BỘ GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC NGOẠI
THƯƠNG
cg^so
ĐỂ
TÀI NGHIÊN
CỨU
KHOA
HỌC
CÁP
BỘ
MỘT SỐ
GIẢI PHÁP
NHẮM
HOÀN
THIỆN
HOẠT
ĐỘNG KẾ
TOÁN
VÀ
NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG
THÔNG TIN
KÊ
TOÁN
TRONG
CÁC
ỳĩŨDẢĨtị
^£ok
j
Xác nhận của
TrưỚng
Đại
học
Ngoại
Thương
rệu
TRƯỚNG
HIỆU
TRƯƠNG
HÀ NỘI
-
2005
MỤC LỤC
LỜI
NÓI ĐẦU
1
CHƯƠNG
1:
Cơ sở
lý
luận
về
hoạt
động kế toán
doanh
nghiệp
8
1.4.
Kế
toán
tài
chính - Kế toán
quản
trị
11
li.
Hệ
thống
thông
tin
kẻ toán 12
2.1.
Khái
niệm
về hệ
thống
thông
tin
kế
toán
12
2.2.
Quy trình xử
lý
thông
tin
trường 20
3.2.
Các tiêu
chuẩn
đánh giá
chất
lượng thông
tin
kế toán
tài
chính
trên
thế
giới
21
3.3.
Các
yếu tố
ảnh hưởng đến
chất
lượng thông
tin
kế toán 27
CHƯƠNG
li:
Thực
trạng
về
hoạt
động kê toán và
doanh
của
các
doanh
nghiệp
36
Ì
.2.
Thực
trạng
khuôn khổ pháp lý
của hoạt
động kế toán
doanh
nghiệp
40
1.3.
Thực
trạng
công
tác
kế
toán
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam 47
1.4.
vốn kinh
doanh53
2.2.
Đánh giá
chất
lượng thông
tin
kế toán
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam 57
CHƯƠNG
IU:
Một
sôi
giải
pháp nhằm hoàn
thiện
hoạt
động kê toán
và
nâng cao
chất
lượng thông
tin
kế toán
trong
là
yêu
cầu
cấp
thiết
trong
giai
đoạn
hiện
nay
62
1.2.
Mục
tiêu
chiến
lược
đổi
mới kế toán
Việt
Nam
giai
đoạn
2001-2010
63
li.
Một
số
giải
pháp cụ
thể
Kế toán đóng
vai
trò
quan
trọng trong việc
cung
cấp thông
tin
về tình hình
tài
chính,
về
kết
quả
hoạt
động
sản
xuất,
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
cho các
đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
tin
đưa
ra
các
quyết
đờnh
kinh
tế
đúng
đắn:
Nhà nước sẽ xác đờnh được chính xác số
thuế
doanh
nghiệp phải
nộp;
các nhà đầu
tư,
các
đối
tác khác sẽ yên tâm
khi
đưa
ra
các
quyết
đờnh đầu
tư,
cho
vay,
góp
tế
quốc
tế
của
Đảng
và Nhà nước thì yêu cầu nâng cao
chất
lượng
thông
tin
kế
toán
ngày càng
trở
nên
cấp
thiết.
Tuy
nhiên,
trên
thực tế
hiện
nay,
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam chưa
thực
sự
này do
rất
nhiều
nguyên nhân: môi trường pháp lý
điều
chỉnh
hoạt
động
kế toán còn chưa đấy
đủ,
ý
thức
chấp
hành pháp
luật
của các
doanh
nghiệp
chưa
tốt,
nhận
thức
của các
doanh
nghiệp
và các
đối
tượng
sử
dụng
nghiệp
còn
vướng
mắc
trong việc
tổ
chức
một cách
hiệu
quả bộ máy kế
toán,
trong việc khai
thác,
sử
dụng
thông
tin
kế
toán
trong
công tác dự
báo,
quản
lý tác
nghiệp,
quản
lý
chiến
lược của
doanh
lượng
thông
tin
kế toán
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam"
sẽ
góp
phần
làm cho thông
tin
Ì
kế
toán
trong
các
doanh
nghiệp
được
minh
bạch
hơn,
lành
mạnh
hơn,
có
kế
toán
doanh
nghiệp
và thông
tin
kế
toán
doanh
nghiệp;
- Đánh giá
thực
trạng
của hoạt
đởng kế toán và
chất
lượng thông
tin
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam;
- Đề
xuất
mởt số
giải
pháp nhằm hoàn
thiện
đởng
tại
Việt
Nam.
