ngoại
thương
Việt
Nam -
Vietcombank

được
nhiều
thành công
trong việc
cung
cấp cho khách hàng
trong
nước

quốc
tế
những sản
phẩm
dịch
vụ ngân hàng
thuận
tiện,
an
toàn,
nhanh
chóng,
chiếm
lĩnh thị
phần
lớn trong
các
mảng
như
kinh
doanh

hữu
trong khi
vấn
đề
quản
trị rủi
ro lãi
suất
vẫn còn tương
đối
mới
mẻ

cần
thiết
với
Vietcombank
hiện
nay.
Vậy, quản
trị rủi
ro
lãi
suất

những
nội
dung của quản
trị rủi
ro

phải
làm
thế
nào
để
quản
trị
những
rủi
ro từ biến
động
lãi
suất,
bảo vệ
mình trước
những
rủi
ro
đó nhằm
đạt
được
mục
tiêu
lợi
nhuận

mục
tiêu
chiến
lược?

ro
lãi
suất trong hoạt
động
kinh
doanh
tại
Ngán hàng Thương mại cổ phần
ngoại thương Việt
Nam —
Vietcombank"
được
chọn
làm đề
tài luận
vãn này.
2
2.
MỤC
ĐÍCH, NHIỆM
vụ
NGHIÊN
cứu

Mục
đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích làm rõ sự
cần
thiết
phải

trị rủi
ro lãi
suất
trong
hoạt
động
kinh
doanh
tại
Vietcombank
trong
giai
đoạn
từ
năm
2006-
2008,
đề
tài
đề
xuất
các
giải
pháp tăng
cường
hiệu
quả
quản
trị rủi
ro lãi

lãi
suất,
quản
trị rủi
ro
lãi
suất
trong
hoạt
động
kinh
doanh của Vietcombank.
Đánh giá
thực
trạng
quản
trị rủi
ro lãi
suất
trong
hoạt
động
kinh
doanh
tại
Vietcombank
trong
thời
gian
vừa qua.

căn bản
thị
trường ngân hàng,

tự
do hóa
lĩnh
vực
dịch
vụ
thương mại tài
chính
theo
cam
kết gia
nhập
WTO
vối
những

hội
và thách
thức

Vietcombank
phải đối
mặt
trong
quá trình phát
triển

nghiên cứu của
luận
văn giói hạn
chỉ

nghiên cứu
rủi
ro
lãi
suất

thực
trạng
quản trị
rủi
ro lãi
suất
trong
hoạt
động
kinh
doanh
tại
ngân hàng
Vietcombank
trong
giai
đoạn
từ
năm

NHTM
của
Đảng
và Nhà
nưốc
ta cũng
được đặc
biệt
lưu
ý
khi
nghiên cứu đề tài này. Ngoài
ra
đề tài còn
áp
dụng
các phương pháp
3
nghiên cứu
tổng
hợp như phương pháp phân
tích,
tổng
hợp,
phương pháp
thống
kê,
phương pháp
so
sánh

suất

quản
trị rủi
ro lãi
suất
trong
hoựt
động
kỉnh doanh
ngân hàng.
Chuông
2:
Thực
trựng
quản
trị rủi
ro lãi
suất
trong
hoựt
động
kinh
doanh
tựi
ngân hàng
TMCP
Ngoựi
thương
Việt

Mặc dù đã cố
gắng,
nhưng do
những
hựn
chế về
năng
lực,
trình độ
cũng
như
kinh
nghiệm
thực
tiễn
nên
luận
văn
chắc chắn
không tránh
khỏi
những
thiết
sót.
Rất
mong
nhận
được
sự
đóng góp ý

mặt
thực
tiễn
của
các cán bộ
thuộc
phòng Vốn và
Kinh
doanh
ngoựi
tệ,
phòng Thông
tin
báo chí
của Hội
sở chính
NH
TMCP
Ngoựi
Thương
Việt
Nam. Đặc
biệt
xin
chân thành
gửi
lời
cảm ơn đến
THS. Mai Ngọc
Bích,

