Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh đang cạnh tranh nhau rất gay gắt. Việt Nam trở thành thành viên của WTO đã
tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội và thách thức. Một doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển thì phải cố gắng mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất có
thể. Để làm được điều đó, các doanh nghiệp cần phải phát huy và sử dụng hiệu quả
mọi nguồn lực của đơn vị mình. Trong đó vốn là yếu tố sản xuất đầu tiên và quan
trọng của mỗi doanh nghiệp. Huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một nhiệm vụ
trung tâm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Việc hình thành một cơ cấu
vốn hợp lý, sử dụng tiết kiệm và tăng nhanh tốc độ luân chuyển của vốn là góp phần
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và gia tăng lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp.
Hơn thế nữa, một doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả
nhất sẽ tồn tại, phát triển và đứng vững trên toàn thị trường, một phần lợi nhuận từ
việc sử dụng hiệu quả của nguồn vốn đem lại sẽ được đầu tư, tiến hành để tái sản xuất
mở rộng quy mô, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh hơn. Vậy hoạt
động quản lý và sử dụng vốn sao cho hiệu quả là một nội dung quan trọng trong công
tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Nó giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tình hình tài chính của doanh
nghiệp luôn ở trạng thái ổn định và lành mạnh. Đây cũng là một vấn đề luôn thu hút
của các nhà đầu tư, các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp và những người làm công tác
kế toán tài chính.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên đây, qua thời gian quan sát, tìm hiểu thực
tế ở Công ty TNHH Bia Huế, nhóm đã lựa chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn tại Công ty TNHH Bia Huế” .
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty TNHH Bia Huế.
- Mục tiêu cụ thể:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn và hiệu quả sử dụng
vốn.
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tổng quan về vốn kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm:
1.1.1.1.1. Vốn là gì?
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, thực hiện mục
tiêu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là sinh lợi và phát triển, bất kỳ DN nào
cũng cần có một lượng vốn tối thiểu nhất định. Vốn luôn là vấn đề được quan tâm
hàng đầu, là điều kiện để DN tồn tại. Có rất nhiều định nghĩa về vốn:
Vốn là một phạm trù kinh tế, nó gắn liền với sản xuất hàng hóa. Trong nền kinh
tế khép kín tự cung tự cấp, mọi hoạt động lao động sản xuất đều là tái sản xuất giản
đơn, vốn cho hoạt động kinh tế không được trao đổi mua bán và không được coi là
hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa. Nó giống các hàng hóa
khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán
quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất)
là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách rời về quyền sở hữu và
quyền sử dụng vốn nên vốn
c
ó thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức
lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham
gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà
trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, xuyên suốt trong thời gian
tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản
xuất cuối cùng.
Tóm lại, vốn là
mộ
- Vốn chủ sở hữu của doanh ngiệp:
+ Là nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp, khi doanh nghiệp mới được
thành lập thì nguồn vốn chủ sở hữu hình thành vốn điều lệ do chủ doanh nghiệp, các
nhà đầu tư góp vốn được sử dụng để đầu tư, mua sắm các loại tài sản của doanh
nghiệp. Trong quá trình hoạt động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung từ kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ doanh nghiệp
chủ động hoàn toàn trong sản xuất. Chủ doanh nghiệp có cơ sở để chủ động kịp thời
đưa ra các chính sách, quyết định trong kinh doanh để đạt được mục tiêu của mình mà
4
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
không phải tìm kiếm và phụ thuộc vào nguồn tài trợ.
Tuy nhiên, nguồn vốn chủ sở hữu này thường bị hạn chế về quy mô nên không
thể đáp ứng nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh, mặt khác việc sử dụng nguồn
vốn này
khôn
g phải chịu sức ép về chi phí sử dụng vốn và có thể thiếu sự kiểm tra,
giám sát hoặc tư vấn của các chuyên gia, các tổ chức như trong sử dụng vốn đi vay, do
đó có thể hiệu quả sử dụng vốn không cao hoặc có thể có những quyết định đầu tư
không khôn ngoan.
- Các khoản nợ phải trả.