Phạm
vi
nghiên cứu của đề tài là các
hoạt
đởng kế toán của
doanh
nghiệp,
đặc
biệt
là
phân tích sâu các tiêu
chuẩn
đánh giá
chất
lượng thông
tin
kế
toán,
các
yếu tố
ảnh hưởng đến
chất
lượng thông
tin
kế toán
doanh
thực
hiện trong
mối
quan
hệ
với chất
lượng thông
tin
kế
toán
doanh
nghiệp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp
luận
nghiên cứu
của
để
tài là chủ
nghĩa
duy
vật
biện
chứng
và
duy vật
lịch
sử của Chủ
nghĩa
Mác Lê
2
- Hệ
thống
hóa các
nội
dung
cơ bản về kế
toán,
thông
tin
kế toán,
quy
trình xử
lý
thông
tin
kế
toán,
các tiêu
chuẩn
đánh giá thông
tin
kế
toán
trên
thế
giới,
các
yếu
tố
doanh
nghiệp,
công tác tổ
chức
hoạt
động kế toán của các
doanh
nghiệp,
công tác
kiồm
tra,
kiồm
toán
- Đề
xuất
các
giải
pháp hoàn
thiện
hoạt
động kế toán và nâng cao
chất
lượng thông
tin
kế
toán
trong
các
doanh
nghiệp
Chương
2:
Thực
trạng
hoạt
động kế toán và
chất
lượng thông
tin
kế toán
trong
các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
Chương
3:
Mội
số
giải
pháp nhằm hoàn
thiện
hoạt
động kế toán và nâng
cao
chất
lượng thông
tin
kế
1.1. Bản chất của kẽ toán
Trong
hoạt
động
của
đời
sống
kinh tế
xã
hội
loài
người,
từ khi
chữ
viết
chưa
ra
đời,
đến
khi
biết
sử
dụng
tiền
làm
vật
ngang
giá
chung,
thì con
của
mình.
Kế toán
là khoa
hớc về
thu
nhận,
xử
lý,
phân tích thông
tin
kinh
tế,
tài
chính
bằng
con
số
trên
cơ
sở sử
dụng
cả ba
loại
thước
đo:
giá
trị,
hiện vật
và
xuất,
kinh
doanh, hoặc
sử
dụng
vốn, kinh
phí
nhằm
cung
cấp
các
thông
tin
kinh tế
tài
chính
để
điều
hành,
quản
lý toàn bộ
hoạt
động
và
bảo vệ
tài sản
ở
các
tổ
chức,
tính áp
đặt,
chủ quan của người
sử
dụng.
Tuy
vậy,
kế
toán
không
phải
là
lĩnh
vực
khoa hớc
thuần
tuy
mà nó
thuộc
loại
khoa
hớc
xã
hội
về
quản
lý
kinh
tế.
Kế
nối giữa
người cung
cấp thông
tin
và
người
sử
dụng
thông
tin.
Là
công cụ
quản
lý
kinh
tế,
kế toán
phải
phục
vụ nhu cầu
của
người
sử
dụng
chúng.
Do
vậy,
kế toán
chịu
sự
mối
quan
hệ
giữa
người
điều
hành
doanh
nghiệp
và
chủ
sở hữu
vốn;
trình độ
khoa hớc
kỹ
thuật
về
thông
tin
Tính tương
đối
của
kế toán so
với bối
cảnh
chính
trị,
kinh
tế-xã
các báo cáo kế toán nhằm
thoa
mãn
nhấng
nhu
cầu
thông
tin
cần
thiết
cho
quản
lý
và đáp ứng được
nhấng
yêu cầu
của
pháp
luật.
Hoạt động kế
toán
là toàn bộ công
việc
xử lý và
cung
cấp thông
tin
kế
toán,
tài chính có tính
phận
hay phòng ban
chức
năng
thực
hiện.
Ngược
lại,
một bộ
phận
hay một phòng ban
cũng
có
thể thực
hiện
nhiều hoạt
động
chức
năng khác
nhau.
Tổ
chức hoạt
động kế
toán
là
kết
quả của
quá trình
sắp xếp
và cơ
tin
kế
toán
để
ra
quyết
định
Xử
lý
Phân
loại
Sắp xếp
HOẠT
ĐÔNG KẺ TOÁN
Thông
tin
Tổng
hợp
Lập báo cáo
kế
toán
Sơ đồ
1:
Mói
quan
hệ
giấa hoạt
động kê
toán,
hoạt
sử
dụng.
