Tài liệu Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm cơ thể ở 63 bệnh nhân tại các chuyên khoa nội - Pdf 10

TCNCYH 36 (3) - 2005
đặc điểm lâm sàng của trầm cảm cơ thể ở 63 bệnh
nhân tại các chuyên khoa nội

TS.BS. Trần Hữu Bình
Bộ Môn Tâm Thần Đại học Y Hà Nội
Tiến hành nghiên cứu 63 bệnh nhân tại các chuyên khoa nội có rối loạn trầm cảm
đợc biểu hiện bằng các triệu chứng cơ thể, thần kinh thực vật nội tạng chức năng
không có tổn thơng thực thể. Bệnh gặp nhiều ở lứa tuổi 20-49 (71,42%), đây là lứa tuổi
cống hiến nhiều sức lao động cho xã hội. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là các rối loạn cơ
thể, thần kinh thực vật nội tạng chức năng che đậy bề ngoài mang tính chất trá hình của
rối loạn trầm cảm. Rối loạn trầm cảm chủ yếu mức độ nhẹ (85,57%), có phối hợp các
hình thái trầm cảm lo âu (36,5%), trầm cảm suy nhợc (30,15%), trầm cảm nghi bệnh
(14,28%), trầm cảm loạn cảm giác bản thể (11,11%), trầm cảm ám ảnh (7,93%). Bệnh
phần lớn liên quan đến các yếu tố tâm lý xã hội (những sự kiện đời sống khó chịu hoặc
những khó khăn hay xung đột).
I. Đặt vấn đề
Từ những thập kỷ qua, cùng với những
hội chứng bệnh lý tâm thần kinh điển của
các thể trầm cảm thờng gặp, còn thấy
trạng thái phức tạp, mờ nhạt không điển
hình về mặt biểu hiện, đôi khi không có vị
trí nhất định trong phân loại đặc tính bệnh
học. Trong đó, các loại trầm cảm ẩn
(Depression Masquée) chiếm một vị trí đặc
biệt, chúng đợc các chuyên gia Tâm thần
và các bác sĩ chuyên khoa khác quan tâm,
vì hình thái trầm cảm trong đó đợc nguỵ
trang bằng những rối loạn cơ thể-thần kinh
thực vật nội tạng khác nhau. Kielholz
P.,1975, Dexiatnhicov V.F.,1981, Avơruxki

hóa cảm xúc che đậy quá trình bệnh lý
cảm xúc khi tiếp cận bệnh nhân là vấn đề
cấp thiết trong thực hành nâng cao chất
lợng chẩn đoán, điều trị hiện nay.
Để làm sáng tỏ hình thái trầm cảm cơ
thể, tác giả chọn nghiên cứu đề tài với
mục tiêu: Tìm hiểu đặc điểm các biểu

25
TCNCYH 36 (3) - 2005
hiện rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân có các
bệnh lý nội khoa; Tìm hiểu các yếu tố liên
quan đến rối loạn trầm cảm nhằm góp
phần chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời
cho bệnh nhân ở bệnh viện đa khoa và ở
hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại
cộng đồng.
II. Đối tợng và phơng pháp
nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
145 bệnh nhân (47 nam, 98 nữ) từ các
chuyên khoa nội (tim mạch, tiêu hoá, thần
kinh) Bệnh viện Bạch mai gửi đến chuyên
khoa tâm thần với các đặc điểm:
+ Không có rối loạn tâm thần rõ rệt, lời khai
chủ yếu về các rối loạn chức năng cơ thể, thần
kinh thực vật- nội tạng.
+ Kết quả các xét nghiệm cận lâm sàng
chuyên khoa cho thấy không có tổn thơng
thực thể.

dọc quá trình bệnh lý từ tiền sử đến hiện
tại trên số bệnh nhân nghiên cứu.
- Xử lý số liệu bằng phơng pháp
thống kê toán học thông thờng dùng
trong y học.
III. Kết quả
1. Tỉ lệ mắc bệnh theo giới- Bảng 1
Bệnh nhân có RLT
Bệnh nhân
Giới
Bệnh nhân
RLCN
N %
Nam 47 23 15,86
Nữ
98 40 27,58
Tổng số
145 63 43,44
Tỉ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ khác nhau đáng kể, ở nữ nhiều hơn nam (1/1,74). 26
TCNCYH 36 (3) - 2005
2. Tỉ lệ mắc bệnh theo tuổi và thời gian
Bảng 2. Mối liên quan tuổi và thời gian bị bệnh
Thời gian
Tuổi
6 th-1 năm 2-5 năm
n (%)
6-10 năm