Vốn nợ được tài trợ bởi những người không phải là chủ sở hữu của doanh nghiệp,
là cách việc mua bán trao đổi được diễn ra trên thị trường tài chính và được thỏa thuận
có tổ chức như một hợp đồng vay mượn mà người đi vay cam kết trả cho người vay.
Như vậy, khi huy động các công cụ nợ để hình thành vốn nợ, người đi vay phải
trả lãi cho các công cụ nợ ( các khoản tiền vay) . Mức lãi suất phải trả cho các khoản
vay phụ thuộc mức cung cầu trên thị trường, đó chính là giá cả của vốn hàng hóa. Các
mức lãi suất này không ổn định và được thỏa thuận khi đi vay.
Việc phân chia nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành vốn chủ sở
+ Tài sản thuê tài chính là tài sản cố định mà doanh nghiệp đi thuê dài hạn và
được bên thuê giao quyền sử dụng và quản lý trong thời gian cho thuê tài sản cô định.
Tiền cho thuê bao gồm các khoản trang trải chi phí đầu tư tài sản cố định và lợi nhuận.
- Vốn lưu động trong doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua
sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu
động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các doanh
nghiệp người ta thường chia tài sản lưu động thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất
và tài sản lưu động lưu thông.
- Tài sản lưu động sản xuất bao gồm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán
thành phẩm, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến.
- Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng
tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tài sản lưu động sản xuất và tái sản xuất lưu
thông luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất
được diễn ra liên tục. Phù hợp với những đặc điểm trên của tài sản lưu động, vốn lưu động
của doanh nghiệp cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu của chu kỳ kinh doanh.
6
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
Khởi đầu vòng tuần hoàn vốn, vốn lưu động từ hình thái tiền tệ ban đầu chuyển
sang hình thái vốn vật tư hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất. Kết thúc vòng tuần hoàn,
sau khi sản phẩm được tiêu thụ, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất
phát ban đầu của nó.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên
liên tục nên cùng một thời điểm vốn lưu động tồn tại dưới các hình thái khác nhau
trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông.
Các giai đoạn vận động của vốn đan xen vào nhau, các chu kỳ sản xuất được lặp
tố lao động, và yếu tố
công nghệ.
Trong ba yếu tố đó thì yếu tố vốn là điều kiện tiền đề
có vai trò rất quan trọng. Nó quyết định đầu tiên việc sản xuất kinh doanh có thành
công hay không.
Khi sản xuất, doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn để mua nguyên liệu đầu
vào, thuê công nhân, mua thông tin trên thị trường, mua bằng phát minh sáng chế…
Bởi vậy, có thể nói vốn là điều kiện đầu tiên cho yếu tố cầu về lao động và công nghệ
được đáp ứng đầy đủ.
1.1.1.4.2. Vốn quyết định sự ổn định và liên tục của quá trình sản xuất kinh
doanh
Khi yêu cầu về vốn, lao động, công nghệ được đảm bảo, để quá trình sản xuất
được diễn ra liên tục thì vốn phải được đáp ứng đầy đủ, kịp thời và liên tục.
Thực tế cho thấy có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau vì vậy các quá
trình sản xuất kinh doanh cũng sẽ khác nhau nên việc dùng vốn lưu động cũng khác
nhau. Nhu cầu vốn lưu động phát sinh thường xuyên như mua thêm nguyên vật liệu,
mua thêm hàng để bán, để thanh toán, để trả lương, để giao dịch…. Nhu cầu vốn lưu
động phát sinh thường xuyên như mua thêm nguyên vật liệu, mua thêm hàng để bán,
để thanh toán, để trả lương để giao dịch…
1.1.2. Một số vấn đề về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn
lực của doanh nghiệp sao cho lợi nhuận đạt được là cao nhất với tổng chi phí thấp nhất.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Thứ nhất: Đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp và việc sử dụng vốn có
hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp trong việc huy động vốn dễ dàng hơn.
Thứ hai: Giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín của mình trên thị trường, nâng cao
mức sống của cán bộ công nhân viên.
8
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
- Mức doanh lợi vốn lưu động (tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động) phản ánh một đơn
vị vốn lưu động sử dụng bình quân trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận
sau thuế.