LÃI
SUẤT
VÀ QUẢN
TRỊ RỦI
RO
LÃI
SUẤT
TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH
DOANH
NGÂN HÀNG
1.1. RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGÂN HÀNG
1.1.1.
Rủi ro trong hoạt
động
kinh
doanh ngân hàng
1.1.1.1.
Khái niệm về
rủi
ro
Mọi hoạt
động của
từng

nhân
cũng
như
toàn

mọi nơi
trong
cuộc sống,
luôn
đe
dọa
cuộc sống
của con
người.
Vậy
rủi
ro
là gì?
Thuật
ngữ
"rủi
ro"
đã
được
nhiều
nhà
kinh
tế
học
định
nghĩa
theo nhiều
cách khác
nhau.
Thứ

tổn
thất" [15].
Một học
giở
khác
người
Anh

Marilu Hurt

Carty
quan niệm:
"rủi
ro
là một
tình
trạng
trong
đó
biến
cố
xởy
ra trong
tương
lai

thể
xác định
được"
[12].

hiểm
cùng
với
mức
độ
rủi
ro
cao
để
đánh
đổi
lợi
nhuận
kỳ
vọng
lớn, lợi
nhuận
càng
lớn
thì
rủi
ro
càng
cao. Kinh
doanh
trong lĩnh
vực tài chính
ngân hàng
cũng
phởi

chất
đặc
biệt
của
nó.
Như
vậy,
các
định
nghĩa
trên
tuy

sự khác
biệt
nhưng đều
thống
nhất

một
nội
dung, coi
rủi
ro
là sự
bất
trắc
không mong
đợi
dẫn đến

tế
"sự đánh
đổi
giữa
lợi
suất

rủi ro, lợi
suất
càng cao
thì
rủi
ro
càng
lớn
và ngược
lại."
5
1.1.1.2.
Những
rủi
ro chủ yếu trong
hoạt
động
kinh
doanh
ngân
hàng
Cũng như
bất

chất
của
nó,
chịu
ảnh
hưởng
cùa
rất
nhiều
yếu
tố

thể
gây nén
rủi ro.
Các nhà
quản
lý ngân hàng và
người
lập
chính
sách cừn
biết
và nghiên cứu về
những
rủi
ro
này để tìm mọi cách ngăn
ngừa
và hạn


thể
phân thành một số nhóm
rủi
ro
như
sau:
* Rủi ro
lãi
suất
"là khả năng xảy
ra
những
tổn
thất
cho ngân hàng
khi
lãi
suất
thay đổi
ngoài dự
tính"
[1].
Hay nói cách
khác,
rủi
ro
lãi
suất
là khả năng

hiểu

những
tổn
thất
do khách hàng không
trả
được
nợ
hoặc
sự
giảm
sút
chất
lượng
tín
dụng
của các
khoản
vay"[l].
Hay
rủi
ro
tín
dụng
chính là khả năng xảy
ra
những
tổn
thất

đoái
thay đổi
vượt
quá
thay đổi
dự
tính"
[8].
Rủi
ro hối
đoái phát
sinh
khi
có sự chênh
lệch
về kỳ
hạn,
về
loai tiền
tệ
của các
khoản
ngoại hối
mà NH đang
nắm
giữ,
nó có
thể
làm cho NH
lỗ tiềm

làm cho ngân hàng mất khả năng
thanh
toán"
[8].
Trong
một số trường hợp đặc
biệt
ngân hàng có
thể phải đối
mặt
với rủi
ro
thanh
khoản,
ví dụ như
trong
tình
huống
dân chúng mất lòng
tin
vào ngân hàng,
hoặc
nhu cừu rút
tiền
có tính
chất
thời
vụ mà ngân hàng không dự tính trưóc được
đòi
hỏi