Các
biện
pháp đó là: đào tạo
chuyên
gia
kế
toán,
kiểm
toán;
thể
chế hóa các
điều
kiện
hành
nghề
kế
toán,
ận
định
các nguyên
tắc
về trách
nhiệm đối
với
những người
lập
báo cáo kế toán tài
chính và
thập
niên vừa
qua, thế
giới
đã
trở
nên
tự
do
hơn,
giậu
có hơn,
đa
dạng
và
phức
tạp
hơn. Trong
điều
kiện
toàn cầu hóa nền
kinh tế thế
giới,
cạnh
tranh
diễn ra
gay
gắt giữa
các
doanh
là ở quy mô
quốc
tế.
Thế
mà,
thông
tin
kế toán
lại
bị
chi phối bởi bối
cảnh
kinh
tế,
chính
trị
và
xã
hội
của
từng
quốc
gia
cũng
như
bởi
nhu
cầu
và
tình
phải
có sự
thống
nhật
trong
thời
gian giữa
các
chuẩn
mực kế
toán và
bắt
buộc
phải cải
thiện
thông
tin
tài
chính
kế
toán
của
mình.
Muốn
vậy,
cần
phải
xác định cho kế toán các mục tiêu cụ
thể
và xây
đạt
được các mục tiêu
đó. Đạt
được các mục tiêu
của
kế toán được
hiểu
là
kế toán đã
thỏa
mãn được nhu
cầu
thông
tin
của người
sử
dụng.
Đó
cũng
là
việc
thừa
nhận sự
đa
dạng
về nhu
cầu
thông
tin.
Những
cung
cập,
khách
hàng,
nhân
viên,
công
đoàn,
cơ
quan
thống
kê,
các
tổ
chức
Trong
tật
cả
những
người
sử
dụng
thông
tin
kế toán
tiềm
năng này, ưu
tiên
các cơ quan
thuế
các
quy định
của
kế toán
thống nhất với
các quy
định của
thuế,
kế
toán pháp
quy là kế
toán
phục
vụ mục
đích
thuế.
Thông
tin
kế toán
chủ yếu phục
vụ
cho công tác
thu
thuế,
không giúp
ích
cho
các
đối
tượng
dụng.
Quyết
định
kinh
tế
của
người
sử
dụng
trong
khuôn
khổ
khái
niệm
của
Mỹ
là
quyết
định đầu tư các
nguồn
lực
trong
một
doanh
nghiệp.
Kế
toán
Mỹ ưu
tiên
cung
hành
doanh
nghiệp.
Thông
thường,
lợi
ích của
chủ
sở hữu vốn và nhà
quần
lý
doanh
nghiệp
là
lợi
ích
đối
kháng.
Sự
tách
bạch
không tránh
khỏi giữa
chủ
sở hữu
vốn
và nhà
quần
lý
doanh
sở
hữu
vốn sẽ
làm
tăng
chi
phí
vốn.
Chỉ
thông qua
việc
cung cấp
các thông
tin
kế
toán
tài
chính
phù
hợp
cho
các
chủ sở hữu
vốn
mới cho phép
giầm
các
chi
phí
này.
trọng
của
thị
trường
tài
chính
trong việc
tài
trợ
vốn
cho
các
doanh
nghiệp.
Xu
hướng
ngày nay
là dung
hòa
giữa
mục
tiêu đánh giá
hiệu
quầ
kinh
doanh
và
mục
tiêu
thuế
thỏa
mãn nhu
cầu thông
tin
riêng cho mọi
đối
tượng
sử
dụng
nhưng
đáp ứng
được
yêu cầu của nhà đầu tư
trong việc
đánh
giá
hiệu
quầ
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp
thì
cũng
đáp ứng yêu
cầu của
những đối
tượng
sử
động
về tình hình
tài
chính
của doanh
nghiệp
cho số đông những
người
sử dụng
khi
đưa
ra
các
quyết
định
kinh tế.
7
1.3. Vai
trò
của
kê toán
Sự
ra đời
và phát
triển
của
kế toán gắn
liền
với
quá trình phát
vị,
không
chợ
cần
thiết
đối với
các nhà
quản
lý mà cả trên phạm
vi
toàn xã
hội
với
nhiều đối
tượng
quan
tâm khác
nhau.
Là một
khoa học
về thông
tin
và
kiểm
tra
các
hoạt
động
kinh tế tài
chính gắn
tin
kế
toán
được
sử dụng cho
nhiều đối
tượng
khác
nhau.
