Quan hệ thương mại việt nam singapore thực trạng và giải pháp thúc đẩy - Pdf 10

Nhóm 4:
Dương Huyền Anh CQ520032
Nguyễn Thị Thu Dung CQ520560
Trần Văn Dương CQ527075
Lê Thanh Huyền CQ527174
Nguyễn Đăng Nguyên CQ527279
Nguyễn Minh Tâm CQ527336
MỤC LỤC
Lời mở đầu ……………………………………………………………………… 3
Chương I: Cơ sở của mối quan hệ thương mại giữa Việt
Nam và
Singapore
1.1.Cơ sở về điều kiện tự nhiên ………………………………………………… 5
1.1.2. Vị trí địa lý, địa hình ………………………………………………… 5
1.1.3. Khí hậu, đất đai ………………….……………………………… 6
1.2. Cơ sở về điều kiện văn hóa - xã
hội ………………………… ……………… 6
1.2.1. Dân cư, dân tộc, tôn giáo, ngôn
ngữ
…………………………………. 6
1.2.2. Xu thế hội nhập ………………………………………………………. 7
1.3. Cơ sở về điều kiện kinh tế …………………………………………………. 7
1.3.1.Kinh tế Singapore ………………………………………………………. 7
1.3.2. Kinh tế Việt Nam ……………………………………………………… 9
1.3.3. Kết luận …………………………………………………………… 10
Chương II: Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore
2.1. Lịch sử phát triển mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore ….11
2.1.1. Lịch sử phát triển mối quan hệ ………………………………………… 11
2.1.2. Chính sách thương mại giữa hai nước ………………………………… 12
2.2. Thực trạng mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore …… 14
2.2.1. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nanm sang Singapore ………….… 14

Singapore là một đối tác lớn của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, do vậy việc
nghiên cứu mối quan hệ thương mại giữa hai nước có ý nghĩa lớn về thực tiễn. Qua
nghiên cứu có thể thấy diễn biến phát triển mối quan hệ Việt Nam – Singapore,
thông qua đó chúng ta có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm phát triển kinh tế
của nước bạn.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng quan hệ hợp
tác kinh tế Việt Nam- Singapore, đặc biệt trên lĩnh vực thương mại. Qua đó đề xuất
một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình phát triển quan hệ thương mại
giữa hai nước; nghiên cứu quan hệ thương mại ( cụ thể tập trung trong lĩnh vực
xuất nhập khẩu) giữa hai nước Việt Nam – Singapore từ 2009 đến nay
Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu như phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp logic phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp và phương pháp
so sánh được sử dụng xuyên suốt trong tiến trình làm bài thảo luận phân tích thực
trạng quan hệ kinh tế giữa hai nước.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ CỦA MỐI QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE
1.1.Cơ sở về điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý, địa hình
Về v

ị trí đị

a lý c ủ

a Singapore : Singapore là một quần đảo nằm ở cực nam
bán đảo Malacca, là điểm án ngữ quan trọng trên con đường buôn bán bằng đường

do điều kiện tự nhiên không cho phép và Việt Nam có thể nhập từ Singapore sản
phẩm của ngành công nghệ cao, máy móc sản xuất tiên tiến…
1.2. Cơ sở về điều kiện Văn hóa - Xã
hộ
i
1.2.1 Dân cư, dân tộc, tôn giáo, ngôn
ngữ

**Dân c ư, dâ

n t ộ

c :

Singapore là một quốc gia trẻ với nhiều dân tộc và đa sắc thái văn hoá. Dân
số của Singapore là gần 5,2 triệu người (tính đến năm 2011). Và Việt Nam cũng là
một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em) với hơn 8 triệu người. Đây là một
con số không nhỏ so với dân số Singapore. Cũng vì thế Việt Nam được coi là nơi
cung cấp lực lượng lao động dồi dào rất hấp dẫn các nhà đầu tư Singapore.
**Về tôn giáo :
Về tôn giáo, Việt Nam và Singapore tìm thấy điểm chung ở văn hoá phật
giáo, thờ cúng tổ tiên nên sinh hoạt và ứng xử trong gia đình cũng có nhiều nét
tương đồng. Từ đó dẫn đến một nền văn hoá khá giống nhau nên thiết lập quan hệ
tương đối dễ dàng.
**V ề ngôn n g

