giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa ở tỉnh hà tây - Pdf 10

Lời nói đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua ngành chăn nuôi bò sữa ở nớc ta nói chung và
tỉnh Hà Tây nói riêng đã có những bớc phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy lợng sữa
sản xuất ra cho tới nay mới chỉ đáp ứng đợc khoảng 10% nhu cầu tiêu dùng
trong nớc. Xuất phát từ nhu cầu trên, Chính phủ đã phê duyệt dự án phát
triển sữa quốc gia giai đoạn 2001 đến 2010. Trong đó tỉnh Hà Tây là một
vùng trọng điểm, tập trung phát triển với số lợng 20000-25000 con bò sữa
đến năm 2010. Sau giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại Trung tâm phát triển
chăn nuôi bò sữa tỉnh Hà Tây. Bớc đầu tiếp xúc, đi sâu tìm hiểu về công tác
tổ chức, quản lý và chỉ đạo sản xuất đối với lĩnh vực chăn nuôi bò sữa từng
bớc gắn với tìm hiểu tình hình phát triển sản xuất đàn bò ở Hà Tây trong thời
gian qua em nhận thấy: Chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Hà Tây là một nghề mới, tuy
với số lợng còn ít, qui mô nhỏ nhng đã chứng tỏ đợc hiệu quả kinh tế của nó
trong phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tận
dụng tối đa diện tích đất đồi gò, bãi sông.
Vì vậy, xem xét và nghiên cứu tìm ra những u điểm và hạn chế để phát
triển ngành chăn nuôi ở Hà Tây là cần thiết, do đó em đã chọn và nghiên cứu
đề tài: Giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Hà Tây làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu.
-Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của chăn nuôi bò
sữa.
-Đánh giá những điều kiện ảnh hởng đến phát triển nghề chăn nuôi bò
sữa.
-Phân tích thực trạng phát triển nghề chăn nuôi bò sữa ở Hà Tây.
-Chỉ ra phơng hớng và những giải pháp kinh tế chủ yếu để phát triển
nghề chăn nuôi bò sữa ở Hà Tây.
3. Phơng pháp nghiên cứu.
Để đạt đợc mục đích trên, đề tài ngoài sử dụng các phơng pháp chung,
còn sử dụng các phơng pháp nh: Phơng pháp duy vật biện chứng; phơng pháp

Mặc dù lactose là chất đờng, nó không có vị ngọt. Hàm luợng chất béo
trong sữa, lợng lactose không dễ dàng thay đổi bằng cách ăn uống và không
thay đổi ít từ giống bò này sang giống bò khác. Glucose và galactose, mà từ
đó lactose đợc hình thành, có hàm lợng nhỏ trong sữa: lần lợt từ 14mg/100g
và 12 mg/100g.
Không có chất đạm thì không có sự sống. Đó là những chất cơ bản của
các mô sống. Để thoả mãn nhu cầu của mình hàng ngày về protein, một ngời
lớn trung bình phải ăn 1g protein cho mỗi kg cân nặng. Các sản phẩm sữa là
một nguồn quan trọng protein có chất lợng cao.
Phần lớn chất dinh dỡng trong sữa là dới dạng protein. Các protein đợc
hình thành bằng các acid amin. Có 20 acid amin có mặt trong các protein.
Thứ tự các acid amin đợc xác định bởi mã di truyền và cho mỗi protein một
cấu trúc duy nhất. Cấu trúc không gian này đến lợt nó làm cho protein có
một chức năng riêng biệt. Hàm lợng protein trong sữa thay đổi từ 3%- 4% (3-
4g/100g). Tỷ lệ này thay đổi theo giống bò và theo hàm lợng chất béo trong
sữa.
Có một mối liên quan chặt chẽ giữa chất béo và lợng protein trong sữa:
thông thờng có nhiều chất béo thì có nhiều protein. Các protein chia làm 2
nhánh chính: các casein (80%) và các protein của sữa (20%). Cách phân loại
này đến từ các nhà máy pho mát ở đo ngời ta sản xuất pho mát bằng cách
tách 2 loại protein ra sau khi đã làm vón cục các casein bằng chất rennine
( một men tiêu hoá có trong dạ dày bê).
3
Phản ứng của các loại casein khác nhau dới dạng các xử lý (sức nóng,
độ acid, thêm muối ) đợc dùng khi chế tạo các sản phẩm sữa, sẽ xác định
các đặc trng của chúng. Đôi khi trẻ sơ sinh bị dị ứng với sữa vì cơ thể của
chúng phản ứng với các protein của sữa. Dị ứng gây ra ngứa, hen và những
rối loạn đờng ruột (đau bụng, ỉa chảy) Trong trờng hợp dị ứng, ngời ta có
thể thay thế sữa bò bằng sữa dê hay một thứ sữa chứa một casein đã bị phân
huỷ.