Đối với
Nhà
nước,
báo cáo
tài
chính
cung
cấp thông
tin
cần
thiết
giúp cho
việc
thực
hiện
chức
nâng
quản
lý của Nhà nước
đối
với
nghiệp
đối với
ngân sách Nhà
nước.
Còn
những
nhà
quản
lý
doanh
nghiệp,
chịu
trách
nhiệm
quản
lý và sử
dụng
vốn kinh
doanh
một cách có
hiệu
quả,
sử
dụng
thông
tin
kế toán để
điều
hành
doanh
ra
các
quyết
định
về đầu
tư,
sử
dụng
tài
sản,
xây
dựng
chính sách huy động
vốn,
chính sách
quản
lý
thu,
chi;
chính sách giá
bán một
cách có
hiệu quả.
Ngoài
ra,
thông
tin
kế
toán còn giúp cho các nhà
quản
quan
hệ về bạn
hàng
Thông
tin
kế toán
minh bạch
với
độ
tin
cậy cao sẽ
thuyết
phục
được các
1
Thiết
lập
các
chính sách
kinh
tế,
thực
hiện
chức năng kiểm soát
giá
cá, lập
kế
hoạch
kinh
tế
nghiệp
trong
điều
kiện
các nhà
quản
lý
doanh
nghiệp
thường
phải
cạnh
tranh
với
nhau
để tìm
kiếm
nguồn vốn.
Đối
với
những
nhà đầu
tư,
các chủ nợ đặc
biệt
quan
tâm đến khả năng
sinh
lời
cũng
như đề đưa
ra
các
quyết
định đầu tư,
cho vay của
mình.
Đối
với
các
kiểm
toán viên độc
lập:
Các nhà đầu tư và
cung
cấp
tín dụng
có
lý do để mà
lo lịng rằng
các nhà
quản
lý có
thể
bóp méo các báo cáo
tài
chính do
họ
cung cấp
nhằm mục đích tìm
phải
chấp
thuận
vì
họ
cần vốn.
Như vậy báo cáo tài chính đóng
vai
trò như là
đối
tượng
của
kiểm
toán
độc
lập.
Ngoài
ra,
thông
tin
kế toán của
doanh
nghiệp
còn được
rất
nhiều đối
tượng
khác
quan
tâm như các nhà
tra,
giám
sát
Thông qua
việc
cung cấp
thông
tin,
kế toán cho phép các
đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
thực
hiện
chức
nâng
kiểm
tra,
giám sát mọi
hoạt
động
kinh
tế,
tài chính
của
doanh
nghiệp.
nghiệp.
Thậm
chí,
người
lao
động
cũng
có
thể
giám sát xem
doanh
nghiệp
có
thực
hiện
đúng hợp đổng
lao
động
với
họ hay không.
Đặc
biệt,
thông
tin
kế toán
quản
trị
cho phép các nhà
quản
lý
9
tham
gia
vào
việc
kiểm
soát
bằng
việc
kết
hợp
quyền
Lợi
của
các thành viên
của
tổ
chức
với
mục tiêu
chung
của
tổ
chức.
Các thành viên
của
tổ
chức
được kích thích
hướng
phận.
Vai
trò của báo cáo kế toán
quản
trị
phục
vụ cho
chức
năng
kiểm
soát
biểu
hiện
qua:
- Chức năng kiểm
soát
quản
lý:
thông
tin
trên báo cáo kế toán
quản
trị
cũng
được
dùng để đánh giá
kết
quả
hoạt
động của các đơn vị được phân
hiện chiến
lược đó
bởi
các bộ
phận
hoạt
động riêng
lẻ trong
doanh
nghiệp.
- Chức năng
kiểm soát hoạt động:
thông
tin
trên báo cáo kế toán
quản
trị
cũng
là một
trong
các phương
tiện
chính mà qua đó các nhân
viên,
nhà
quản
trị
nhận
được thông
tin
khác
nhau,
cho phép họ đưa
ra
các
quyết
định
kinh
tế
và
thấc
hiện
quyền
kiểm
tra,
giám sát của mình. Kế toán cho phép
người
sử
dụng
thông
tin
đánh giá được
hiệu
quả,
sức
mạnh
tài chính của
doanh
nghiệp.
Kế toán còn cho phép
không
chỉ
có
vai
trò
kinh
tế
mà có cả
vai
trò xã
hội.
Nhận xét này đặc
biệt
đúng
trong
các nước
theo
định
hướng
xã
hội
chủ
nghĩa
trong
chừng
mấc mà
doanh
nghiệp
không
chỉ sản
nhiều đối
tượng
thông
tin
khác
nhau.