7
6

18(28,57%)
Bị sa thải, mất việc 2
Thể Rối loạn tiền mãn kinh 6 9(14,28%)
chất
Chấn thơng sọ não cũ 3
Tổng số (%)
63 (100%)
Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy trong tiền sử của các bệnh nhân phần lớn là cảm xúc
âm tính mà họ phải trải qua lâu dài trong quá khứ. Ngời bệnh phải ức chế lâu dài sự bộc lộ
những tình cảm, cảm xúc của mình trong những điều kiện sinh hoạt, trong đời sống gia đình
và xã hội dẫn đến sự căng thẳng lâu dài của quá trình ức chế, hình thành Stres cảm xúc:
57,14% do hoàn cảm xung đột trong gia đình (vợ chồng bất hoà, con cái h hỏng, kinh tế khó
khăn, ngời thân ốm nặng chết); 28,57% là những xung đột ngoài xã hội và 14,28% là yếu tố
thể chất bị biến đổi trong tiền sử (chấn thơng sọ não, rối loạn tiền mãn kinh) (bảng 3).

27
TCNCYH 36 (3) - 2005
4. Các triệu chứng trầm cảm kín đáo liên quan đến các rối loạn cơ thể- Bảng 4
Triệu chứng Số lơng BN (%)
- Khí sắc giảm
- Giảm hoạt động
- Nét mặt đơn điệu, kém linh hoạt
- Hạn chế giao thiệp, thụ động khi trò chuyện
- Giọng nói nhỏ, trả lời chậm ngắt quãng
- ít quan tâm chú ý đến chung quanh
- Mệt mỏi vô lực
- Rối loạn giấc ngủ

25
24
23
23
44,4

92,8
96,4
89,2
85,7
82,1
82,1
Rối loạn tim mạch
- Đau vùng tim
- Rối loạn cảm giác:
+ Cảm giác nóng ran ngực
+ Cảm giác co thắt, đè ép vùng trớc tim khi thở
+ Cảm giác tim đập nhanh, mạnh
+ Cảm giác ngừng tim
+ Cảm giác nghẹn họng, tức thở
20

18
18
14
16
12
14
31,7


6. Đánh giá mức độ trầm cảm và các hình thái của nó trên b/n nghiên cứu
Bảng 6: Mức độ và các hình thái trầm cảm
Mức độ và hình thái Số BN %
Trầm cảm: - Nhẹ
- Vừa
- Nặng
Trầm cảm - lo âu
Trầm cảm - Nghi bệnh
Trầm cảm - Loạn cảm giác bản thể
Trầm cảm - Suy nhợc
Trầm cảm - ám ảnh
54
9
-
23
9
7
19
5
85,7
14,28
-
36,5
14,28
11,11
30,15
7,93
Phần lớn bệnh nhân nghiên cứu có
mức độ trầm cảm nhẹ (85,7%), một số
nhỏ biểu hiện trầm cảm vừa (14,28%),

triển tiếp theo của bệnh cảnh có liên
quan đến nhân tố tâm lý (những sự kiện

29
TCNCYH 36 (3) - 2005
đời sống khó chịu hoặc những khó khăn
hay xung đột (Bảng 3). Phân tích kỷ các
yếu tố tâm lý, điều đáng chú ý là trong tiền sử
của bệnh nhân những xung đột vụn vặt kéo
dài có thể đóng vai trò không kém phần quan
trọng so với những nỗi đau buồn to lớn ngột
ngạt. Việc bắt buộc tự kiềm chế mình trong
thời gian dài rõ ràng giữ vai trò yếu tố
chấn thơng tâm lý. Yếu tố có tính chất
khởi động và làm biến đổi những phản
ứng sinh lý bình thờng, hình thành
những phản ứng sinh lý kéo dài thông
qua hệ thống thần kinh thực vật và cơ
quan nội cảm thụ tác động đến các cơ
quan gây ra những biến đổi chức năng
khác nhau. Điều đó cho thấy sự hình
thành rối loạn trầm cảm cơ thể theo cơ
chế tâm-sinh học phức tạp mà Korkina
M.V.,1995[3] đã nhấn mạnh trong các
công trình nghiên cứu.
3. Nhận xét về các biểu hiện của rối
loạn trầm cảm
Các biểu hiệu lâm sàng chung ở ngời
bệnh khá phong phú, đa dạng và không rõ
ràng liên quan đến tình trạng cảm xúc trầm