trên
thị
trường
giảm.
Hậu quả là ngân hàng
phải
bán
thốc
bán tháo
tức
thời
một
số
tài
sản có độ
thanh
khoản
thấp
để đáp ứng nhu cầu rút
tiền
của
người
gửi.
Điều
này
khiến
cho khả năng
thanh
toán
cuối

thanh
khoản
đến chỗ
phải
đối
mặt
với
rủi
ro
phá
sản.
Như
vậy,
rủi
ro
thanh
khoản
ở mức độ nghiêm
trọng
là một
trong
nhẫng
nguyên
nhân dẫn đến phá
sản của
các ngân hàng.
* Rủi ro hoạt động ngoại bảng:
Hoạt
động
ngoại

giấy
nhận
nợ
thứ cấp.
Tuy
nhiên,
các
hoạt
động
ngoại
bảng

ảnh
hưởng
đến
trạng
thái tương
lai
của
bảng
cân
đối
tài
sản
nội
bảng,
bởi
vì các
hoạt
động

sử
dụng
đến vốn
kinh
doanh
cho nên đã
khuyến
khích phát
triển
các
hoạt
động
ngoại
bảng.
Tuy nhiên
nhẫng
hoạt
động
ngoại
bảng
ngày
cũng
tiềm
ẩn không
ít
rủi ro.
Chẳng hạn
trong
trường hợp công
ty

sử
dụng
vốn
kinh
doanh
của mình
để
trang
trải
nhẫng
gì đã cam
kết
trong
thư bảo lãnh.
Trong
thực
tế,
nhẫng
trường
hợp
thua
lỗ
nghiêm
trọng
trong
hoạt
động
ngoại
bảng
đã

trị
điều
hành
không
hiệu
quả
hoặc
không đánh giá đúng được tác
dụng
của các
nghiệp
vụ
ngoại
bản

thể
dẫn đến
nhẫng
tổn
thất
to lớn.
* Rủi ro hoạt động là
rủi
ro
tổn
thất
tài
sản xảy
ra
do

thất
tài
sản,
xảy
ra khi
lãi
suất, tỷ
giá hay giá
cả thị
trường
biến
động
theo
chiều
hướng
bất
lợi.
Do
vậy
những
rủi ro
thuộc
phạm
vi
cơ chế giám sát
rủi
ro
thị
trường
là:

quy

hoạt
động.
Tính không
hiệu
quả
trong
đựu tư công
nghệ
của ngân hàng phát
sinh trong
trường
hợp,

dụ,
mức độ
đựu tư quá
lớn
dẫn đến công
nghệ
không được sử
dụng
đến

hậu quả là
tổ
chức
bộ máy
trở

nguyên nhân
tiềm
ẩn của sự phá sản ngán hàng
trong
tương
lai.
Ngược
lại,
lợi
ích
từ việc
đựu
tu
công
nghệ

tạo
cho ngân hàng một sức
bật
quan
trọng
trong
cuộc
cạnh
tranh
dữ
dội
trên thương trường

đồng

trường tài chính
thay đổi
đột
biến
không dự tính
trước,
sự
sụp
đổ
đột
ngột
của
thị
trường
chứng
khoán,
rủi ro
trộm
cắp,
lừa
đảo
Cuối
cùng
phải
kể
đến các
rủi
ro
bắt
nguồn


rủi
ro
thanh
khoản.
1.1.2. Tác động của rủi ro tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Rủi ro

tác động
rất lớn
đến
hoạt
động của
NHTM.
Sau
đây
là một vài dẫn
chứng
về
tổn
thất
trong
hoạt
động
của
NH:
Ví dụ đẩu
tiên,
vào
những

lỗ rất
lớn[l].
Năm
1987,
NH
Merrill
Lynch
mất 350
triệu
USD do
việc
nắm
giữ
các
chứng
khoán
thế
chấp
khi lãi
suất
tâng
đột
ngột[l].
8
Vào đầu
những
năm
90,
cấc quỹ tín
dụng