Các
đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
kế toán
có
lợi
ích
trực
tiếp
hay gián
tiếp
đối với
doanh
nghiệp.
Họ sử
dụng
thông
tin
kế
toán để
doanh
nghiệp.
Để đáp ứng được yêu
cầu
về thông
tin
cho
những
đối
tượng
sử
dụng này,
trong
điều
kiện kinh
tế
thị
trưậng,
kế toán được tổ
chức
thành kế
toán
tài
chính và
kế
toán
quản
trị.
Kế
toán
kế toán.
Kế
toán
quản
trị
/à
việc
thu thập
xử
lý,
phân tích và
cung cấp
thông
tin
kinh
tế,
tài
chính
theo
yêu
cầu quản
trị
và
quyết
định
kinh
tế,
tài
chính
trong
chịu
sự
chi
phối
của
các
quy
định pháp
luật,
các
chuẩn
mực kế
toán,
các thông
lệ
kế
toán,
nhằm đảm bảo
quyền
lợi
cho các
đối
tượng
có
quan
hệ
lợi
ích
với
doanh
sử
dụng
thông
tin
kế
toán
quản
trị
với chi
phí
phải
bỏ
ra
để có được các thông
tin
đó.
Đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
của kế toán tài chính chủ yếu là ở bên ngoài
doanh
nghiệp
như Nhà
nước,
cơ
quan
thuế,
phòng
ban chức
năng. Kế toán
quản
trị
đóng
vai
trò
quan
trọng
đối
với
ngưậi
quản
lý
trong việc
thực
hiện
chức
năng
kiểm
soát
quản
lý
trong
doanh
nghiệp
và giúp cho
doanh
nghiệp thực
tiếp
tục
sản
xuất
kinh
doanh
một
mặt
hàng hay không
li. HỆ THÔNG THÔNG TIN KE TOÁN
Như
vậy,
bản
chất
của
kế toán
là
một hệ
thống tổ
chức
và
cung cấp
thông
tin
được
biểu hiện
bồng
đơn
vị
tiền
doanh
nghiệp.
Kế toán
bao
gồm
hai
mảng, không hoàn toàn độc
lập
với
nhau,
nhưng có mục tiêu khác
nhau,
đó
là
kế
toán
tài
chính và kế toán
quản
trị.
Các thông
tin
do kế toán
tài
chính
và kế toán
quản
trị
cung
cấp đều là
từ
những
năm 70 cùng
với
việc
sử
dụng những
chiếc
máy tính
trong
công tác
quản lý.
Hệ
thống thông
tin
là một
tổng
hợp các
yếu
tố (con người,
thiết
bị,
phần
mềm) cho phép
tạo
lập,
xử
lý
và
cung
ba
hệ
thống:
hệ
thống hoạt
động cụ
thể
- tác
nghiệp,
hệ
thống quyết
định và hệ
thống
thông
tin.
Hệ
thống
thông
tin
có ba mục
tiêu:
trợ
giúp tác
nghiệp, trợ
giúp
việc
ra quyết
định và
trợ
giúp
lệnh,
chỉ
dẫn).
Hệ
thống
thông
tin
còn
cung
cấp
những
thông
tin
hữu ích cho các cá nhân hay
tổ chức
để
thực
hiện
nhiệm
vụ
điều
hành,
quản
lý
của
họ:
thông
tin
chuẩn bị
các
giữa
doanh
nghiệp
với
môi
trường
kinh
doanh.
Với nhiều
mục tiêu như
vậy,
trên
thực
tế, trong
một
doanh
nghiệp,
tồn
tại
nhiều
hệ
thống
thông
tin
bổ
sung
cho
nhau.
Một số hệ
thống
tin
quản
lý các
dòng lưu
chuyển
hàng
hóa,
vật
tư; quản
lý nhân
sự,
hệ
thống
thông
tin
kế
toán).
Các hệ
thống
tin
học:
máy
tính,
mạng,
cơ
sở
dữ
liệu
.chỉ
là
tổng
hợp các
yếu
tố
cho
phép
thu
thập,
lưu
trữ,
xử
lý
và
truyền
thông
tin.
Tuy
nhiên,
hệ
thống
thông
tin
kế toán chỉ xử lý
những
thông
tin
được
biểu
hiện
bằng
Sơ đồ
2:
Hệ thông thông
tin
kẽ toán
2.2.