một cách tự phát, đau nhiều về đêm gần
sáng, đau chớp nhoáng, đau kéo dài
+ Về liên quan, đau không liên quan gì
đến chế độ ăn uống. Những chứng đau
xuất hiện và nặng lên liên quan đến cảm
xúc căng thẳng. Các hình thái đau và
loạn cảm giác khởi đầu và diễn biến liên
quan đến những yếu tố tâm lý cá nhân
(Bảng 3: Những biến đổi nội dung cuộc
sống, xung đột giữa các cá nhân, căng
thẳng kéo dài )
Rối loạn tim mạch (31,7%): bệnh nhân
kêu đau nhói và co thắt vùng tim, đau
dới mạng sờn, cảm giác nóng ran ở
ngực và tim đập mạnh. Rối loạn tiêu hoá
(44,4%):
bệnh nhân mô tả có cảm giác đau
âm ỉ, không có khu trú cụ thể, co thắt khó
chịu vùng thợng vị, dới sờn, vùng chậu
hông và di chuyển toàn bộ ổ bụng. Rối
loạn thần kinh (23,8%): cảm giác nặng nề
khó chịu trong đầu, nóng lan, chèn ép,
cảm giác mũ nặng, vòng siết, nặng gáy,
nhức trán chóng mặt, buồn nôn.

30
TCNCYH 36 (3) - 2005
Điều đáng chú ý ở đây, nếu không có
kỷ năng khám xét chuyên sâu thì khó
phát hiện đợc các triệu chứng trầm cảm

dài và cuối cùng ngời bệnh trở nên suy
nhợc, hình thành các hình thái trầm cảm
khác nhau, chủ yếu là trầm cảm-lo âu,
trầm cảm-suy nhợc, trầm cảm-nghi
bệnh, (Bảng 6).
Nh vậy, rối loạn trầm cảm ở bệnh
nhân nội khoa thờng gặp mức độ nhẹ,
kín đáo không điển hình. Các biểu hiện
lâm sàng chủ yếu là các rối loạn chức
năng về cơ thể, thần kinh thực vật nội
tạng. Mọi kết quả khám xét về lâm sàng
và cận lâm sàng của các thầy thuốc
chuyên khoa đều không phát hiện đợc
sự tổn thơng thực thể nào tơng xứng.
Bệnh phát sinh và tiến triển liên quan đến
các nhân tố tâm lý, hình thành chu kỳ về
tâm - thể điển hình.
V. Kết luận
Nghiên cứu biểu hiện lâm sàng của rối
loạn trầm cảm trên 45 bệnh nhân ở các
chuyên khoa nội, chúng tôi rút ra một số
nhận xét:
- Bệnh thờng gặp ở tuổi đang còn khả
năng lao động: Từ 20-40 tuổi (71,42%).
Khuynh hớng tiến triển liên tục, trở nên
mạn tính: 6 tháng-1năm (31,74%), 2-5
năm (58,53%), 6-10 năm (9,25%).
Bệnh cảnh biểu hiện sự liên quan rõ
ràng đến cảm xúc cơ thể. Sang chấn tâm
lý là yếu tố khởi đầu, chủ yếu là những

development in diseases of the
gastrointestinal tract", Zh-Nevropato-
Psikhiatr-im-S-S-Korsakova, 95 (6), pp.
43 - 47.
4. Loper Ibor.(1973), "Depression
masquÐe et ÐquivalÐnt depressifs", Etats
depressifs, 3(2), pp. 38-43
5. Wayne katon MD., Nievienberg MD.
(1991), "Recogntion of depression", Editorial
services by NCM Publishers, Inc Washington,
1, pp. 5-27.
Summary
Clinical feature of depressive disorder on
internal diaseases

Studying clinical feature of 63 patients offered from depressive disorder on internal
diseases, the author concede as folows.
The occurrence and development of disease are effected by psychological factor (the difficile
and conflict of life ). The disease is commonly at age from 20-40 (71,42%).
Clinical symptoms are variety including mental and physical disorders. However depressive
features are not typical and it is masked by vegatative and physical symptoms.
In patients with functional disorder, the depression is mild, atypical and it usually combine
with anxiety (36,5%), obsession (7,93%) , hypochondry (14,28%), cenestopathie (11,11%).
Disease develope chronically with a lot of handicap on health and economy for their
family and the community.

32


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status