tài chính toàn
cầu,
vốn đưểc "châm ngòi"
bởi hoạt
động cho vay
tín
chấp
dưới
chuẩn
(sub-príme
mortgage)
dễ dãi và
thiếu
kiểm
soát ở Mỹ,
tiềm
ẩn
rủi
ro
lớn.
Mô hình ngân hàng đầu tư độc
lập (investment
bank)
của phố
Wall
đã
biến
mất
khi
mà Lehman

khía
cạnh
sau:
1.1.2.1.
Tổn
thất
về
mặt
tài
chính
Bất
kỳ một
rủi
ro
nào xảy
ra
cũng
gây
tổn
thất
về tài chính cho NH
hoặc
làm
tăng
chi
phí
hoạt
động,
hoặc
làm

thể
tránh
khỏi trong hoạt
động
kinh
doanh
tìm
kiếm
lểi
nhuận.
Vấn đề mấu
chốt
là các NH
phải
cân
nhắc
lựa
chọn
phương án
kinh
doanh
nhằm
đạt
đưểc
lểi
ích
chiến
lưểc dựa trên sự cân bằng hểp lý
giữa
lểi

về mặt
tài
chính. Khi
công chúng mất lòng
tin
vào năng
lực kinh
doanh,
khả năng
thanh
toán của NH thì
sẽ
dẫn đến hành động
rút
tiền
đồng
loạt,
khi đó,
NH bị rơi vào
nguy
cơ phá
sản.
1.1.2.3.
Tác
dộng
tiêu
cực
đến nền
kinh
tế

Tinh trạng
tài chính xấu của một NH còn
tạo ra
sự nghi
ngờ của
những
người
gửi
tiền
về sự ổn định và khả năng
thanh
toán của cả
hệ thống
NH, gây tác động xấu đến tình hình tài chính của các NH khác, kéo
theo
phản
ứng dây
chuyền
và phá vỡ tính ổn định
của thị
trường
tài
chính.
9
1.1.3.
Quản
trị rủi
ro trong kinh
doanh
ngân hàng

niệm
rộng
và có
những chức
năng gần
như
quản
trị
nói
chung.
Trong
kinh
doanh
ngân
hàng,
mồi
quyết
định đều được
đặt
trong
điều
kiện tồn
tại
rủi
ro
và do vậy mỗi
quyết
định
quản
trị


thể hiểu
"QTRR
trong kinh
doanh
ngân hàng là quá trình xử lý các
rủi
ro
một cách

hệ
thống,
toàn
diện
thông qua
cấc
hoạt
động
nhận
diện
và đánh giá
rủi ro;
đưa
ra
cấc kế
hoạch,
biện
pháp phòng
ngừa
rủi

niệm
này
theo
quan
điểm
cùa
ủy
ban
Basel
về giám sát
NH "QTRR
là một quá trình
liên
tục
cần được
thực
hiện

mồi cấp độ
của
một
tổ
chức
tài chính và là yêu cầu
bắt
buộc
để các
tổ chức tài
chính có
thể

vấn
đề,

quan
trồng
nhất
là duy trì được thường xuyên tình
trạng
cân
dối
giữa
nhu cầu và khả nâng có được
nguồn
vốn
trong
mồi
điều
kiện
để
đảm
bảo sự ổn
định,
vững chắc
về
tài chính cho ngân hàng
và làm
thoa
mãn
nhu cầu của khách
hàng.

thực
tế, rủi
ro ngân hàng

thể
xuất
hiện tại tất
cả các
nghiệp
vụ
của ngân hàng như:
thanh
toán,
tín
dụng,
tiền
gửi,
ngoại
tệ,
đầu


vậy,
vấn
đề
rủi
ro ngân hàng luôn được các ngân hàng
tại
các
nước phát

tiềm lực
tài chính của
từng
ngân hàng
cũng
như
việc
phân
bổ
nguồn lực
của ngân hàng cho công
tác
QTRR

mức độ
coi trồng
công tác
QTRR
của ban lãnh
đạo
Tuy
nhiên,
dù mó
10
hình
tổ chức
QTRR
tại
mỗi ngân hàng


quan
trọng
được dựa trên

sở
kết
hợp lý
thuyết
xác
suữt
và lý
thuyết
rủi
ro.

