1ĐỀ TÀI
NÂNG CAO TÍNH CẠNH TRANH VÀ
HƯỚNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC
SẢN PHẨM THUỘC CÔNG NGHIỆP
HÓA CHẤT
HÀ NỘI - 2008 2
MỤC LỤC
Trang
I. GIỚI THIỆU CHUNG II. GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT, YẾU TỐ QUAN TRỌNG
NHẤT ĐỂ TĂNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
II.1. Một số nguyên nhân tăng chi phí sản xuất
II.2. Một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu vào
sản xuất
II.2.1. Ảnh hưởng của giá điện
II.2.2. Ảnh hưởng của giá nhiên liệu (than, xăng dầu và khí
III.1.3. Ngành sản xuất sản phẩm PLNC
III.1.4. Ngành sản xuất sản phẩm phân NPK 4
III.1.5. Ngành sản xuất sản phẩm cao su
III.1.6. Ngành sản xuất sản phẩm xút- clo
III.1.7. Ngành sản xuất sản phẩm pin-ac quy
III.1.8. Ngành sản xuất sản phẩm chất giặt rửa
III.2. Giải quyết những điểm chốt của quá trình sản xuất I. GIỚI THIỆU CHUNG
Chưa bao giờ mà chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh
của nền kinh tế lại được đề cập nhiều như lúc này, không chỉ trên các phương tiện
thông tin đại chúng, các diễn đàn hội nghị của các cấp, các ngành, mà cả ở các hội
nghị của Chính phủ và tại các kỳ họp Quốc hội. Một trong những vấn đề có tầm
quan trọng hàng đầu của chất lượng tăng trưởng, của hiệu quả sản xuất và sức
cạnh tranh của nền kinh tế là chi phí đầu vào. Tỷ lệ chi phí trung gian so với giá trị
sản xuất đã gia tăng từ 47,8% năm 1999 lên 50,4% năm 2000; 51,6% năm 2001 và
II. GIẢM CHI PHÍ SẢN XUẤT, YẾU TỐ QUAN TRỌNG NHẤT
ĐỂ TĂNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
II.1. Một số nguyên nhân tăng chi phí sản xuất
Đối với một sản phẩm công nghiệp ở nước ta, hiện nay các nhà nghiên cứu
kinh tế đều cho rằng có nhiều nguyên nhân làm gia tăng chi phí đầu vào, trong đó
có thể tóm gọn vào 7 nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, sử dụng công nghệ cũ và lạc hậu. Hiện tại, mặc dù công nghiệp
nước ta đã đạt được nhiều kết quả vượt trội, nhưng trình độ công nghệ nói chung
còn thấp. Tỷ trọng doanh nghiệp công nghiệp của Việt Nam thuộc nhóm ngành
công nghệ cao chỉ đạt 20,6%, thấp hơn tỷ trọng tương ứng 29,1% của Philippin,
29,7% của Inđônêxia, 30,8% của Thái Lan, 51,1% của Malaixia, 73,0% của
Xingapo. Công nghiệp Việt Nam thuộc nhóm trung bình thấp với tỷ lệ ngành công
nghệ trung bình là 20,7%; còn ngành công nghệ thấp chiếm tới 58,7% , trong khi
các ngành công nghệ thấp tương ứng ở Inđônêxia chiếm 47,7%, Philippin 45,7%,
Thái Lan 42,7%, Malaixia 24,3%, Xingapo 10,5%. Trong các ngành công nghiệp,
thì ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam có tỷ lệ công nghệ tiên tiến là thấp
nhất. Cụ thể, công nghệ cao chỉ chiếm 15,7%, công nghệ thấp chiếm tới 52,8%,
còn lại là công nghệ trung bình. Nếu tính theo giá trị gia tăng thì tỷ trọng công
nghệ cao của công nghiệp nước ta còn thấp hơn nữa, vì phần lớn những ngành
công nghệ cao lại chủ yếu là lắp ráp.
7
Trình độ kỹ thuật - công nghệ thấp chủ yếu do vốn sản xuất kinh doanh thấp.
Năm 2004, mức trang bị tài sản cố định bình quân trên 1 lao động của các cơ sở
kinh tế cá thể ở nước ta chỉ có 8,6 triệu đồng, của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chỉ có 36,6 triệu đồng, của doanh nghiệp Nhà nước cao hơn cũng chỉ có 132,1
triệu đồng, còn của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất, đạt 191,6
tăng lên đến 6 lần. Chỉ một số mặt hàng trên đã làm mức đầu vào sản xuất tăng
gần 1 tỉ USD, chiếm khoảng 5% tổng kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm
2008.
