Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng công thương Chương Dương - Pdf 10

Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
LỜI MỞ ĐẦU
Tác động của toàn cầu hóa đến thị trường vốn và tăng trưởng kinh tế
của từng quốc gia đã tạo ra những thay đổi lớn trong hoạt động của các thể
chế tài chính. Việc ngày càng mở rộng các dịch vụ ngân hàng hiện đại thể
hiện đóng góp của hệ thống ngân hàng vào tiến trình phát triển kinh tế, theo
đó nền kinh tế phi tiền mặt ngày càng thay thế cho kinh tế tiền mặt. Phát triển
dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã và đang là xu hướng không chỉ của nhiều ngân
hàng trên thế giới mà cả của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, bởi chính lợi
ích kinh tế- xã hội cũng như khả năng thị trường, nhu cầu của thị trường về
các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay. Bên cạnh đó, tác động của
hội nhập kinh tế trong vai trò là thành viên chính thức của WTO, với tư cách
là một ngành dịch vụ, hoạt động của các ngân hàng Việt Nam không thể nằm
ngoài xu hướng và quá trình phát triển đó.
Xuất phát từ thực tiễn trên, cùng thời gian thực tập tại Ngân hàng công
thương Chương Dương và nhận được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS Nguyễn
Thị Thu Thảo cũng như toàn thể cán bộ nhân viên ngân hàng công thương
Chương Dương, em đã lựa chon đề tài: “Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
tại ngân hàng công thương Chương Dương”. Chuyên đề của em được chia
làm 3chương:
Chương I: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại
Ngân hàng công thương Chương Dương.
Chương III: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của
ngân hàng công thương Chương Dương.
1
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
CHƯƠNG I
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan các dịch vụ của Ngân hàng thương mại.

(mua, bán) ngoại tệ: Mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và
hưởng phí dịch vụ.
1.1.2.2. Nhận gửi tiền
Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm
mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các
khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn.
Trong cuộc cạnh tranh để tìm và dành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng
đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để
kinh doanh. Như vậy khi cung cấp dịch vụ nhận tiền gửi, ngân hàng thu phí
gián tiếp thông qua thu nhập của hoạt động sử dụng tiền gửi đó.
1.1.2.3. Cho vay
Cho vay thương mại
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực
tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu
cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với
các khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở
rộng sản xuất kinh doanh.

3
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi
ro vỡ nợ tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh
tranh trong cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một
khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã
trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các
nước có nền kinh tế phát triển.

và cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều
khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong
việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách dịch vụ quản lý ngân
quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh
doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng
khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để
thanh toán.
1.1.2.7. Tài trợ các hoạt động của chính phủ
Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở
thành trọng tâm chú ý của các chính phủ. Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là
cấp bách trong khi thu không đủ, chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với
các khỏan cho vay của ngân hàng. Ngày nay, Chính phủ dành quyền cấp phép
hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép
thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các
chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng thường
mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền mà
ngân hàng huy động được.
5
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
1.1.2.8. Bảo lãnh
Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và
do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín
trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo
lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho
khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng
khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác.
1.1.2.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn
Nhằm để bán các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có
thể mua ( do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua ). Rất nhiều ngân hàng tích

kiệm hưu trí…
1.1.2.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi
nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng
lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh
toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong
đồng tài trợ…
1.2. Khái quát dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng thương mại
Thuật ngữ “ngân hàng bán lẻ”, có từ gốc tiếng Anh là “Retail
banking”. Theo nghĩa đen trong việc cung cấp các hàng hoá, dịch vụ bình
thường, bán lẻ là bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng từng cái, từng ít
một. Nó khác với bán buôn là bán cho người trung gian, cho nhà phân phối
của hàng hóa đó. Trong lĩnh vực ngân hàng, định nghĩa về bán lẻ có hơi khác
một chút. Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á – AIT thì
ngân hàng bán lẻ là việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng cá nhân
7
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
riêng lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh, hoặc là
việc khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông
qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.
Trong cuốn Từ điển Ngân hàng và Tin học thì Retail banking – hoạt
động ngân hàng bán lẻ - nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ - dịch vụ ngân hàng bán
lẻ - là dịch vụ ngân hàng dành cho quảng đại quần chúng, thường là một nhóm
các dịch vụ tài chính gồm cho vay trả dần, vay thế chấp, tín dụng chứng
khoán, nhận tiền gửi và các tài khoản các nhân.
Theo Ngân hàng thương mại – Quản trị nghiệp vụ thì thuật ngữ “ngân
hàng bán lẻ” được đề cập tới như là một loại hình ngân hàng chia theo tính
chất hoạt động mà loại hình đó chủ yếu cung cấp các dịch vụ trực tiếp cho
doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân với các khoản tín dụng nhỏ.