phụ
thuộc
vào chính sách
của
từng
ngân hàng

trên
mức
độ
vi


của
Ngán hàng Nhà nước

phải
chữp
nhận
rủi
ro
ở mức
cho phép nếu như mong muốn có được
thu
nhập
phù họp
từ
những
hoạt
động
nghiệp
vụ của
mình.

nhiên,
mỗi
nghiệp
vụ cụ
thể
sau
khi
đánh giá
mức
độ
rủi
ro

hữu khách
quan
vốn

trong
các
nghiệp
vụ của ngân hàng.
Do
đó,
nguyên
tắc
đầu tiên
trong
quá trình
QTRR
đối với
các
nhà
quản
trị
ngàn hàng là
phải
nhận
biết
những
"rủi
ro cho phép".
Việc
chữp

ro cho
phép.
Nguyên
tắc
này đòi
hỏi
phần
lớn
rủi
ro
trong
"gói
rủi
ro
cho phép"
phải

khả nàng
điều
tiết
trong
quá trình
quản
lý,
mà không phụ
thuộc
vào
nhũng
hoàn
cảnh

điều
tiết
chúng. Ngoài
ra,
đối
với
các
loại
rủi
ro
không

khả năng
"điều chỉnh"
cần
phải
được
chuyển
đẩy
sang
các cóng
ty
bảo
hiểm
bén ngoài.
Ba
là,
nguyên tắc quản lý
độc
lập

"gói
rủi
ro
cho phép" gây nên không
nhữt
thiết
sẽ
làm tăng xác
suữt
xảy
ra
với
các
loại
rủi
ro
khác. Nói cách khác, về nguyên
tắc
sự
thiệt
hại
đối
với
ngân hàng
do
các
loại
rủi
ro
khác

Bốn
là,
nguyên
tắc
phù hợp giữa mức độ
rủi
ro cho phép và mức độ thu nhập.
Nguyên
tắc
này là nền
tảng
của lý
thuyết
QTRR.
Các ngán hàng
trong
quá trình
hoạt
động
của
mình
chỉ
được phép
chấp
nhận
các
loại,
mức độ
rủi
ro

Năm
là,
nguyên
tắc
phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng
tài
chính.
Giá
trị
thiệt
hại
mà ngân hàng mong muớn
từ
những
khoản
rủi
ro
phải
phù
hợp với
phần
vớn
mà ngân hàng có
thể
trích dự phòng cho
những
thiệt
hại khi
chúng
xảy ra.

mức vớn dự phòng
của
ngân hàng và ngân hàng
phải
xấc định được
mức độ
(dự
báo) phù
hợp,
bao gồm cả
những
khoản
rủi
ro không
thể
chuyển
được
sang
cho
đới
tác hay
cấc
công
ty
bảo
hiểm
bèn ngoài.
Sáu
là,
nguyên

phải thấp
hơn giá
trị thiệt
hại
do
những
rủi
ro
ngân hàng có
khả
năng xảy
ra

thậm
chí ở mức độ giá
trị
cao
nhất khi
chúng
xảy
ra.
Bảy
là,
nguyên tắc hợp lý về
thời gian.
Thời gian tồn
tại
của một
nghiệp
vụ

phụ
trội
cần
thiết
không chỉ vì
lợi
nhuận
mà còn vì mục đích bù đắp
những
chi
phí để
điều
tiết
tác động
của
rủi
ro trong
trường hợp chúng xảy
ra.
Tám
là,
nguyên
rắc
phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng. Hệ
thớng
quản

rủi
ro
cần

tắc
này đòi
hỏi
các
loại rủi
ro nằm
trong
"gói
rủi
ro
cho phép"
phải
có khả
năng/tính
chuyển
đẩy
cao.
Các
loại rủi
ro
không tương thích
với
khả năng của ngân
hàng
trong việc
điều
tiết
những
hậu quả tiêu cực
khi


khả năng
chuyển
đẩy cao
sang
các
đối
tác
hoặc
các
công
ty
bảo
hiểm
bên ngoài.
Trên
đây