Ngoài ra nhiều doanh nghiệp ở nhiều ngành kinh tế còn thay đổi chủng loại
nguyên vật liệu, mua nguyên liệu có chất lượng cao hơn, có giá trị lớn hơn để phù
hợp với thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu, để tăng tính cạnh tranh và đây
cũng là một yếu tố làm tăng thêm chi phí đầu vào sản xuất.
Thứ năm, việc tăng giá điện, giá xăng dầu, than, cước phí vận chuyển, lãi
suất ngân hàng, tăng lương cho người lao động theo quy định về mức lương tối
thiểu, v.v đã trực tiếp tác động đến chi phí sản xuất.
Thứ sáu, việc gia tăng các chi phí liên quan đến bảo vệ môi trường, bao
gồm chi phí di chuyển nhà máy, chi phí xử lý chất thải cũng là yếu tố làm tăng
thêm chi phí sản xuất.
Thứ bảy, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước, còn phải
chịu gánh nặng nhiệm vụ xã hội như các khoản đóng góp cho chính sách xã hội,
cứu trợ thiên tai bão lụt, trách nhiệm xây dựng địa bàn cơ sở, v.v Các khoản
9
đóng góp này đáng lẽ được trích từ quỹ phúc lợi của doanh nghiệp, nhưng ở một
số doanh nghiệp do quỹ còn nhỏ bé so với nhu cầu phúc lợi của bản thân doanh
nghiệp, nên doanh nghiệp đã tìm cách đưa chi phí này vào chi phí sản xuất, làm
cho giá thành sản phẩm bị dâng cao.
Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng chi phí đầu vào sản
xuất của các sản phẩm công nghiệp ở nước ta. Cũng vì thế mà giá bán sản phẩm
trong nước thường cao hơn so với giá sản phẩm cùng loại trên thị trường quốc tế.
Ví dụ so với giá nhập khẩu (CIF) thì giá xi măng sản xuất trong nước bằng 115%,
giấy 127%, phân urê 131%, xút 163%, phôi thép 125%, đường 140% so với giá
quốc tế; giá điện bán cho công ty nước ngoài, cước vận tải biển, cước phí thực tế
về điện thoại quốc tế của nước ta cũng vẫn cao hơn hầu hết các nước trong khu
càng rất thấp. Một số doanh nghiệp có dây chuyền đầu tư mới cũng chỉ có mức
đầu tư cố định vài trăm triệu đồng/ lao động. Đối với các doanh nghiệp lớn có
đông lao động như công ty Supephôtphát và Hoá chất Lâm Thao, Cổ phần Công
nghiệp cao su miền Nam, TNHH một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc,
TNHH một thành viên Apatit Việt Nam, v.v thì mức bình quân về đầu tư trang
thiết bị càng thấp.
Tổng công ty Hoá chất Việt Nam (VINACHEM) là một tổng công Nhà
nước lớn, đại diện cho ngành Công nghiệp Hóa chất nước ta, nhưng cũng đang
phải đương đầu với tình trạng thiếu vốn đầu tư trong khi thiết bị sản xuất còn lạc
hậu và thiếu đồng bộ (Bảng 1). Tuy trong những năm gần đây, tất cả các doanh
nghiệp trong Tổng Công ty đều có các dự án đầu tư chiều sâu, nâng cấp thiết bị
11
sản xuất, nhưng nhìn chung tỷ lệ đổi mới tài sản cố định (trong đó có thiết bị) vẫn
thấp hơn so với mục tiêu đề ra.