chi nhánh ( phòng giao dịch ) của các ngân hàng để thực hiện các dịch vụ như:
gửi tiền tiết kiệm và kiểm tra tài khoản, thế chấp vay vốn, dịch vụ thẻ tín dụng,
thẻ ghi nợ và một số các dịch vụ khác đi kèm…”
1.2.2. Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Việc phát triển các dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một xu hướng tất yếu
khi mà nó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của các Ngân
hàng thương mại.
Từ giác độ kinh tế - xã hội, dịch vụ ngân hàng bán lẻ có tác dụng đấy
nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vấn đề phát
triển kinh tế, đồng thời giúp cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền
mặt, góp phần giảm chi phí xã hội thông qua việc tiết kiệm chi phí thời gian,
chi phí thông tin, đáp ứng tính tiện lợi, tính thay đổi nhanh và thường xuyên
trong nhu cầu của xã hội.
Xét trên giác độ tài chính và quản trị ngân hàng, Ngân hàng bán lẻ
mang lại nguồn thu ổn định, chắc chắn, hạn chế rủi ro tạo bởi các nhân tố bên
ngoài vì đây là lĩnh vực ít chịu ảnh hưởng của chu kỳ kinh tế so với các lĩnh
9
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
vực khác. Ngoài ra, ngân hàng bán lẻ còn giữ vai trò quan trọng trong việc
mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài
hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa họat động của ngân hàng,
nâng trung và xử lý các dữ liệu trực tuyến; nâng cao chất lượng dịch vụ ngân
hàng, rút ngắn thời gian gia dịch với khách hàng, tăng cường khả năng bảo
mật…
Đối với khách hàng, dịch vụ ngân hàng bán lẻ đem đến sự thuận tiện an
toàn, tiết kiệm cho khách hàng trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn
thu nhập của mình
Tạp chí Stephen Timewell đã đưa ra nhận định “Xu hướng ngày nay
cho thấy, ngân hàng nào nắm bắt được cơ hội mở rộng việc cung cấp dịch vụ
ngân hàng bán lẻ cho một số lượng khổng lồ dân cư đang “đói” các dịch vụ

- Nhu cầu khách hàng mang tính thời điểm
Mong muốn của con người là vô hạn, tuy nhiên không phải lúc nào nhu
cầu về một mặt hàng cũng xuất hiện với tần suất cao và liên tục. Ở mỗi giai
đoạn nhất định con người lại có những mong muốn, nhu cầu khác nhau và
mức độ thỏa mãn cũng khác nhau, đòi hỏi phải có các sản phẩm phong phú đa
dạng, phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện nhất định. Yếu tố thời điểm
đóng vai trò quan trọng trong việc làm xuất hiện nhu cầu của khách hàng.
- Độ phức tạp cao: nhóm khách hàng đa dạng, nhiều sản phẩm, nhiều
kênh phân phối.
Đây là thị trường cạnh tranh khốc liệt, sản phẩm mới xuất hiện liên tục
đáp ứng nhu cầu khách hàng thay đổi thường xuyên, công nghệ không ngừng
được cải tiến đòi hỏi ngân hàng phải liên tục đổi mới, áp dụng những thành
tựu mới nhất. Mỗi ngân hàng phải thành lập lên một bộ phận chuyên trách
nghiên cứu chiến lược, cập nhật thông tin, đầu tư lành mạnh cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng công nghệ ngân hàng.
11
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
- Rủi ro được chia sẻ
Ngân hàng là một định chế tài chính đặc biệt, mục tiêu trọng yếu của
chiến lược sản phẩm ngân hàng là cung ứng, bán và phục vụ cái mà khách
hàng cần, thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ. Lượng khách hàng lớn, nhu cầu đa
dạng, giá trị các khoản vay nhỏ giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hóa các
sản phẩm, tiếp cận tới các khách hàng giàu tiềm năng, đồng thời có điều kiện
phân tán rủi ro trong kinh doanh.
- Đòi hỏi mức độ chuyên môn hóa cao.
Lực lượng lao động phong phú, xây dựng nhiều kênh và địa điểm cung
cấp, mức độ công nghệ cao được áp dụng tối đa để phân phối sản phẩm nhanh
nhất, tiện lợi nhất. Xuất phát từ các thuộc tính đặc biệt của sản phẩm ngân
hàng đó là:
+ Tính vô hình: Đây là đặc điểm chính để phân biệt sản phẩm dịch vụ