Doanh lợi vốn lưu động = Lợi nhuận sau thuế/ Vốn lưu động bình quân.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị
9
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
doanh thu công ty cần sử dụng bao nhiêu đơn vị vốn lưu động.
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động = Vốn lưu động bình quân/ Doanh thu thuần
- Tốc độ chu chuyển các khoản phải thu (vòng quay khoản phải thu): Đây là chỉ
tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng đối với
bạn hàng.
Vòng quay khoản phải thu= Doanh thu thuần/ Các khoản phải thu bình quân
- Số ngày bình quân vòng quay khoản phải thu: Cho biết doanh nghiệp mất bình
quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình.
Số ngày trung bình = 360/ Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho càng cao cho thấy doanh
nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong doanh nghiệp.
Mặt khác nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị
giảm qua các năm, có nghĩa là doanh nghiệp sẽ gặp ít rủi ro
hơn
… Thêm nữa, dự trữ
nguyên vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ khiến cho dây chuyền bị
ngưng trễ. Vì vậy vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản
xuất đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán/ Hàng tồn kho bình quân
Nếu số ngày bình quân vòng quay hàng tồn kho lớn là một dấu hiệu của việc
doanh nghiệp đầu tư quá nhiều cho hàng tồn
kho
.
Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có vai trò quan trọng
không chỉ với bản thân ngành công nghiệp mà đặc biệt đối với phát triển của nông
nghiệp, nông thôn, thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn,
hình thành các vùng thâm canh, sản xuất tập trung, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
nông thôn và tạo điều kiện quan trọng cho thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn. Thông qua chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp tăng lên
gấp nhiều lần (4 đến 10 lần). Đồng thời qua chế biến từ một sản phẩm nông nghiệp có
thể tạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau, những đặc tính mới, giá trị sử dụng mới, đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân và là nguồn xuất khẩu quan trọng, đẩy mạnh
giao lưu hành hóa với các nước, đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Phát
triển ngành công nghiệp thực phẩm góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm
cho lực lượng lao động ở vùng nông thôn, tăng thu nhập cho dân cư, tạo khả năng mở
rộng thị trường tiêu thụ, làm giảm sự phụ thuộc của yếu tố thời gian, thời vụ và
khoảng cách đối với người tiêu dùng đối với các sản nông nghiệp, đồng thời tăng nhu
cầu về sản phẩm nông nghiệp . Từ đó thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh mẽ. Mặt
11
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
khác phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm góp phần phát triển ngành nền công
nghiệp sạch và bền vững. Đối với những nước có trình độ có trình độ phát triển còn
thấp, phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có ý nghĩa rất to lớn trong việc
chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ những ngành kém hiệu quả hơn sang ngành có hiệu quả
hơn.
Công nghiệp chế biến thực phẩm chiếm tỷ trọng về giá trị sản xuất khá cao trong
ngành công nghiệp, khoảng 25% đối với các nước đang phát triển, từ 10% đến 15% ở
các nước phát triển, còn ở nước ta năm 1988 là 24,5%, năm 2005 là 20.95%.
1.2.2. Khái quát chung về thị trường bia Việt Nam
1.2.2.1. Thị trường xuất khẩu
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng
trong quy mô dân số với cơ cấu trẻ, bánh kẹo và đồ uống là những ngành có tốc độ
tăng trưởng cao và ổn định tại Việt Nam. Nhờ vào lợi thế hội nhập, ngành rượu, bia,
xuyên trao đổi thông tin với các nhà nhập khẩu đã giúp cho hoạt động xuất khẩu tiến
triển đúng hướng, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường nước sở tại; nhờ đó có thể chấp
nhận được chi phí vận chuyển, phân phối cao cùng hàng rào quan thuế áp đặt đối với đồ
uống có cồn nhập khẩu và sự cạnh tranh của các thương hiệu khác, đảm bảo được hiệu
quả kinh doanh.