9
nguyên
tắc

bản
để
từ
đó
mỗi ngân hàng
xây
dựng
cho mình

đưa
ra
được
giải
pháp
nhằm
điều
tiết
các
tờc
động xờu đến tình hình
tài
chính của ngân hàng.

Các
bước cơ bản của QTRR
Sự hình thành và
thực
thi
chính sách
QTRR
ngân hàng thông thường cần
phải
được
thực
hiện
qua
những
giai
đoạn

rủi
ro
thành
từng
nhóm riêng
biệt
theo
dờu
hiệu
của
chúng.

sở
khoa
học về
việc
phân
loại rủi
ro
đã
tạo
điều
kiện
cho các nhà
quản
trị
ngân hàng có
thể
xác định rõ ràng vị
trí của

rủi
ro xuờt
phát
từ
nhiệm
vụ phân tích
hoạt
động của ngân hàng
và hoàn
thiện
các
phương pháp
QTRR, nó
tạo
điều
kiện
giải
quyết
những
vờn
đề
quan
trọng
-
làm rõ các
chỉ
số cơ bản để đánh giá tính
hiệu
quả của ngân hàng,
xác

rủi
ro thị
trường,
rủi
ro lãi
suờt,
rủi
ro thanh
khoản,
rủi
ro hoạt
động
rủi
ro
luật
pháp

Nhưng
bởi


nhiều
loại
rủi
ro
khác
nhau,
không

cùng

Kinh
nghiệm
của thế
giới
đã
chỉ ra nhiều
yếu
tố
khác
nhau

chúng

thể
làm nền
tảng
cho
việc
phân
loại
rủi
ro
ngân
hàng,
bao
gồm
những
yếu
tố


của
rủi
ro,
khả năng
thiệt
hại
cũng
như
lợi
nhuận
từ
những
13
nghiệp
vụ ngân hàng có
tiềm
ẩn
rủi
ro. Việc
phán tích sẽ giúp ngân hàng
lựa
chọn
kịp
thời
những
giải
pháp
tối
ưu
trong

hại
dự báo phụ
thuộc
vào
việc
lựa
chọn
phương pháp đánh giá
rủi
ro.
Hiện
nay trên
thực tế
có 3 phương pháp cơ bản
sau:
- Phương pháp
thống
kê:
Bản
chất
của phương pháp này là dựa trên
việc
tính
toán xác
suất
xảy
ra
thiệt
hại đối với
những

hai
phương pháp này
vối
nhau.
- Phương pháp tính toán - phân tích: Phương
phấp
này xây
dựng
lên
đường
cong
xác
suất
thiệt
hại
và đánh giá
rủi
ro ngân hàng dựa trên nền
tảng
toán ầng
dụng.
Tuy
nhiên,
việc
đánh giá
rủi
ro tài
chính,
rủi
ro

ro.
Trong
hệ
thống
điều
hành
rủi
ro ngân
hàng,

chế điểu
tiết
nội
bộ đóng
vai
trò
rất
quan
trọng.