Bảng 1 : Mức đầu tư cố định của một số doanh nghiệp lớn của VINACHEM năm
2007
STT
Tên doanh nghiệp,
ngành nghề chính
Giá trị
doanh
nghiệp
(triệu
đồng)
Giá trị
5 Công ty CP Cao su Sao
Vàng (sản xuất sản
phẩm cao su)
473.069 127.644 1.595 79,38
6 Công ty CP Cao su Đà
Nẵng(sản xuất sản phẩm
cao su)
584.408 122.706 1.608 76,30
7 Công ty TNHH một
thành viên Hoá chất Cơ
bản miền Nam (sản xuất
hoá chất)
361.439 23.197 1.200 19,33
8 Công ty TNHH một
thành viên Apatit Việt
Nam ( khai thác và
906.135 64.612 2.959 21,83
13
tuyển quặng apatit)
9 Công ty CP Bột giặt LIX
( sản xuất chất giặt rửa)
152.173 8.351 867 9,63
10 Công ty CP Thuốc sát
trùng Việt Nam (sản
xuất thuốc BVTV)
276.922 12.197 520 23,45
11 Công ty TNHH một
thành viên Hơi kỹ nghệ
doanh thu, có doanh nghiệp vốn lưu động chỉ bằng một vài phần trăm tổng doanh
thu trong năm, vì vậy ngoài khó khăn về nguồn vay vốn, thì lãi suất vốn vay cũng
là một yếu tố góp phần tăng chi phí đầu vào sản xuất. Ngoài ra, nhiều sản phẩn của
CNHC được tiêu thụ theo phương thức đại lý và trả chậm (nhất là các loại phân
bón, săm lốp, v.v ) vì thế ảnh hưởng của việc thiếu vốn càng trầm trọng.
5. Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định trong giá thành sản phẩm đối với các dây
chuyền đã hết khấu hao thường thấp, nhưng đối với các dây chuyền mới đầu tư
thường khá cao. Lý do được đưa ra là do sức ép cần tăng tỷ lệ trích khấu hao để
nhanh thu hồi vốn nhằm sớm đổi mới máy móc thiết bị hoặc đầu tư thêm thiết bị
mới.
15
6. Gia tăng các chi phí liên quan đến bảo vệ môi trường, bao gồm chi phí di
chuyển nhà máy, chi phí xử lý chất thải tại nhiều doanh nghiệp trong ngành. Đặc
biệt trong thời gian qua, các công ty như Supephôtphat và Hoá chất Lâm Thao,
Phân bón Bình Điền, Phân bón miền Nam, Hoá chất cơ bản miền Nam, Hơi Kỹ
nghệ- Que hàn, v.v đã phải chi phí rất lớn để thực hiện chuyển đổi công nghệ sản
xuất, di chuyển cơ sở sản xuất hoặc xử lý môi trường.
7. Tất cả các doanh nghiệp trong ngành, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước
còn phải có nghĩa vụ xã hội như các khoản đóng góp cho chính sách xã hội, cứu
trợ thiên tai bão lụt, trách nhiệm góp phần xây dựng địa phương, v.v Các khoản
đóng góp này được lấy từ quỹ phúc lợi, nhưng suy cho cùng, thì cũng là từ sản
xuất nên vẫn góp phần làm cho giá thành sản phẩm bị dâng cao.
II.2. một số yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí đầu vào sản xuất
Trong sản xuất công nghiệp, chi phí đầu vào sản xuất bao gồm nhiều yếu tố.
Trong đó có các yếu tố tương đối “tĩnh” như khấu hao thiết bị, hạ tầng (liên quan
đến vốn đầu tư ) và các yếu tố “động” như chi phí về nguyên liệu, nhiên liệu, năng
17
Thực tế trong thời gian qua, sự thay đổi (tăng) giá điện đã khiến hầu hết các
ngành sản xuất nước ta bị ảnh hưởng. Giá nhiều sản phẩm công nghiệp tăng.
Chúng ta đã biết, theo phương án giá điện bình quân tăng lên 842 đồng/kWh
(cao hơn 7,6% so với trước đó) và các ngành sản xuất đặc thù như luyện thép, sản
xuất nước sạch, phân urê, hóa chất đã không được trợ giá điện từ 1/1/2007. Khi
đó các doanh nghiệp sử dụng nhiều điện thuộc các ngành sản xuất trên đã phải
xem xét ngay tác động của tăng giá điện tới lĩnh vực sản xuất của mình.
Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả Ngô Trí Long,
việc tăng giá điện trong thời kỳ đó đã dẫn đến việc tăng giá thành sản xuất của
nhiều mặt hàng thiết yếu như xi măng, sắt thép, phân bón, hóa chất, v.v Tuy
nhiên, việc tăng giá sẽ tùy thuộc vào đặc thù của từng loại sản phẩm do tỉ lệ sử
dụng khác nhau về điện năng trong sản xuất.
Để làm rõ tác động của giá điện đối với sản xuất công nghiệp ở nước ta, ở
đây xin nêu một vài trường hợp điển hình có liên quan nhiều đến chi phí về điện.