1.2.2.2. Thị trường nội địa
Việt Nam hiện là một quốc gia có dân số trẻ với khoảng 33 triệu người trong độ
tuổi từ 20 đến 40, độ tuổi có tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm bia cao nhất. Tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2010 đạt trên 8%, GDP bình quân đầu
người sẽ đạt mục tiêu 1000$ vào cuối năm 2010 thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ các sản
phẩm bia, đặc biệt là bia cao cấp và bia trung cấp, đảm bảo cho tăng trưởng theo chiều
sâu của thị trường bia Việt Nam trong tương lai.
Hiện nay, Việt nam có khoảng 350 cơ sở sản xuất bia có trụ sở ở hầu khắp các
tỉnh, thành trên cả nước và tiếp tục tăng về số lượng. Trong đó có hơn 20 nhà máy đạt
công suất trên 20 triệu lít/năm. Kể từ năm 2001 đến năm 2006, tốc độ tăng trưởng của
khối lượng bia được tiêu thụ hằng năm trung bình là 8%, trong đó bia hơi và bia
thường vẫn là hai dòng sản phẩm chủ đạo với tốc độ tăng trưởng của khối lượng bia
được tiêu thụ hằng năm trung bình lần lượt là 13% và 6%. Các dòng sản phẩm bia cao
cấp mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng 12% nhưng lại có mức giá trị đóng góp là 20%. Sản
phẩm bia được tiêu thụ nhiều nhất thuộc các nhãn hiệu bia nổi tiếng thế giới như
Heineken: "Chỉ trong năm 2010 người Việt đã uống hơn 200 triệu lít bia nhãn hiệu
13
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
Heineken, chỉ sau Mỹ, Pháp trong danh sách 170 thị trường trên thế giới mà dòng bia
này có mặt."
Tính chung 7 tháng, sản xuất bia các loại ước đạt 1,63 tỷ lít, tăng 8,9% so với
cùng kỳ (trong đó bia thương hiệu Hà Nội ước đạt 303,8 triệu lít, tăng 15,0%; bia
thương hiệu Sài Gòn ước đạt 778,8 triệu lít, tăng 8,2%). Bộ công thương cho hay thị
trường tiêu thụ bia vẫn tập trung chủ yếu ở các đô thị và địa điểm du lịch hè. Trước đó,
theo thống kê sơ bộ của các doanh nghiệp sản xuất bia Việt Nam, năm 2012 cả nước
máy Bia Huế chính thức mang tên Công ty Bia Huế. Tên và địa chỉ cụ thể của công ty
như sau:
Tên công ty: Công ty TNHH Bia Huế
Tên thường gọi: Công ty Bia Huế
Tên nước ngoài: HUE BREWERY. LTD
Tên giao dịch: HBL
Loại hình: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Địa chỉ: 243 Nguyễn Sinh Cung – Thành phố Huế
Điện thoại: 054 850 164
Fax: 054 850 771
Email:
Website:
Đến năm 1998, năng lực sản xuất của công ty Bia Huế đã được nâng lên 50 triệu
15
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
lít/năm, đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong quá trình hình thành và phát triển của
công ty.
Năm 2008, công ty bia Huế xây dựng thêm một cơ sở sản xuất mới tại khu công
nghiệp Phú Bài, nhà máy Bia Phú Bài giai đoạn 1 đi vào hoạt động đã đưa công suất
của công ty Bia Huế lên 150 triệu lít/ năm. Sau một năm hoạt động, nhà máy Bia Phú
Bài chạy hết công suất, nhưng vẫn không đủ cung ứng cho nhu cầu trong mùa cao
điểm. Vì vậy tháng 11/2009, nhà máy Bia Phú Bài giai đoạn 2 được khởi công và hoàn
thành đã nâng tổng công suất của công ty lên 230 triệu lít/ năm vào tháng 5/2010.
Công ty Bia Huế là thành viên của Hiệp hội rượu, bia, nước giải khát Việt Nam,
Hiệp hội doanh nghiệp Thừa Thiên Huế, Hiệp hội doanh nghiệp trẻ Việt Nam, Hiệp
hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, Hiệp hội các nhà đầu tư nước ngoài, hội viên
của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)…
Không chỉ tập trung vào việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, công tác xuất
khẩu cũng được công ty quan tâm ngay từ những năm đầu tiên thành lập. Sản phẩm
Bia Huda đã có mặt tại thị trường Mỹ từ năm 1994. Đến nay, thị trường xuất khẩu của
- Thực nghiệm đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, thực hiện tốt các
chính sách, chế độ quản lý lao động, chú trọng đến công tác bồi dưỡng để không
ngừng nâng cao trình độ văn hóa, tay nghề, nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của
công ty.