chế điều
tiết
nội
bộ
rủi
ro
ngân hàng là một hệ
thống
giảm
thiểu

với từng
loại
nghiệp
vụ cụ
thể;
- Xây
dựng

chế
giới
hạn
rủi
ro
thông qua các
qui
định
giới
hạn mầc độ
rủi
ro
cho phép
cũng
như
đối với
các
nghiệp
vụ ngân hàng;
- Đa
dạng
hoa các hình

hành
rủi
ro ngân
hàng là
kiểm
tra,
giấm
sát
rủi
ro.
Để
phối
hợp
giữa
việc
thực
hiện
những
mục tiêu
của
ngân hàng và
việc
kiểm
tra
mầc độ
rủi
ro
của ngân hàng cần
phải
xây

xây
dựng những
tiêu
chuẩn đối với
các
chương
trình này,
trong
đó
bao
gồm
việc
lựa chọn

phân tích thông
tin.
Hệ
thống
chỉ
số
điều
tiết
những
hậu quả tiêu cực của các
loại rủi
ro
ngán hàng riêng
biệt
bao
gồm:

ro
và đưa
ra
các
biện
pháp
điều
tiết
chúng.
Như
vậy,
QTRR
ngân hàng được
xem như
một
hệ
thống
tổ
chổc
độc
lập

phổc tạp
với

cấu
kiến
trúc
đa
tầng.

tiết
hoa
trong việc
phân
loại rủi
ro
[6].
1.2. RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.2.1. Khái niệm về rủi ro lãi suất
1.2.1.1.
Khái
niệm
a.
Lãi
suất
Khi
sử
dụng
bất
kỳ
khoản
tín
dụng nào, người
vay
cũng
phải
trả
thêm một
phần
giá

một
thời
gian nhất
định

người
sử
dụng
trả
cho
người
sở
hữu
nó[4].
Hiện
nay

nhiều
cách phân
loại
lãi
suất
dựa trên các tiêu chí khác
nhau.
Tuy
nhiên,
trên
quản
điểm
kinh

gửi
giao
dịch,
lãi
suất
tiết
kiệm.
Lãi
suất
huy động

nhiều
mổc
khác
nhau
tùy
thuộc
vào
thời
hạn huy
động,
quy

tiền
huy
động.
Lãi
suất
cho vay được áp
dụng

trên
lãi
suất

bản
theo
công
thức
sau:
Lãi
suất
cho vay
=
Lãi
suất

bản
+
Phần bù
rủi
ro
Lãi
suất

bản là lãi
suất
được các
NH
sử
dụng

bản
=
Lãi
suất
huy
động
+
Chi phí
ròng khác
+
Thuế
+ Thu
nhập
dự tính
Lãi
suất

bản được hình thành khác
nhau
tùy
tặng
nước,
nó có
thể
do
NH
Trung
ương ấn định
(Việt
Nam),


Việt
Nam,
luật
NHNN
hiện
nay quy định "Lãi
suất
cơ bản là
lãi
suất
do
NH
Trung
ương công bố làm cơ sở cho các
tổ
chức
tín đụng ấn định lãi
suất
kinh
doanh"
(Khoản
12,
Điều
19).
Hiện
nay,
lãi
suất
cơ bản được xấc định dựa

dưới
hình
thức
chiết
khấu
các
giấy
tờ
có giá chưa đến hạn
thanh
toán và
thỏa
mãn
các
điều
kiện
chiết
khấu
theo
quy
định.

được tính
bằng
tỷ
lệ
%
trên
mệnh
giá của

giá,
thời
hạn
chiếu
khấu
cũng
như
quan
hệ
giữa
NH
với
khách hàng.
Lãi
suất
tái
chiết khấu
áp
dụng
khi
NH
Trung
ương tái cấp vốn cho các
NH
dưới
hình
thức
chiết
khấu
lại

lãi
suất
trên
thị
trường
tiền tệ.
Lãi
suất
Hên
NH
là lãi
suất
mà các
NH
áp
dụng
khi
cho vay
trên
thị
trường
liên
NH. Lãi
suất
liên
NH
thường được ấn định hàng ngày (còn
gọi
là lãi
suất

suất
tái
chiết
khấu,
lãi
suất
liên NH và lãi
suất chiếu
khấu
của NH
trung
gian
có mối
quan
hệ
chặt
chẽ
với
nhau. Với
một
thị
trường
tài
chính phát
triển,
sự thay
đổi
lãi
suất
tái