Quy trình xử
lý
thông
tin
kê toán
Trong
các
doanh
nghiệp
có
những
đặc
điểm
kinh
doanh
khác
nhau,
qui
mô
khác
nhau,
tổ
chức chức
năng kế toán có
một cách thường xuyên, liên
tục,
ở
những
địa
điểm
và
thời
gian
khác
nhau
dẫn
tới
sự vận
động,
thay
đổi
và
chuyển
hoa hình thái tài sản cổa
doanh
nghiệp.
Các thông
tin
này
cần
phải
được
thu
nhận
động đầu tiên của chu trình kế toán nhằm
ghi
nhận
mọi
nghiệp
vụ
kinh
tế,
tài chính đã phát
sinh
và
thực
sự hoàn thành xảy ra
trong
quá trình
hoạt
động
sản
xuất
kinh
doanh
(SXKD) và sử
dụng vốn
kinh
doanh
ặ
bất
cứ bộ
phận
nào
tế
tài
chính đã
diễn
ra
và hoàn thành. Chứng
từ
sau
khi
được
thiết
lập phải
được
luân
chuyển
đến các bộ
phận quản
lý
chức
năng có liên
quan
theo
quy định của
từng
doanh
nghiệp.
Sự luân
chuyển
chứng từ
đến các bộ
chứng từ
này đã giúp
doanh
nghiệp
quản lý,
bảo vệ được tài
sản,
nắm
vững
được
tình hình
biến
động,
chuyển
hoa
tài sản
trong
toàn bộ quá trình
hoạt
động
sản
xuất,
kinh
doanh của doanh
nghiệp.
Như
vậy,
lập
chứng
từ
tin
kinh
tế,
tài
chính có
hiệu
quả,
đồng
thời
chứng
từ
ban
đầu còn
là bằng chứng
pháp lý của
nghiệp
vụ
kinh
tế
phát
sinh
đã hoàn
thành,
là yếu
tố
khặi
đầu của
việc
thiết
lập
cần
phải
có
được
các
chỉ
tiêu
kinh
tế theo từng
loại
nghiệp
vụ
kinh
tế
phát
sinh
hoặc
từng
quá
trình
hoạt
động sản
xuất
kinh
doanh
ặ
dạng
tổng
quát
hoặc
thực
hiện
liên
tục theo
trình
tự
thời
gian
và phân
loại
theo nội
dung
kinh tế
của
nghiệp
vụ phát
sinh
đã được
ghi
nhận
trên
chứng
từ.
Tuy
theo
đạc
điểm
sản xuất
và
kinh
thì chủ yếu
các đơn
vị sử
dụng
hình
thức
Nhật
ký
chung
và Chứng
từ ghi
sổ.
Sổ quỹ
CHỨNG
TỪGỐC
Sổ đăng kýCTGS<
Sổ
kế
toán
chi
tiết
CHÚNG TỪ GHI SÔ
Bảng
tổng
hóp
chi
tiết
sổ
CÁI
^ V-
<—•
Ghi
hàng ngày
•
Ghi
cuối
tháng
Kiểm
tra đối
chiếu
Bảng
cân
đối
tài khoản
BÁO CÁO KÊ TOÁN
Sơ đồ
4:
Trình
tự
kế toán
theo
hình
thức
Nhật
ký
chung
2.2.3.
Lập báo cáo kế toán
15
Để
các cơ
quan quản
lý
chức
năng,
các kế toán viên
phải
lập
báo cáo kế
toán,
bao gồm báo cáo kế
toán
tài
chính
và báo cáo kế
toán
quản
trị.
- Báo cáo kế
toán
tài
chính
là
báo cáo
tổng
hợp
về
tình
hình
tài
được
thể hiện
thông qua một hệ
thống
các
chỉ
tiêu có mối liên
hệ với
nhau
do Nhà nước quy đụnh
thống
nhất
và mang tính pháp
lệnh.
Các
báo cáo kế toán tài chính bao gồm: Bảng cân
đối
kế
toán;
Báo cáo
kết
quả
hoạt
động
kinh
doanh;
Báo cáo
lun
chuyển
tiền tệ;
Báo
cáo này
cung cấp những
thông
tin
cho
các nhà
quản
lý để
lập
kế
hoạch,
đánh
giá và
kiểm
soát
hoạt
động
trong
doanh
nghiệp,
tồn
tại
vì
lợi
ích của nhà
quản lý.
Nói một cách
tổng
quát,
kinh
doanh
theo
sản
phẩm, bộ
phận chức
năng:
o Báo cáo dự toán ngân sách
sản
xuất,
bán hàng
2.2.4.
Kiểm
tra
kế toán
Kế toán là công cụ
phản
ánh các
hoạt
động
kinh
tế,
tài chính của
doanh
nghiệp
nên kế toán
phải
phản
ánh
trung
đối
tượng
khác sử
dụng
thông
tin
kế
toán.