Sản xuất thép :
Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, trước đây
sản xuất phôi thép được hưởng giá điện ưu đãi, nhưng từ 1/1/2007 không còn nữa.
Theo quy định của ngành Điện, giá điện dành cho sản xuất tăng 20% vào giờ cao
điểm. Điều này sẽ có tác động nhiều đến sản xuất phôi thép. Lý do là phôi thép
phải nấu luyện liên tục, không thể chỉ làm vào giờ thấp điểm và ngừng vào giờ cao
điểm, vì vậy khi giá điện tăng thì chi phí cho giá thành phôi cũng tăng theo, theo
đó giá thép cũng tăng.
18
Theo tính toán của Hiệp hội Thép Việt Nam, các doanh nghiệp đang tiêu thụ
bình quân 700 kWh điện cho 1 tấn phôi. Như vậy với giá mới, chi phí điện trong
với các sản phẩm trong ngành, đặc biệt đối với những sản phẩm thuộc các ngành
cần dùng nhiều điện và có tỷ trọng về giá điện lớn trong giá thành sản phẩm.
Trong năm 2007, VINACHEM đã nhiều lần họp để xem xét tác động của giá
điện lên sản xuất. Một số sản phẩm của Tổng Công ty như sản xuất xút - clo, phốt
pho vàng, đất đèn, acquy, phân bón, v.v sử dụng nhiều điện và tỷ trọng giá điện
trong chi phí đầu vào khá cao. Thực tế cho thấy có những trường hợp chỉ cần thay
đổi không nhiều về giá điện, sản xuất đã có thể từ lãi thành lỗ.
Cũng tương tự như ở ngành Thép, khi sản xuất một số sản phẩm thuộc
CNHC, dây chuyền sản xuất phải chạy liên tục không kể giờ cao điểm hay thấp
điểm về cấp điện, ví dụ sản xuất xút-clo, phân lân nung chảy, đất đèn, phốt pho
vàng, v.v Vì vậy không thể tránh được giá điện cao vào giờ cao điểm. Mặt khác
khi giá điện tăng thì các nhà cung cấp nguyên liệu cũng tăng giá bán do chính họ
cũng bị ảnh hưởng của việc tăng giá điện. Như vậy là một số sản phẩm của CNHC
bị hai hoặc nhiều tầng tăng giá về điện chứ không phải một tầng. Tại đây chỉ nêu
lên một vài ngành hàng tiêu biểu của CNHC bị tác động trực tiếp của giá điện.
Phân bón là một trong những ngành sản xuất chịu sức ép cao từ việc tăng giá
điện. Theo tính toán của một số nhà sản xuất trong ngành, nếu giá điện tăng thêm
trung bình 7,6% sẽ khiến đầu vào sản xuất phân bón tăng khoảng 8-9 % hoặc hơn,
có lẽ do chịu 2 tầng tăng giá về năng lượng như đã trình bày. Chẳng hạn, trong
20
năm 2007 giá điện tăng 20% vào giờ cao điểm đã làm tăng đầu vào sản xuất phân
bón khoảng 10% riêng vì giá điện tăng.
Các cơ sở sản xuất xút-clo, sản xuất ac quy là những cơ sở sản xuất “nhạy
cảm” nhất đối việc tăng giá điện.
Trong công nghệ điện phân xút-clo, trung bình chi phí điện năng cho khâu
điện phân/ tấn xút (quy khô) theo công nghệ thùng điện phân diaphram là 2700
kWh, còn theo công nghệ thùng điện phân màng trao đổi ion (membrane) là 2000-
2400 kWh. Tại nhiều cơ sở sản xuất hoá chất ở Việt Nam hiện nay, do được đầu tư
Thậm chí một số hộ sử dụng còn lựa chọn than theo cả xuất xứ của mỏ than. Than
đá ở nước ta chủ yếu là loại than gầy (antraxit) và than ở vùng mỏ than Đông Bắc
(Uông Bí, Vàng Danh, v.v ) là các loại than tốt nhất do có nhiệt trị cao và hàm
lượng xỉ, lưu huỳnh thấp. Một số mỏ than nội địa (ngoài vùng than Đông Bắc)
cũng có chất lượng tốt nhưng cũng có một số loại có hàm lượng lưu huỳnh cao
(trên 3%) hoặc hàm hượng xỉ cao (trên 20%).