ữ :
Ở Singapore nhà nước công nhận cả 4 thứ tiếng gồm tiếng Mã Lai, tiếng
Hoa phổ thông, tiếng Tamin và tiếng Anh là những ngôn ngữ chính
,

Singapore hầu như không có nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các nguyên liệu
phần lớn nhập từ nước ngoài. Singapore chỉ có ít than, chì, nham thạch, đất sét;
không có nước ngọt; đất canh tác hẹp, nông nghiệp không phát triển và tỷ trọng
nông nghiệp là bằng không, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp
ứng nhu cầu ở trong nước.
Xuất khẩu đặc biệt là các mặt hàng điện tử, hóa chất và dịch vụ là nguồn
cung cấp chính cho thu nhập kinh tế và mua được các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và hàng chưa gia công mà trong nước không có. Do vậy có thể nói Singapore dựa
hoàn toàn vào nền kinh tế mở bằng việc mua các hàng hóa chưa gia công và chế
biến chúng để xuất khẩu. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp
phát triển cao hàng đầu châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và
sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến và lắp ráp máy móc. Singapore là nước
hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là
trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở châu Á.
Singapore cũng có một hải cảng chiến lược, có thể cạnh tranh với các nước
láng giềng để thực hiện các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu. Thành phố hải
cảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhất trên thế giới, vượt xa
Hồng Kông và Thượng Hải. Thêm vào đó, thành phố hải cảng của Singapore có cơ
sở hạ tầng tốt và lực lượng lao động có tay nghề cao nhờ các chính sách giáo dục
của đất nước trong việc đào tạo kỹ nghề cho công nhân, nó cũng là nền tảng cho
việc phát triển kinh tế của đất nước.
Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào thương mại và dịch vụ, đặc biệt là
xuất nhập khẩu, du lịch và ngân hàng tài chính ( chiếm hơn 70%GDP). Singapore
cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức.
1.3.2. Kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á, lớn thứ 57 trên thế giới
xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2011 và đứng thứ 128 xét
theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người. Đây là nền kinh tế
hỗn hợp, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các
chính sách kinh tế mà chính phủ áp dụng dần cởi mở nhiều hơn theo hướng kinh tế

trong sản phẩm. Mặt khác, Singapore có tỷ trọng nông nghiệp bằng 0 thì Việt Nam
lại có tỷ trọng nền nông nghiệp còn rất lớn, sản xuất chủ yếu là các mặt hàng nông
sản. Singapore có thể xuất khẩu máy móc, hỗ trợ Việt Nam sản xuất các mặt hàng
công nghệ cao, các ngành sản xuất phải sử dụng nhiều vốn. Việt Nam lại có lợi thế
xuất khẩu mặt hàng nông- thủy hải sản nên Singapore có thể nhập khẩu để duy trì
nguồn lương thực thực phẩm trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người
dân. Nền kinh tế của hai nước mang nhiều yếu tố bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Do đó,
hai nước có thể hợp tác để phát triển, cùng nhau vươn lên trở thành các nền kinh tế
phát triển thịnh vượng và ổn định lâu dài.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ SINGAPORE
2.1. Lịch sử phát triển mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Singapore
2.1.1. Lịch sử phát triển mối quan hệ
Mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Singapore đã phát triển nhanh chóng
đáng khích lệ trên nhiều lĩnh vực trong hơn 3 thập kỷ qua, kể từ khi hai nước thiết
lập quan hệ ngoại giao vào ngày 01/08/1973. Đặc biệt sự hợp tác thương mại giữa
hai nước đã có bước phát triển lớn, mang lại lợi ích cho cả hai dân tộc. Hiện nay
Singapore đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của ta và là nước có
vốn đầu tư lớn nhất vào Việt Nam. Hai nước có chung một xuất phát điểm nhưng
Singapore là nước phát triển trước Việt Nam về kinh tế.
Năm 1959, Singapore cũng có nền kinh tế yếu kém thiếu vốn như tình trạng
của Việt Nam hiện nay. Bắt đầu từ những năm 1970s, Singapore thực hiện chiến
lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, tăng cường đầu tư ra nước ngoài. Đây
là một chiến lược đúng đắn giúp Singapore tận dụng được ưu thế về vị trí địa lý
của mình, mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các nước khác để khắc phục
những nhược điểm của mình. Hiện nay, Singapore là một trong năm nước sáng lập
ASEAN và đã xây dựng hiệp hội thành một tập thể vững chắc cùng hợp tác phát
triển. Singapore cũng tích cực nâng cao vai trò của nước sáng lập Á- Âu (ASEM)
và vai trò trong tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Singapore đang ngày một
nâng cao hơn nữa vị trí của mình trên diễn đàn khu vực và quốc tế.

