Sao âm bản phim có tính lịch sử
Gary Albright - Chuyên gia cao cấp về bảo quản giấy và
ảnh, Trung tâm Bảo quản Tư liệu Đông Bắc
Các kho tài liệu âm bản phim ảnh đặt ra cho các cơ quan và
những người phụ trách những kho tài liệu đó những vấn đề
không giống như các kho tài liệu khác. Các âm bản trên đĩa
kính rất dễ bị vỡ, các âm bản trên chất liệu cellulose nitrate
và các âm bản cellulose acetate sẽ tự phân huỷ theo thời
gian, và các âm bản thì thường khó đọc và khó truy cập.
Việc sao các âm bản phim là một giải pháp sẵn có thể giúp
giải quyết những vấn đề này. Việc sao sâm bản có thể bảo
quản được một tấm ảnh đang bị xuống cấp, bảo vệ âm bản
khỏi bị thao tác quá nhiều, hoặc nâng cao khả năng tiếp cận
của độc giả với kho tài liệu. Tuy nhiên, việc sao âm bản
cũng có những hạn chế: mỗi thế hệ kế tiếp của hình ảnh đều
giảm đi chất lượng và mức độ chi tiết. Vì vậy, điều quan
trọng là các bản sao âm bản nên được in trên chất liệu ổn
định và có chất lượng tái tạo hình ảnh cao nhất. Các bản sao
âm bản nên được in trên phim polyester hiện đại và chúng
nên có khoảng mật độ phim và độ chi tiết giống như bản
gốc.
Việc sao một kho phim âm bản là một quá trình phức tạp và
tốn kém. Nhiều quyết định cần được đưa ra trước khi dự án
sao âm bản được tiến hành. Thông tin dưới đây sẽ cung cấp
một số chỉ dẫn cho việc những người quan tâm đến việc sao
các âm bản phim có tính lịch sử.
Sao cái gì
- Những âm bản phim có dấu hiệu xuống cấp. Xuống cấp
này bao gồm các đặc điểm như vỡ, bong, mờ, bạc màu,
cong, nổi bong bóng, tạo thành khe, hoặc có mùi nặng.
phương có thể làm được công việc này mà không phải hoặt
ít phải đầu tư thiết bị. Tiết kiệm hơn nữa là sử dụng những
bản in đã có sẵn để sao. Nếu ở cơ quan không còn âm bản
gốc nào, các bản in hiện có là gi
ải pháp duy nhất. Bất lợi của
phương pháp này là m
ất đi các chi tiết trong cả bản in lẫn âm
bản sao. Bản in luôn luôn mất đi các chi tiết và có khoảng
tông màu bị nén khi so với âm bản gốc, và chi tiết còn tiếp
tục bị mất khi làm âm bản sao.
Sao âm bản trực tiếp
Phim sao ảnh đen trắng chuyên nghiệp #SO-339 của
Eastman Kodak được thiết kế để sao trực tiếp các âm bản.
Đây là quá trình chỉ cần một bước là thu đư
ợc một âm bản từ
một âm bản. Phim sao có độ phân giải cao, giảm thiểu được
độ mất các chi tiết ảnh trong quá trình sao chép. Độ tương
phản cũng có thể điều chỉnh trong quá trình sao để cứu một
số âm bản có vấn đề. Tuy nhiên, bởi vì phim nhạy cảm với
màu xanh nên giảm thiểu việc sử dụng thuốc hãm màu có
thể gây ra vấn đề. Loại phim này cũng có thể khó thao tác,
nên việc tái tạo đúng tông màu cũng khó thực hiện được.
Các âm bản sao trực tiếp bằng cách đặt tiếp xúc là các phim
đặt ngược mặt, vì vậy hình ảnh có thể bị in ngược nếu thợ
ảnh không hiểu về bản chất của chất liệu phim.
N
ếu các âm bản gốc bị bỏ đi, các âm bản sao trở thành các
bản gốc. Đây là một bất lợi lớn bởi vì bất cứ khi nào c
ần đến
một hình ảnh, người ta phải đem bản gốc ra để in, khiến
thường bị mất một số chi tiết của ảnh, tỷ lệ tuỳ theo mức độ
thu nhỏ. Cũng như với hệ thống nói ở trên, hệ thống này
đem lại hai bản sao; dương bản trở thành bản gốc và âm bản
sao trở thành bản copy để sử dụng.
Các hệ thống lưu trữ ảnh số
Với những hệ thống này, hình ảnh được lưu giữ trên các đĩa
quang dữ liệu số có thể đọc được trong các đầu đọc dùng
ánh sáng laser. Các đầu đọc đĩa có thể kết nối giao diện với
máy tính, cho phép tra chéo dễ dàng giữa hình ảnh và thông
tin. Những hệ thống này các công cụ truy cập tuyệt vời
nhưng không phải là công c
ụ bảo quản. Những tệp tin ảnh có
độ phân giải cao tái tạo được hình ảnh ở chất lượng cao
nhưng không thực tế lắm. Chúng khá đắt và đòi hỏi nhiều
không gian hơn là phim ảnh và bởi vì kích thước tệp tin lớn
sẽ tốn thời gian để truy cập. Các tệp tin ảnh có độ phân giải
như màn hình hoặc chất lượng thấp hơn ít tốn kém hơn và
không gây ra các vấn đề về truy cập hay lưu giữ; tuy nhiên,
độ phân giải ảnh chỉ tạm được.
Công nghệ đĩa quang hiện vẫn đang được ưa chuộng. Các
nhà chuyên môn dự đoán rằng những đối mới về đĩa, phần
cứng máy tính và thiết kế phần mềm mới để sử dụng những
phần cứng này đòi hỏi phải thay thế toàn h
ệ thống từ 3 đến 5
năm một lần. Chính vì vậy, ngân sách của đơn vị phải bao
gồm cả những nguồn để không ngừng nâng cấp hệ thống
bằng các phần mềm và phần cứng mới. Tới nay, cũng chưa
có tiêu chuẩn nào được xây dựng để bảo đảm cho việc
chuyển đổi thông tin từ thế hệ này sang thế hệ khác.