khoản vay được thế chấp bằng chính ngôi nhà đó.
Cho vay trả một lần: Là các khoản vay của cá nhân và hộ gia đình để
đáp ứng nhu cầu tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn.
Phần lớn các khoản vay này có quy mô nhỏ và dùng để chi trả chi tiêu cá
nhân, mua sắm đồ dùng…
Cho vay trả góp: Là các khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được
thanh toán làm nhiều lần liên tiếp thường théo tháng, quý hoặc năm. Những
khoản vay này thường dùng để mua các vật dụng đắt tiền như ôtô, mua nhà.
Cho vay thẻ tín dụng: Cho vay thẻ tín dụng là một loại tín dụng tuần
hoàn cấp cho chủ thẻ tín dụng. Mỗi chủ thẻ tín dụng đươc cấp một hạn mức
tín dụng nhất định căn cứ vào độ tín nhiệm và khả năng đảm bảo chi trả của
chủ thẻ. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên việc tổng hợp các
thông tin khác nhau như: thu nhập, tình hình chi tiêu, mối quan hệ, địa vị
trong xã hội.
1.2.4.2. Dịch vụ phi tín dụng
13
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
Bao gồm dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo hiểm, phonebanking, ngân hàng
điện tử.
Dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin: Ngân hàng có một cơ sở dữ liệu
tốt do có quan hệ rộng với các thành phần kinh tế, các khách hàng khác nhau,
đồng thời ngân hàng là người hiểu sâu sắc nhất nghiệp vụ ngân hàng, tài
chính, tiền tệ vì vậy có lợi thế trong việc tư vấn cho khách hàng. Tận dụng thế
mạnh này, từ nhiều năm nay các ngân hàng đã cung cấp dịch vụ tư vấn và
cung cấp thông tin không những cho các doanh nghiệp mà còn cho các cá
nhân.
Dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu của các khách
hàng có thu nhập tương đối cao do tiết kiệm thời gian và giảm bớt chi phí, rủi
ro trong kinh doanh do không nắm vững pháp luật, giúp cho công việc kinh
doanh thuận lợi và giải quyết tốt các mối quan hệ cá nhân.

Trung tâm thanh toán bù trừ séc là ngân hàng nhà nước hoặc tổ chức tín
dụng cung ứng dịch vụ thanh toán được NHNN cấp phép để tổ chức, chủ trì
việc trao đổi, thanh toán bù trừ séc và quyết toán các nghĩa vụ tài chính phát
sinh từ việc thanh toán séc cho các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là
thành viên.
- Lệnh chi hay ủy nhiệm chi: Là lệnh của chủ tài khoản ủy nhiệm cho
tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phục vụ mình trích một số tiền nhất định
từ tài khoản tiền gửi của mình để chuyển cho người được hưởng có tài khoản
ở cùng tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc khác tổ chức cung ứng dịch
vụ thanh toán.
Lệnh chi hay ủy nhiệm chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng
hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán trong
cùng một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán.
15
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
Ủy nhiệm chi có thể được sử dụng để thanh toán, chuyển tiền giữa hai
khách hàng mở tài khoản tại một tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoặc
hai khách hàng mở tài khoản tại hai tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán khác
nhau.
- Ủy nhiệm thu: được áp dụng trong giao dịch thanh toán giữa những
người sử dụng dịch vụ thanh toán có mở tài khoản trong nội bộ tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán hoặc giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán,
trên cơ sở có thoả thuận hoặc hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền
và bên thụ hưởng.
Thực chất của nhờ thu hay ủy nhiệm thu là giấy tờ thanh toán do người
bán lập để ủy thác cho tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thu hộ một số tiền
ở người mua tương ứng với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã cung ứng.
- Thanh toán thẻ: Thẻ ngân hàng là một phương thức thanh toán không
dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó người sử dụng