Singapore là cảng tự do). Hơn nữa hệ thống thuế nhập khẩu của Singapore rất thấp.
Hầu hết các mặt hàng (98%) được miễn thuế hoàn toàn. Chính sách ưu đãi này đã
góp phần đẩy mạnh quan hệ thương mại giữa hai nước.
- Thủ tục visa vào Singapore dễ dàng, thời gian làm thủ tục giảm từ 3 tuần xuống
còn 1 tuần, trong đó quy định quá cảnh 36h không cần xin visa. Vì vậy hàng hoá
Việt Nam vào Singapore không gặp trở ngại vì phải chờ đợi lâu.
- Để hỗ trợ các nhà đầu tư Singapore vào Việt Nam, tháng 12/1991 cơ quan quản lý
tiền tệ Singapore (MAS) tuyên bố bãi bỏ cấm vận đầu tư đối với Việt Nam. Công
ty Việt Nam hoặc công ty Singapore tại Việt Nam được vay vốn để kinh doanh.
Đồng thời các nhà đầu tư được quyền tự do đầu tư vốn của mình vào tất cả các
hình thức cũng như lĩnh vực kinh doanh. Mục tiêu là để tận dụng nguồn tài nguyên
thiên nhiên và nguồn nhân lực rẻ.
* Chính sách thương mại của Việt Nam đối với Singapore:
- Dần dần cắt giảm thuế còn 0-5% đối với các hàng hoá buôn bán thuộc nghành
chế tạo, tư liệu sản xuất, chế biến nông sản.
- Để khuyến khích các nhà đầu tư Singapore đầu tư tại Việt Nam, chính phủ Việt
Nam cho phép nhà đầu tư Singapore có thể đầu tư dưới mọi hình thức: xí nghiệp
liên doanh, xí nghiệp 100%vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh…đối xử
công bằng đối với doanh nghiệp Singapore cũng như doanh nghiệp trong nước.
Trong quá trình đầu tư, vốn và tài sản của họ sẽ không bị trưng thu, tịch thu. Xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không bị quốc hữu hoá. Họ được chuyển lợi
nhuận về nước, khi chuyển chỉ phải nộp một khoản thuế từ 5-10% số tiền chuyển
về nước đó. Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn hoặc giảm
mức thuế này cho những trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư.
- Nhà đầu tư Singapore làm việc trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
được phép chuyển thu nhập về nước sau khi nộp thuế thu nhập theo luật định. Các
nhà đầu tư nước ngoài Singapore chỉ phải nộp thuế lợi tức từ 15-25% số lợi nhuận
thu được. Đây là con số nhỏ hơn nhiều so với các nước khác, ví dụ: trung quốc là
31%.
Trong trường hợp tổ chức cá nhân Singapore dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư

(1)KNXK sang Singapore
(tỉ USD)
2,66 2,08 2,12 2,29 2,37
(2)Tổng KNXK với thế
giới (tỉ USD)
62,90 56,73 72,41 96,31 114,6
Tỉ trong (1)/(2) (%)
4,23 3,67 2,93 2,38 2,07
(Nguổn: tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam)
- Kim ngạch XK sang Singapore của VN khá ổn định và năm 2009 giảm 0,58 tỉ
USD so với năm 2008. Nguyên nhân là do những tác động của cuộc khủng hoảng
kinh tế Thế giới bắt nguồn từ Mỹ xảy ra vào những tháng cuối năm 2008. Điều này
đã đảo lộn và ảnh hưởng đến nhiều nước, rõ nhất vẫn là hệ thống tài chính, ngân
hàng của mỗi nước. Tại Việt nam, phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh
vực xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn. Trong đó các thị trường lớn như : Mỹ, EU,
Nhật,Singapore là những thị trường truyền thống nhập khẩu hàng sản xuất từ Việt
nam đang bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của người dân bị đảo lộn, đòi hỏi mọi
người phải cắt giảm chi tiêu, mức độ mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu…
Việt Nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt động xuất khẩu
hàng hóa, có thời điểm nông sản xuất khẩu giảm mạnh so với thời điểm giá cao
nhất trong năm. Đồng thời, tác động khủng hoảng Thế giới làm cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Việt nam gặp rất nhiều khó khăn một phần bị từ chối hợp
đồng, sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng nhiều. Phần thì chịu ảnh
hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ, hạn chế tăng trưởng tín dụng ngân hàng làm
lãi suất cho vay cao vượt xa khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.
- Song, nhìn chung, từ năm 2009 đến năm 2012 KNXK sang Singapore liên tục
tăng cùng với sự tăng lên KNXK của Việt Nam đối với thế giới từ 2,08 lên 2,37 tỉ
USD (tăng 13,94%). Nhưng mặt khác, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu giữa Việt
Nam- Singapore và Việt Nam- Thế giới lại có xu hướng giảm do sự gia tăng
KNXK sang Singapore chậm hơn so với sự gia tăng KNXK ra thế giới. KNXK của

0,95% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore; gỗ và sản
phẩm gỗ đạt 4,6 triệu USD, giảm 30,7% so với cùng kỳ, chiếm 2,2%
** Năm 2010:
Nếu không kể dầu thô, thì gạo, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện;
máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, xăng dầu các loại… là các mặt hàng chính
Singapore nhập khẩu từ thị trường Việt Nam trong năm 2010. Gạo là mặt hàng có
kim ngạch lớn sau dầu thô với 227,7 triệu USD trong năm 2010, chiếm 10,7%
trong tổng kim ngạch, tăng 70,51% so với năm 2009.
Đáng chú ý, tháng 12/2010, Việt Nam xuất khẩu mặt hàng cà phê sang
Singapore tăng trưởng đột biến, với 9,9 triệu USD, tăng 94% so với tháng liền kề
trước đó, nâng kim ngạch năm 2010 lên 23,4 triệu USD, chiếm 1,1% trong tổng
kim ngạch, tăng 18,81% so với năm trước đó. Những mặt hàng xuất khẩu có kim
ngạch giảm so với năm 2009 đó là: dầu thô, hàng dệt may, hạt tiêu, cao su và
quặng và khoáng sản giảm lần lượt là 41,19%; 34,12%, 42,49%; 57% và 15,89%.
Bảng 2: Thống kê mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Singapore năm 2010
KXNK Năm
2010
(USD)
KNXK năm
2009
(USD)
Tăng giảm KN
năm 2010 so
năm 2009 (%)
Tổng kim ngạch 2.121.313.573 2.076.253.481 +2,17
Dầu thô 583.765.610 992.709.332 -41,19
Gạo 227.791.806 133.594.368 +70,51
Máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện
224.925.172 199.975.040 +12,48