- Góp phần giải quyết về việc làm cho người lao động trong địa bàn tỉnh.
2.1.3 Bộ máy quản lý của Công ty Bia Huế
17
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
2.1.3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
18
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
GĐ KĨ
THUẬT
GĐ CUNG
ỨNG
GĐ
MARKETING
GĐ NHÂN
SỰ
GĐ HÀNH
CHÍNH
GĐ BÁN
HÀNG
GĐ TÀI
CHÍNH
ĐỘI XEBP ITBP kế
toán
KHO
GĐ PHÚ BÀI
PT
Thí
nghiệm
PB
Bộ
phận
trade
marketi
g
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH Bia Huế
19
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
2.1.3.2.Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý
Trong công ty đứng đầu là Hội đồng quản trị ( HĐQT), có quyền lợi cao nhất do
Đại hội cổ đông bầu ra, nhiệm kì là 5 năm.
Tổng giám đốc (TGĐ) là thành viên của HĐQT, do HĐQT bầu ra được UBND
tỉnh chuẩn y. TGĐ của công ty là người chịu trách nhiệm trước HĐQT về kết quả sản
xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc sản xuất kinh doanh theo
đúng ngành nghề đã đăng kí và đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Các phòng ban chức năng gồm: Phòng kế toán tài vụ, phòng kế hoạch vật tư,
phòng tiếp thị, bộ phận tổng hợp, bộ phận văn thư. Các phòng này có nhiệm vụ tham
mưu cho TGĐ trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động SXKD của Công ty.
Đứng đầu các phòng ban là 3 Giám đốc và 1 Phó giám đốc: GĐ tài chính, GĐ kỹ
thuật, GĐ nhân sự, PGĐ marketing. Nhiệm vụ cụ thể của các phòng ban như sau:
∗ Phòng tài vụ kế toán: Tổ chức hạch toán kế toán các hoạt động kinh doanh theo
đúng quy định của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ của công ty đối với Nhà nước thông
qua các khoản nộp ngân sách. Ghi chép, phản ánh, giám sát toàn bộ vốn của công ty và
tình hình sử dụng vốn. Thanh toán, phản ánh được thu nhập và chi phí, xác định kết
quả SXKD. Thu nhập và phản ánh kết quả lao động của từng tập thể, cá nhân làm cơ
riêng biệt, tuy nhiên chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau
cùng tham mưu cho TGĐ ra những quyết định đúng đắn nhằm thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh phát triển mang lại lợi nhuận cao cho công ty.
2.1.4 Đặc điểm sản xuất và quy trình sản xuất kinh doanh
2.1.4.1 Đặc điểm sản xuất
Là một công ty sản xuất và tiêu thụ bia tại thị trường là Việt Nam và nước ngoài,
công ty đang đứng trước những thách thức cũng không hề nhỏ: một loạt các hãng bia
hàng đầu thế giới như: Carlsberg, Heineken – Tiger, Foster, Miller, Samiguel,… đã có
mặt tại thị trường Việt Nam. Hàng loạt các phi vụ, những toán tính về mua lại, sáp
nhập, nhượng quyền… để sẵn sàng “tham chiến” chia sẻ thị phần bia Việt Nam. Chính
vì vậy công ty đã mạnh dạn đầu tư công nghệ hiện đại vào sản xuất để nâng cao chất
lượng và đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, công ty
cũng đã xây dựng một nhà máy bia hiện đại tại KCN Phú Bài để sẵn sàng đón lấy
những cơ hội trong tương lai.
Với tiềm năng sẵn có về kinh tế, kỹ thuật, thông tin, cơ sở hạ tầng nhất là về con
người, công ty đang sẵn sàng cho sự hội nhập vào thị trường bia đầy sức cạnh tranh
khắc nghiệt của Việt Nam thời kỳ kinh tế hội nhập.