Mỗi một công nghệ hoặc dây chuyền sản xuất lại đòi hỏi sử dụng một loại
than khác nhau. Hiện tại ở nước ta giá các loại than tương đối khác nhau, và nhìn
chung giá các loại than có cỡ hạt lớn trên 25 mm (than cục) có giá cao hơn gấp đôi
than cỡ hạt nhỏ (than cám) cùng loại. Vì vậy công nghệ nào sử dụng được than
cám sẽ có nhiều khả năng cạnh tranh hơn so với công nghệ phải sử dụng than cục.
22
Để giảm chi phí về than, trên thế giới người ta có xu hướng nghiên cứu các
dây chuyền công nghệ sử dụng được các loại than cám giá rẻ, hạn chế sử dụng
than cục giá cao hoặc nghiên cứu đóng bánh than từ than cám cho các dây chuyền
bắt buộc phải sử dụng than cục.
Ngoài ra tại nhiều dây chuyền sản xuất quy mô lớn, người ta sử dụng công
nghệ khí hóa than, chuyển than đá thành khí tổng hợp (syngas). Syngas (chứa CO
và H
2
) được sử dụng làm nhiên liệu (để phát điện, tạo hơi ), hoặc trở thành
nguyên liệu cho tổng hợp hóa học (sản xuất phân đạm, metanol và một số hóa chất
khác). Phương pháp khí hóa cho phép sử dụng linh hoạt năng lượng từ than và
trong một số trường hợp còn thu được tỷ suất năng lượng cao hơn so với sử dụng
năng lượng nhiệt từ đốt than trực tiếp và góp phần hạ giá sử dụng than.
Trong vài thập kỷ gần đây, việc dùng xăng dầu và các loại khí tự nhiên làm
nguồn phát năng lượng cho hoạt động sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và đẩy than vào vị trí thứ yếu. Tuy nhiên do gần đây
Theo Hiệp hội Thép Việt Nam, đối với sản xuất thép, với mức tăng giá bán
than theo kế hoạch trong năm 2007, giá thành của thép thành phẩm đã tăng 0,6-
1,0% chưa kể các nguyên nhân tăng chi phí đầu vào khác (như giá phôi thép tăng).
Đối với sản xuất từ phôi thép có nguồn gốc trong nước, thì trong giá phôi thép
cũng có phần tăng giá của than nên thực tế thép thành phẩm sản xuất trong nước
cũng phải chịu tác động kép của việc tăng giá than.
24
Thực tế trong thời gian gần đây, giá thép trong nước đã tăng đột biến từ dưới
10 triệu đồng/tấn vào cuối năm 2006 đã lên gần 15 triệu đồng/ tấn vào giữa năm
2007 và nhảy lên gần 19 triệu đồng/tấn vào đầu năm 2008. Trong sự tăng giá thép
có yếu tố tăng do giá than tăng khá rõ ràng.
Sản xuất xi măng:
Theo tin từ Tổng Công ty Than Việt Nam (nay là Tập đoàn Than- Khoáng
sản Việt Nam), giá than cho sản xuất xi măng đã chính thức được Tổng Công ty
này tăng giá kể từ 1/1/2005. Đây là đợt tăng giá nằm trong chủ trương nâng giá
than bán cho 4 hộ tiêu thụ lớn trong nước như Xi măng, Điện, Phân bón, Giấy.
Trong đợt này, giá than bán cho ngành sản xuất xi măng và các ngành khác có
mức tăng đề xuất là 20%. Sau khi tăng giá than, nhiều bài báo và ý kiến xã hội đã
cho rằng đây là những lý do cơ bản khiến việc tăng giá hàng hóa vào năm 2007.
Trước tình hình giá than tăng, Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, một khách
hàng lớn của Tổng Công ty Than, đã chịu sức ép rất lớn.
Lý do là theo tính toán của Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, loại than chủ
yếu mà các nhà máy của ngành sử dụng là than cám 3b Hòn Gai. Loại than này đã
tăng thêm tăng tới 17,7% (65,5 nghìn đồng/tấn) so với mức giá năm 2004 (369,5
nghìn đồng/tấn). Đây là đợt tăng giá than cao nhất tới thời điểm đó. Theo giá than
mới thì giá thành của xi măng sản xuất thời gian đó sẽ tăng thêm 9.700 đồng/tấn,
tức là khoảng 1,5%. Theo Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, chi phí riêng về than
dùng làm nhiên liệu cho sản xuất xi măng năm 2005 so với năm 2004 tăng thêm