phát triển kinh tế là quá trình nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu,
đói nghèo, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là sự tăng trưởng kinh tế
gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật,
thậm chí về kỹ năng quản lý, phong cách và tập tục.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
- Giá trị thương hiệu.
Xây dựng thương hiệu thực chất là tạo dựng một bản sắc riêng cho
mình. Mục tiêu của một hệ thống nhận diện thương hiệu không chỉ là tạo sự
nhận biết, sự khác biệt, thể hiện cá tính của ngân hàng mà còn nhắm đến việc
tác động đến nhận thức, tạo cảm giác về quy mô lớn, tính chuyên nghiệp của
ngân hàng đối với khách hàng. Khi mà ngân hàng phát triển một dịch vụ tạo
được một thương hiệu trên thị trường tức là ngân hàng đó đã thành công trong
việc phát triển dịch vụ đó. Vì vậy, giá trị thương hiệu là một tiêu chí đánh giá
rất quan trọng sự phát triển của dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
17
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
Bản sắc thương hiệu không chỉ mang lại cho khách hàng sự hài lòng
thỏa mãn sự trông đợi mà hơn cả là một niềm tin bền vững. Để có được nhiều
khách hàng trung thành với mình, ngân hàng phải luôn để lại những ấn tượng
tốt đẹp và sâu sắc trong tâm trí khách hàng thông qua chất lượng dịch vụ
mang nét đặc trưng riêng của mình.
- Hiệu quả tài chính.
Hiệu quả tài chính càng tốt chứng tỏ một điều rằng ngân hàng càng
kinh doanh có hiệu quả, lượng khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng càng
cao, thị phần bán lẻ ngày càng nhiều. Do đó, các dịch vụ bán lẻ được sử dụng
ngày càng đa dạng và hoàn thiện hơn.
- Khả năng tạo sản phẩm.
Sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới bên cạnh các sản phẩm truyền thống
là chiến lược phát triển đúng đắn. Bởi lẽ, ngân hàng nếu muốn tiếp tục phát
triển thì không thể chỉ dừng lại ở những thành công nhất định trong lĩnh vực

nhiều biến chuyển về chất lượng tiêu dùng và khả năng tích lũy của dân
chúng, rất thuận lợi cho sự phát triển thị trường dịch vụ tài chính và là những
yếu tố tiềm năng về nhu cầu đối với các dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong thời
gian tới. Các nghiên cứu kinh tế học đã chỉ ra, một khi nền kinh tế có được sự
tích lũy nhất định, dân chúng sẽ có khả năng sử dụng cũng như tham gia vào
việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ tài chính cao cấp và phức tạp hơn. Thông
thường, điều đó sẽ bắt đầu từ các sản phẩm dịch vụ cơ bản như tài khoản séc,
tài khoản tiết kiệm, sau đó dần dần tiếp cận các sản phẩm phức tạp hơn giống
như các sản phẩm quỹ tương hỗ, thẻ tín dụng và các dịch vụ cho vay. Dân cư
sẽ có nhu cầu rất lớn về các sản phẩm như các khoản vay mua xe hơi, tài
khoản vãng lai, cho vay có đảm bảo. Với các mức thu nhập khác nhau, nhu
19
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
cầu đối với dịch vụ ngân hàng cũng khác nhau. Người có thu nhập càng cao,
nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của họ càng cao, người có thu nhập thấp
thì ít có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
Trình độ dân trí cũng có vai trò tác động tới phát triển dịch vụ ngân
hàng bán lẻ. Thói quen của khách hàng thường thay đổi chậm hơn so với sự
tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Họ thường tích lũy tiền mặt và khó thích ứng
với việc sử dụng các phương tiện thanh toán như ATM vì họ cho rằng dùng
tiền mặt sẽ thuận tiện hơn rất nhiều.
- Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO, Việt Nam phải thực
hiện các cam kết về tự do hóa các loại hình dịch vụ trong đó có dịch vụ ngân
hàng, các ngân hàng thương mại phải đối mặt với thách thức cạnh tranh mạnh
mẽ của các ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong
việc phát triển dịch vụ ngân hàng trong đó có dịch vụ ngân hàng bán lẻ như
hoạt động phát hành và thanh toán thẻ, dịch vụ chi trả kiều hối, huy động và
cung cấp tín dụng cho các cá nhân…Toàn cầu hóa trong ngành dich vụ ngân
hàng đã dẫn đến sự lan tỏa của các sản phẩm bán lẻ và khuyến khích việc đi