21
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
Không chỉ tập trung vào việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, công tác xuất
khẩu cũng được công ty quan tâm ngay từ những năm đầu tiên thành lập. Sản phẩm
Bia Huda đã có mặt tại thị trường Mỹ từ năm 1994. Đến nay, thị trường xuất khẩu của
công ty đã được mở rộng ra nhiều nước khác trên thế giới như: Anh, Pháp, Tây Ban
Nha, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia, CHDCND Lào, Campuchia…
2.1.4.2. Kỹ thuật công nghệ
- Công ty luôn đầu tư nghiên cứu, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng đào tạo nâng
cao tay nghề cho công nhân, đầu tư mua sắm trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại
phục vụ việc sản xuất sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.
2.1.4.3. Loại hình sản xuất
- Đặc điểm ngành nghề của công ty là kinh doanh trong ngành công nghệ thực
2
Lọc trong bia
Bia trong
Chiết chai, lon
Chai, lon
Rửa
CO
2
Nước thải
Thanh trùng
Dán nhãn
Nước thải
Bia thành phẩm
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
2.1.6. Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Bia Huế giai đoạn 2010 – 2012
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty giai đoạn 2010-2012
Chỉ tiêu
Năm
2010
Năm 2011
Năm
2012
So sánh
2011/2010 2012/2011
+/- % +/- %
Doanh thu thuần 1.420.736 1.424.807 1.779.249 4.071 0,29 354.34
2
24,86
Giá vốn hàng bán 716.143 748.089 1.011.943 31.946 4,46 263.85
4
năm có sự biến động. Năm 2011, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
đều giảm so với năm 2010. Sự giảm này góp phần làm tăng lợi nhuận của công ty
đồng thời chứng tỏ công ty đã quản lý tốt hai khoản chi phí này. Đến năm 2012, hai
24
Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Bia Huế giai đoạn 2010-2012
khoản chi phí này tăng lên và đặc biệt tốc độ tăng của chi phí bán hàng cao hơn tốc độ
tăng của doanh thu. Sự tăng lên của hai khoản chi phí này làm giảm phần nào lợi
nhuận của doanh nghiệp. Do đó, công ty cần quản lý chặt hai khoản chi phí trên tránh
việc chi cho những khoản không cần thiết trong hoạt động kinh doanh.
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động của công ty là lợi nhuận sau thuế.
Qua 3 năm 2010 – 2012 lợi nhuận sau thuế giảm: năm 2011 giảm 3.24% so với năm
2010, năm 2012 giảm 2.24%.
Nhìn chung, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty diễn ra tương
đối tốt, chỉ có một điều đáng chú ý là chi phí bán hàng của công ty còn khá cao, công
ty cần có chính sách để cải thiện. Tính hết tháng 12/2012, tổng sản lượng tiêu thụ của
công ty tăng 19% so với năm 2011. Trong năm 2013, Bia Huế đề ra mục tiêu tăng sản
lượng ít nhất là 30% so với năm 2012. Đây là dấu hiệu tích cực đối với quá trình sản
xuất kinh doanh của công ty Bia Huế.
2.2. Đánh giá khái quát tình hình biến động tài sản và nguồn vốn của công
ty giai đoạn 2010-2012.
2.2.1. Đánh giá khái quát tình hình biến động nguồn vốn.
Vốn là yếu tố rất quan trọng gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty. Vốn kinh doanh tham gia vào mọi hoạt động của công ty từ khâu sản xuất,
cung ứng, tiêu thụ, do vậy việc huy động nguồn vốn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn là
một trong những yêu cầu hết sức quan trọng nhằm duy trì và phát triển bền vững hoạt
động kinh doanh của công ty. Xuất phát từ thực tế đòi hỏi cần đáp ứng yêu cầu về
nguồn vốn kinh doanh ngày càng tăng (như: dùng để mua nguyên vật liệu, tất cả các
nguyên liệu để sản xuất bia chủ yếu đều phải nhập khẩu từ nước ngoài (trừ gạo), mua
sắm trang thiết bị phục vụ, nâng cấp máy móc). Do đó, công ty cần có lượng vốn lớn
để hoạt động, ngoài vốn chủ sở hữu thì nguồn vốn chủ yếu của công ty là đi vay từ các