Để đảm bảo cho công tác kế toán ở các
doanh
nghiệp
được
thực
hiện theo
đúng pháp
luật,
đúng
thể lệ
quy đụnh của Nhà nước
cũng
như quy
đụnh
của
từng
doanh
nghiệp,
số
liệu
kế toán được
phản
kế
toán,
đòi
hỏi
phải
tiến
hành
kiểm
tra
kế toán.
Kiểm
tra
kế
toán
là
việc
dựa vào
tài
liệu,
chứng
từ
kế
toán,
sổ
kế
toán
và báo
cáo
kế
toán
dung
và phương pháp kế
toán.
Thông qua đó mà
kiểm
tra việc
tổ
chức
sản
xuất
kinh
doanh,
kiểm
tra
việc
quản
lý và sử
dụng
tài
sản,
tiền
vốn, kết
quả
kinh
doanh của doanh
nghiệp.
Trên cơ sở
kết
quả
kiểm
động sản
xuất
kinh
doanh
của
doanh
nghiệp.
Vì
vậy,
kiểm
tra
kế toán là một công
việc
cần
thiết
không
thể
thiếu
được
vụi
công tác kế toán.
Theo
sự phát
triển
của xã
hội,
kiểm
tra
kế toán ngày càng phát
triển
kiểm
toán
nội
bộ Các
hoạt
động này đã
tham
gia
tích cực
vào công
tác
kiểm
soát
chất
lượng
thông
tin
hạch
toán và
cung
cấp
thông
tin
cho cả
các
đối
tượng
sử
dụng
cả bên
khoa
sổ và
lập
báo cáo tài
chính),
đơn
vị
phải
sắp
xếp,
phân
loại,
gói
buộc
liệt
kê ngoài
gói,
lập
danh
mục tài
liệu
kế toán lưu
trữ
và đưa vào lưu
trữ
tài
liệu
kế toán
theo
quy định
sổ
kế
toán,
báo cáo
tài
chính,
báo cáo
kế
toán
quản
trị,
báo cáo
kiểm
toán,
báo cáo
kiểm
tra
kế toán và tài
liệu
kế toán
khác có liên
quan
đến kế
toán.
Yêu cầu bảo
quản
tài
liệu
kế toán
phải
theo
bản sao
chụp hoặc
xác
nhận.
Tài
liệu
kế toán
khi
đưa
vào lưu
trữ phải
là bản chính. Tài
liệu
kế toán được lưu
trữ theo
thời
hạn do pháp
luật
từng
nước quy
định.
2.3.
Đặc
điểm
của
hệ
thống
thông
tin
thông
tin
kế toán
quản
trị
do đối
tượng
sử
dụng
thông
tin
của
hai
phân ngành kế toán là khác
nhau.
2.3.3.
Đặc điểm của thông
tin
kê
toán
tài
chính
Là thông
tin
kế toán
cung
cổp cho các
đối
tượng
sử
quả
kinh
doanh,
tình hình và
kết
quả
lun
chuyển
tiền
của
doanh
nghiệp
trong
một kỳ kế toán
nhổt
định.
- Thông
tin
do kế toán tài chính
cung
cổp chỉ là các thông
tin
về quá khứ của
doanh
nghiệp,
về các
nghiệp
vụ
kinh
tế
nghiệp)
và chỉ
ghi nhận
các khía
cạnh
tiền
tệ
của các
giao
dịch
kinh
tế.
- Thông
tin
kế toán
thuần
tuy
được
thu
thập,
xử lý từ hệ
thống
ghi
chép ban
đầu.
- Các phương pháp xử lý thông
tin
kế toán
tài
chính
trọng
đến khía
cạnh
kiểm
tra,
kiểm
soát nhằm đảm
bảo
độ
tin
cậy của công tác xử lý thông
tin
như
phản
ánh
theo
thời
gian
các
18
nghiệp
vụ phát
sinh,
có
bằng chứng
và không
thể
sửa
đổi
các bút toán; các
doanh
nghiệp,
chủ yếu là các nhà
quản
lý và các chủ sở hữu
vạn.
-
Phạm
vi
nghiên cứu của kế toán
quản
trị
là phân tích quá trình hình thành và
phát
sinh
chi
phí.
Thông
tin
do kế toán
quản
trị
cung
cấp là các thông
tin
chi
tiết,
cụ
thể
về giá
hoạch.