doanh ngân hàng, hình thành hệ thống thông tin khách hàng tập trung. Tác
động của công nghệ thông tin được thể hiện qua:
Công nghệ là tiền đề cực kỳ quan trọng để lưu trữ và xử lý cơ sở dữ liệu
tập trung cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện.
Công nghệ hỗ trợ triển khai nhiều sản phẩm dịch vụ bán lẻ tiên tiến
như: các sản phẩm chuyển tiền tự động, các sản phẩm huy động vốn từ dân cư
dưới nhiều hình thức như tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, các sản phẩm cho
vay thể nhân như: vay tiêu dùng, cán bộ công nhân viên, các dịch vụ thẻ, thẻ
tín dụng, thẻ ghi nợ.
Bằng trao đổi thông tin tức thời, công nghệ giúp cho công tác quản lý
của ngân hàng tốt hơn, tạo điều kiện thực hiện mô hình xử lý tập trung các
21
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
giao dịch có tính chất phân tán như: trung tâm chuyển tiền – giao dịch chuyển
tiền, trung tâm xử lý thẻ - giao dịch thẻ. Việc tập trung và chuyên môn hóa
hoạt động tác nghiệp không những tăng cường độ chính xác trong xử lý giao
dịch, giảm chi phí tra soát đối chiếu, mà còn giúp cho chi nhánh có điều kiện
tập trung vào công tác chăm sóc khách hàng và giảm đáng kể chi phí nhân
công lao động.
Công nghệ thông tin tăng cường khả năng quản trị trong ngân hàng. Hệ
thống quản trị tập trung sẽ cho phép dữ liệu có thể được khai thác mọi nơi
mọi lúc một cách chính xác và nhất quán, là công cụ đắc lực để Ban lãnh đạo
và Ban điều hành đưa ra quyết định đúng đắn.
- Chính sách của Chính phủ và quy định của pháp luật.
Ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ trong nền kinh tế, nên các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng có những tác động lớn đến hoạt động kinh tế và xã
hội của mỗi quốc gia. Do vậy, Chính phủ của mỗi quốc gia đều quản lý chặt
chẽ hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua luật pháp. Vì lẽ đó, những
thay đổi trong chính sách, luật pháp của nhà nước sẽ ảnh hưởng cả trực tiếp
và gián tiếp tới hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và dịch vụ ngân

quốc tế và nghiệp vụ bảo lãnh.
Năm đầu thành lập chỉ có 344 khách hàng giao dịch, trong đó có 80
khách hàng vay vốn, đến nay đã có hơn 1800 khách hàng, trong đó có 1400
23
Chuyên đề thực tập Ngân hàng Công thương
khách hàng vay vốn. Khách hàng của chi nhánh ngân hàng công thương khu
vực Chương Dương trước đây chủ yếu trên địa bàn Huyện Gia Lâm, nay
nhiều khách hàng nội thành, Đông Anh, Từ Sơn cũng đến mở tài khoản và
vay vốn.
Tổ chức bộ máy hoạt động của chi nhánh khi mới thành lập chủ yếu ở
hội sở và 4 quỹ tiết kiệm ở 3 thị trấn Đức Giang, Yên Viên và Gia Lâm. Nay
chi nhánh thành lập thêm 3 phòng giao dịch ở 3 thị trấn Đức Giang, Yên
Viên, Đông Anh và 4 quỹ tiết kiệm trong đó 3 quỹ ở nội thành và một quỹ ở
Sài Đồng. Riêng phòng giao dịch Đông Anh đã được nâng cấp thành chi
nhánh trực thuộc ngân hàng công thương Việt Nam từ tháng 1/1997.
Trong những năm gần đây, chi nhánh ngân hàng công thương khu vực
Chương Dương được sự chỉ đạo của Huyện ủy, UBND Huyện Gia Lâm, được
sự chỉ đạo trực tiếp của Ngân hàng công thương Việt Nam và Chi nhánh
Ngân hàng Nhà nước thành phố Hà Nội, chi nhánh NHCT Chương Dương đã
không ngừng đổi mới, năng động và sáng tạo vươn lên hòa nhập với cơ chế
đổi mới của ngành, đưa mọi mặt hoạt động của mình ngang tầm với một số
chi nhánh lớn của hệ thống Ngân hàng công thương Việt Nam.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Ngân hàng Công thương Chương
Dương
Bộ máy quản lý của Ngân hàng Công thương - chi nhánh Chương
Dương được tổ chức theo cơ cấu trực tuyến chức năng, nghĩa là các phòng
ban của ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và cùng chịu sự quản lý
của giám đốc.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
24

hàng DN vừa
và nhỏ
P. Khách
hàng cá nhân
P. Thanh
toán XNK
P. Tổ chức
hành chính
P. Kế toán
P. Tiền tệ
kho quỹ
P. Tổng hợp
tiếp thị
P. Thông tin
điện toán
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status