trong nớc từng bớc thay thế sữa nhập khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập cho
nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Đến năm 2005 đạt100 nghìn bò sữa, đáp ứng 20% lợng sữa tiêu dùng
trong nớc, đến năm 2010 đáp ứng trên 40% lợng sữa tiêu dùng. Sau những
năm 2010 đạt 1, 0 triệu tấn sữa.
Điều 2: Phát triển chăn nuôi bò sữa phải gắn với cơ sở chế biến sữa với
vùng chuyên canh tập trung nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đợc tổ
chức chặt chẽ nh: Mía đờng, dứa, cao su, cà phê, chèVà phát triển đồng cỏ
ở nơi có điều kiện về đất đai, lao động, khí hậu phù hợp, đảm bảo môi trờng
sinh thái và vệ sinh môi trờng. Cụ thể là: các tỉnh phía Bắc: Hà Tây, Bắc
Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hoá,
Nghệ An, Sơn La và các huyện ngoại thành Hà Nội.
Các huyện trung du thuộc vùng duyên hải miền Trung: Bình Định,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Phú Yên
Các tỉnh phía Nam: Bình Dơng, Bình Phớc, Đồng Nai, Tây Ninh, Long
An, Cần Thơ, An Giang và các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh
Các tỉnh Tây Nguyên: Lâm Đồng, Đắc Lăk, Gia Lai, Kon Tum
Chăn nuôi bò sữa ở gia đình thông qua việc xây dựng hợp tác xã sản
xuất sữa ở nông thôn thờng đem lại những lợi ích sau:
- Nhà nớc không phải đầu t nhiều vốn nh đối với chăn nuôi tập trung.
Ví dụ đầu t cho những nông trờng chăn nuôi hàng ngàn bò sữa.
- Gia đình sử dụng đợc sức lao động phụ và tận dụng đợc phụ phế
phẩm trong nông nghiệp.
- Động viên đợc các thành phần kinh tế ( còn tồn tại trong thời kỳ quá
độ lên XHCN ) nh kinh tế tập thể trong đó có nòng cốt là HTX, kinh tế cá
thể, tiểu thủ ở nông thôn.
- Chăn nuôi bò sữa tạo ra nhiều sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng trong nớc tiến tới không dùng ngoại tệ để nhập sữa từ nớc ngoài.
5
II. Đặc tính kinh tế kỹ thuật của bò sữa