chiếm 1% trong tổng kim ngạch; sau cùng là túi xách, ví, va li, mũ và ô dù đạt 4,7
triệu USD, tăng 85,1% so với cùng kỳ, chiếm 0,3% trong tổng kim ngạch.
Ngược lại, cao su đạt 684,6 nghìn USD, giảm 72,1% so với cùng kỳ, chiếm
0,04% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là dầu thô; gạo đạt 180 triệu USD, giảm
13,1 % so với cùng kỳ, chiếm 9,6% trong tổng kim ngạch; sau cùng là sản phẩm từ
chất dẻo đạt 13,7 triệu USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ, chiếm 0,7% trong tổng
kim ngạch.
Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Singapore
10 tháng đầu năm 2011.
Mặt hàng Kim ngạch
XK 10T/2010
(USD)
Kim ngạch
XK 10T/2011
(USD)
% tăng, giảm
KN so với
cùng kỳ
Tổng 1.819.849.446 1.874.680.609 + 3
Hàng thủy sản 59.200.084 78.379.731 + 32,4
Hàng rau quả 12.344.000 13.580.887 + 10
Hạt điều 6.792.190 6.731.878 - 0,9
Cà phê 13.071.199 21.024.934 + 60,8
Hạt tiêu 5.766.305 19.110.340 + 231,4
Gạo 207.446.796 180.272.457 - 13,1
Dầu thô 580.183.890 349.732.566 - 39,7
Xăng dầu các loại 59.425.985 67.387.167 + 13,4
Sản phẩm hóa chất 11.106.567 13.899.472 + 25,1
Chất dẻo nguyên liệu 4.355.237 4.484.291 + 3
Sản phẩm từ chất dẻo 14.781.716 13.682.170 - 7,4

(1)KNNK từ Singapore
(tỉ USD)
9,39 4,25 4,10 6,39 6,69
(2)Tổng KNNK với thế giới
(tỉ USD)
80,7 69,9 84,8 106,7 114,34
Tỉ trọng (1)/(2) (%)
11,64 6,08 4,83 5,99 5,85
(Nguổn: tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan Việt Nam)
- Kim ngạch NK từ Singapore của VN từ năm 2008 đến năm 2012 có sự biến
động rõ rệt. Năm 2008, kim ngạch nhập khẩu của nước ta đạt 9.39 tỷ USD nhưng
đến năm 2009 lại sụt giảm xuống còn 4,25 tỷ USD do cuộc khủng hoảng của kinh
tế Mỹ kéo theo sự sụt giảm của các nền kinh tế khác trên thế giới và Singapore
cũng không phải ngoại lệ. Nền kinh tế Singapore chủ yếu dựa vào tái xuất và sản
xuất các mặt hàng công nghệ cao nên ảnh hưởng của nó là không nhỏ, Singapore
giảm xuất khẩu và Việt Nam cũng giảm nhập khẩu do đó nhìn chung kim ngạch
nhập khẩu của Việt Nam từ Singapore có sự sụt giảm mạnh
- Mặt khác , từ năm 2010 cho đến nay, kim ngạch nhập khẩu từ Sinapore của Việt
Năm bắt đầu tăng trở lại, từ 4,25 lên 6,69 tỉ USD (tăng 57,41%), chủ yếu do nhu
cầu tiêu dùng trong nước ngày càng cao và nhu cầu sản xuất trong nước ngày càng
lớn. Bên cạnh đó, mục tiêu công nghiệp hóa cùng với sự toàn cầu hóa đã khiến cho
Việt Nam có nhu cầu nhiều hơn về các mặt hàng có nhiều hàm lượng công nghệ
nhằm khôi phục và phát triển nền kinh tế.
1.2.2 Cơ cấu nhập khẩu
**Năm 2008:
Tháng 8/2008, Singapore tiếp tục là thị trường cung cấp xăng dầu lớn nhất
nước ta đạt 450,5 nghìn tấn với trị giá 412,54 triệu USD. Nhóm các mặt hàng hóa
chất, máy móc, điện tử, kim loại công nghiệp, y dược đều tăng tỷ trọng trong cơ
cấu hàng nhập khẩu. Trong khi đó nhóm các mặt hàng như phụ liệu dệt may, da
giày, sản phẩm gỗ,….đang có xu hướng giảm. Điều đó cho thấy Việt Nam đang tập