- Kế toán
quản
trị
không
chỉ
sử
dụng
thước đo giá
trị
mà còn sử
dụng
thước đo
hiện
vật
và thước đo
lao
động.
Kế toán
quản
trị
không
những
xử lý các thông
tin
kế toán
thuần tuy từ
những chứng
từ
ban đầu của kế toán
doanh
của
từng
đơn
vị.
Vì
vậy,
kế toán
quản
trị
không
phải
là
đại
tượng
của
chuẩn
hóa kế toán.
Với
những
đạc
điểm
kể
trên,
kế toán
quản
trị
bổ
sung
cho kế toán tài chính
việc
chuyển
hóa các
nguồn lực
và
tạo ra
giá
trị
bởi
chính
doanh
nghiệp
đó. Kế toán
quản
trị
thiết
kế một sạ thông
tin
cần
thiết
cho kế toán tài chính
3
, vì vậy nên kế toán
quản
trị
cũng
có ảnh
hưởng
quyết
định đến
nền kinh
tê
thị
trường
Liệu
chúng
ta
có
thể
tin
vào kế
toán,
các nguyên
tắc
và phương pháp
của
kế
toán,
tin
vào các
tổ chức, doanh
nghiệp
làm kế toán và thông
tin
do
kế toán
cung
cấp?
Ngay
lớp tức
trao
đổi
mang
lại.
Thương mại và
trao
đổi
chỉ
mang
lại
lợi
ích nếu nhu sự
minh bạch
và
chất
lượng
của thông
tin
kế toán
và
tài
chính
giúp các
nhà
quản
lý
đưa
ra
các
quyết
kinh
tế thị
trường,
kế toán đã
xuất hiện
là
một
công cụ phù hợp
nhất
để
thu thớp,
xử lý và
tổ
chức
thông
tin
về các
giao
dịch
sao
cho
thông
tin
này có
thể
được
sử dụng
dưới nhiều
hình
thức
quản
lý và đánh
giá các
nguồn
lực
đã sử
dụng.
Xã
hội
càng phát
triển
thì kế toán
và xã
hội
càng
phải
duy trì
những
mối
quan
hệ
tin
cớy
lẫn
nhau.
ở
mọi
doanh
nghiệp, chất
lượng
tài
sản của
doanh
nghiệp,
đánh giá khả năng cân
đối
về
tài
chính và tình hình
tiền,
nắm
được
giá
trị
của
các
nguồn
lực
có
thể
tham
gia
vào quá trình
sản
xuất kinh
doanh,
nghiên
cứu
doanh
thu
là
lợi
nhuớn,
hoạt
động
theo
nguyên
tắc
hạch
toán
kinh
doanh.
Cơ
chế
thị
trường
có sự
điều
tiết
của
Nhà
nước
tạo
điều
kiện
thuớn
lợi
cho các
doanh
nghiệp
thu nhập
và
lợi
nhuận
tối
đa
trong
khuôn khổ
luật
pháp cho
phép.
Cơ
chế
thị
trường đòi
hỏi
kế
toán
phải
đáp ứng được nhu cầu sử
dụng
thông
tin
kinh tế
tài
chính
cởa
các
đối
tượng
thừa
nhận
trong
nền
kinh
tế thị
trường.
Kế toán
phải
là
"ngôn
ngữ"
thống nhất
không
chỉ
đối với
một
quốc
gia,
mà
còn ở quy mô khu vực hay toàn
cầu.
Thông
tin
kế toán rõ
ràng,
công
khai,
minh
bạch
nhau.
Thông
tin
kế
toán
có
chất lượng
là
thông
tin
có khả năng
thoa
mãn nhu cầu
của
người
sử dụng
thông
tin
với chi
phí
thấp.
Các yếu
tố
cấu thành
chất
lượng
thông
tin
kế
toán
kế
toán
của
CH Pháp
Luật
kế toán Pháp không đưa
ra
định
nghĩa
về
chất
lượng
thông
tin
kế toán.
Những đòi
hỏi
về
chất
lượng
thông
tin
kế toán được
thể
hiện
trong
các nguyên
tắc
cơ bản
cởa
kế toán
thống nhất
được xây
dựng
và áp
dụng
cho các
doanh
nghiệp
lớn,
vừa
và
nhỏ,
trong
đó các mục tiêu
cởa kế
toán
đã
bị
gác
lại.
Thật vậy,
hệ
thống
kế
toán
thống nhất
không
chỉ
rõ một nhóm
thu
thập,
sắp
xếp, ghi
chép các dữ
liệu
cơ bản đã được số hóa;
21