Đây là kết quả của quá trình lai giữa bò đực Red sindhi của ấn Độ với
các giống bò vàng Việt Nam tạo thành quần thể bò lai Sind với tỷ lệ máu bò
6
Red Sind đợc nhập vào Việt Nam từ những năm 1920-1924 song nó đợc
nhân rộng vào thập kỷ 90. hiện nay đàn bò lai Sind chiếm khoảng 40% trong
tổng đàn bò nội và đợc phân bố hầu hết các tỉnh trong cả nớc. Đa số bò lai
Sind đều khoẻ mạnh có màu lông vàng hoặc đỏ thẫm. Trọng lợng bò lai Sind
con cái 280-320 kg, con đực 400-500 kg. Trọng lợng sơ sinh của bê 20-28
kg, sản lợng sữa bình quân đạt 800-1200kg. Tuổi phối giống lần đầu 15-18
tháng. Bò lai Sind thích nghi tốt với khí hậu nóng ẩm, chịu đựng kham khổ,
ít bệnh tật, chính vì vậy ta đã dùng bò cái lai Sind làm nền để tạo ra giống bò
sữa bằng cách phối với tinh bò đực Holstein Friensian và nhiều giống bò sữa
khác. Từ đó tạo ra giống bò lai dễ nuôi, sinh sản tốt và khả năng cho sữa cao.
- Bò thuần Holstein Friensian (HF):
Là giống bò nổi tiếng nhất thế giới do Hà Lan tạo ra từ thế kỷ thứ 17.
Bò cái có hình dạng đặc trng cho giống bò sữa: Thân hình tam giác, đầu dài,
thanh nhẹ, trán phẳng, sừng thanh và cong. Cổ dài, khoẻ, cự ly chân rộng.
Bầu vú phát triển to, tĩnh mạch vú nổi rõ. Da mỏng, đàn hồi tốt, lông mịn.
Màu sắc lang trắng đen và lang trắng đỏ. Tuổi động dục lần đầu 12-15 tháng.
Khối lợng cơ thể: Con cái 550-750 kg; bê sơ sinh 35-40kg.Sản lợng sữa bình
quân 3800-4200kg ( nuôi tại Việt Nam ) cá biệt có con 8000kg. Tỷ lệ mỡ
thấp, bình quân 3.42.
- Bò lai hớng sữa:
+ Bò sữa F1 ( 1/2 máu HF)
Bò lai F1 là kết quả lai đồi 1 giữa bò đực Holstein Friensian với bò cái
lai Sind. Bò lai F1 chịu đựng tơng đối tốt điều kiện nóng ẩm, ít bệnh tật,
thành thục sinh dục sớm và mắn đẻ. Hầu hết bò lai F1 có màu lông đen, có
con có vết lang trắng rất nhỏ ở dới bụng, bốn chân, khấu đuôi, lng hoặc sớn
hoặc trán.
Động đực lúc 17-18 tháng tuổi, khối lợng cơ thể con cái 380-450kg,

trình đó phải chọn lọc những cá thể có đặc tính tốt để củng cố tính di truyền.
- Nhân tố ngoại cảnh:
Điều kiện ngoại cảnh tốt hay xấu ảnh hởng trực tiếp đến sinh trởng và
phát triển của gia súc.
+ Yếu tố thiên nhiên: bò sữa là loại động vật sống và thích nghi với
điều kiện khí hậu vùng ôn đới mát mẻ. Vì vậy khi chúng sống ở vùng khí hậu
nóng quá làm cho bò mệt mỏi, tiêu phí năng lợng nhiều và khả năng thu
nhập thức ăn giảm, do vậy làm giảm tốc độ phát triển của bò. Khi thời tiết
lạnh ít ảnh hởng đến bò sữa.
+ Yếu tố nuôi dỡng: Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển
của gia súc. Cho gia súc ăn theo khẩu phần, theo giai đoạn khác nhau tuỳ
8
thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển của gia súc. Đố với trâu, bò thức ăn đồng
hoá trực tiếp, ngấm vào mô hoặc các chất lỏng trong cơ thể. Chúng bao gồm
Hydrat cacbon, chất béo, chất đạm, chất khoáng, nớc.
Chế độ vận động thích hợp, chuồng trại sạch sẽ đều thúc đẩy quá trình
sinh trởng của gia súc.
2. Những yếu tố ảnh hởng đến khả năng sinh sản của bò sữa:
- Giống: Tính thành thục sớm, tính mắn đẻ của từng giống có ảnh h-
ởng trực tiếp đến sự sinh sản của đàn. Bò lai Sind tuổi đẻ lứa đầu bình quân
là 35 tháng, khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 417 ngày, bò lang trắng đen
Trung Quốc tuổi đẻ lứa đầu là 33 tháng, khoảng cách giữa hai lứa đẻ là 367-
377 ngày.
Đối với bò sữa lai F1, F2 và F3 tuổi đẻ lứa đầu là 26, 27, 26 tháng.
- Dinh dỡng:
+ Quá trình sinh sản ở con cái bao gồm một loạt hiện tợng sinh lý
phức tạp có thể bị ảnh hởng ở nhiều mức độ khác nhau tới khả năng thụ thai
chung. Mặc dầu nhiều cơ chế làm ảnh hởng tới khả năng sinh sản song dinh
dỡng là một trong những yếu tố quan trọng đầu tiên gây ảnh hởng tới sinh
sản của bò cái. ở Mỹ những ảnh hởng trao đổi chất lên thành tích sinh sản