Tổng kim ngạch 4.101.144.202 4.248.355.912 -3,47
Xăng dầu các loại 2.055.687.743 2.335.628.220 -11,99
Chất dẻo nguyên liệu 258.491.491 202.468.712 +27,67
Phương tiện vận tải khác và phụ
tùng
234.118.576 5.191.558 +4.409,60
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và
linh kiện
228.375.721 237.972.277 -4,03
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng
khác
225.730.457 587.364.866 -61,57
Hóa chất 67.888.020 57.242.959 +18,60
Sản phẩm từ sắt thép 36.424.702 54.013.301 -32,56
Sắt thép các loại 33.618.955 22.974.739 +46,33
Tuốc trừ sâu và nguyên liệu 25.918.243 15.993.832 +62,05
Kim loại thường khác 15.570.091 24.849.936 -37,34
Sản phẩm từ chất dẻo 15.338.652 12.463.258 +23,07
Dây điện và dây cáp điện 11.360.158 6.597.496 +72,19
Khí đốt hóa lỏng 9.867.721 4.393.427 +124,60
Dược phẩm 9.154.083 8.954.477 +2,23
Hàng thủy sản 7.674.270 4.199.469 +82,74
Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày 5.319.400 4.859.510 +9,46
Vải các loại 4.333.309 9.268.032 -53,24
Bông các loại 4.164.753 613.386 +578,98
……… ……. ……… ………
(Nguồn: báo điện tử của Bộ Công thương Việt Nam - www.vinanet.com.vn)
**Năm 2011:
Xăng dầu các loại dẫn đầu mặt hàng về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của
Việt Nam từ Singapore 7 tháng đầu năm 2011 đạt 2,5 tỉ USD, tăng 83,2% so với

Xăng dầu các loại 1.350.619.130 2.474.160.575 + 83,2
Khí đốt hoá lỏng 5.889.017 2.418.584 - 59
Sản phẩm khác từ dầu mỏ 118.742.564 160.080.339 + 34,8
Hoá chất 36.096.499 44.502.091 + 23,3
Sản phẩm hoá chất 51.009.434 65.810.937 + 29
Dược phẩm 4.458.095 6.938.932 + 55,6
Phân bón các loại 415.195 57.742 - 86,1
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu 13.057.118 23.836.317 + 82,6
Sản phẩm từ cao su 2.799.134 4.461.164 + 59,4
Vải các loại 2.857.993 2.436.635 - 14,7
Nguyên phụ liệu dệt, may, da,
giày
3.072.305 2.470.640 - 19,6
Sắt thép các loại 11.976.358 9.723.044 - 18,8
Sản phẩm từ sắt thép 21.794.931 39.663.955 + 82
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và
linh kiện
139.573.939 121.464.803 - 13
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ
tùng khác
118.637.373 144.483.218 + 21,8
Dây điện và dây cáp điện 6.190.846 7.197.325 + 16,3
Phương tiện vận tải khác và
phụ tùng
46.540.673 27.934.420 - 40
………… ……… …… ……
(Nguồn: báo điện tử của Bộ Công thương Việt Nam - www.vinanet.com.vn)
** Năm 2012:
Trong năm 2012, Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện từ Singapore đạt gần 1,03 tỷ USD, tăng 142% so với năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status