thấy
rởng
lãi
suất
là một
trong
những
biến
số được
theo
dõi
chặt
chẽ
nhất
trong
nền
kinh tế thị
trường,
bởi

diễn biến
của lãi
suất
phản
ánh
những
động
thái
của
thị

quan
trọng
của yếu
tố
lãi
suất trong
hoạt
động
kinh
tế,
đặc
biệt
trong lĩnh
vực
tài
chính ngân
hàng,
rủi
ro lãi
suất

thể
gây
ra
những
tổn
thất
vô cùng
lớn đối với
NHTM.

suất thay đổi
ngoài dự
tính"
[1].
Hay nói cách
khác,
rủi
ro lãi
suất

khả
năng
thu
nhập giảm
do chênh
lệch
lãi
suất
giảm
khi
lãi
suất thị
trường
thay
đổi
ngoài dự
kiến
gắn
với
sự

chứng
khoán sơ
cấp, tức
là sử
dụng
vốn;
và phát hành các
chứng
khoán sơ
cấp, tức
là huy động
vốn.
Kỳ hạn và độ
thanh
khoản
của các
chứng
khoán sơ cấp
trong
danh
mục đầu tư
thuộc
tài sản có
thường
không cân
xứng
với
các
chứng
khoán

thành
hiện thực
nếu lãi
suất
huy động vốn bổ
sung
trong
những
năm
tiếp
theo
tăng lên trên mức lãi
suất
đầu tư tín
dụng
dài hạn.
Ngược
lại,
ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạn
ngắn
thì
tương
tự
như trên ngân hàng vẫn có
thể
gặp
phải
những
rủi
ro

sản
có,
thì
khi
lãi
suất thị
trường
thay đổi
ngân hàng có
thể
gặp
phải rủi
ro
giảm
giá
trị
tài
sản.
Như
chúng
ta
đã
biết,
giá
trị
thị
trường
của tài sản
có hay
tài

sản có và
tài
sản nợ
giảm
xuống
và ngược
lại.
Do
đó,
nếu kộ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân
xứng
với
nhau,
ví dụ tài sản có có kộ hạn dài hơn tài sản
nợ,
thì
khi
lãi
suất thị
trường
tăng,
giá
trị
của tài
sản có sẽ
giảm
nhanh
hơn và
nhiều
hơn so so

ngừa
rủi
ro
bằng
cách làm cho các kộ hạn của
tài
sản
có và tài sản nợ cân
xứng
nhau.
Việc
làm cho các kộ hạn cân
xứng
nhau,
một mặt,
giảm
được
rủi
ro lãi
suất;
mặt
khác,
lại
làm
giảm
khả năng
sinh
lời
của ngân hàng,
bởi

phải
chịu
những
rủi
ro
về lãi
suất
trong
việc
tái tài
trợ
tài
sản có và tài sản
nợ;
hoặc
rủi
ro
về lãi
suất
do giá
trị
của tài sản
thay đổi khi
lãi
suất thị
trường
biến
động.
1.2.1.2. Các yếu tố quyết định lãi suất
Mặc dù lãi

cung
cầu về tín
dụng.
Theo
đó,
lãi
suất
hay giá cả của cấc
khoản
tín
dụng
được xác
định
tại
mức cân
bằng
giữa
lượng
cung
và lượng
cầu tín
dụng.
Ngân hàng đóng
vai
trò là
những
nhà
cung
cấp tín
dụng,

trợ
vốn cho đầu
tư,
ngân hàng
tạo ra
cầu về tín
dụng
trên
thị
trường.
Tuy
nhiên một ngân hàng dù quy mô
lớn
đến đâu
cũng
chỉ
là một
tổ
chức
có nhu cầu về
tín
dụng
trên một
thị
trường có hàng nghìn
người
đi
vay.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status