Trong phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò sữa nói riêng
yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hởng rất lớn tới khả năng sinh sản. Nhiệt độ môi
trờng cao có thể gây nên giảm thấp hiệu quả sinh sản ở cả con đực và con
cái. thể hiện ở chỗ giảm chất lợng tinh dịch ở gia súc đực, còn ở gia súc cái
thì động dục thất thờng, chất lợng của hợp tử giảm, giảm khả năng làm mẹ
của con cái đồng thời tăng những trờng hợp bất thờng khi sinh đẻ
(Medoweell- 1972).
Trong các vùng nóng và khô ở Tây Nam Mỹ việc chống nóng cho bò
khoảng trên 100 giờ trớc khi phối giống tỷ lệ thụ thai tăng lên từ 2% đến 7%

- Bệnh đờng sinh dục:
Bệnh đờng sinh dục ảnh hởng rất lớn đến khả năng sinh sản của bò
sữa. Nếu nh gia súc bị mắc các bệnh đờng sinh dục thì rất khó có khả năng
mang thai. Gia súc bị mắc bệnh sảy thai truyền nhiễm thì khả năng thụ thai
rất khó hoặc một số bệnh khác nh viêm tử cung, viêm âm đạo, u nang buồng
trứngthì quá trình thực hiện việc thụ thai ở gia súc cái rất khó. Quá trình
thụ tinh cho gia súc chỉ có thể thực hiện đợc khi cơ quan sinh dục của gia súc
đã hoàn toàn bình phục có nh vậy mới đảm bảo cho bào thai phát triển bình
thờng khi mang thai.
Sự phối giống:
10
Sự phối giống ảnh hởng lớn đến thành quả chăn nuôi, nó có ý nghĩa
bảo tồn giống, tái sản xuất mở rộng đồng thời nó ảnh hởng trực tiếp đến năng
suất sinh sản do vậy để nâng cao năng suất sinh sản cần phải theo dõi phát
hiện động dục và phối giống đúng kỹ thuật hiện nay đối với bò sữa việc thụ
tinh nhân tạo là biện pháp nhân giống tiên tiến, hiệu quả nhất bên cạnh đó
việc cấy truyền phôi cũng đã đợc sử dụng song cha đợc phổ biến.
Trong quá trình phối giống việc phát hiện theo dõi động dục cha tốt,
phối giống việc phát hiện theo dõi động dục cha tốt, phối giống không đúng
thời điểm, kỹ thuật dẫn tinh không đúng hoặc cha có biện pháp hữu hiệu sử

Trong cùng một giống bò những con có trọng lợng lớn hơn thì khả
năng cho sữa cao hơn.Giống bò Hà Lan có thể trọng trung bình ở đàn cái là
500-600kg, sản lợng sữa trong một chu kỳ là: 3800-4200kg sữa.Giống bò
Jorsey trọng lợng cơ thể bé 300-350kg, sản lợng sữa một chu kỳ bình quân là
3000-3500kg.
- ảnh hởng của môi trờng đến sức sản xuất sữa và phẩm chất sữa:
Sức sản xuất của bò chịu ảnh hởng trực tiếp của điều kiện nhiệt độ,
không khí, độ ẩm, gió, bức xạ mặt trời, áp suất khí quyểnsong sản lợng sữa
không bị ảnh hởng trong phạm vi nhiệt độ không khí từ 5-21
0
C. Nhiệt độ
thấp hơn 5
0
C hoặc cao hơn 21
0
C sản lợng sữa giảm từ từ. Nếu nhiệt độ lên
quá 27
0
C thì khả năng sản xuất sữa sẽ giảm rõ rệt. Tuy nhiên nhiệt độ thích
hợp tối đa và tối thiểu cho sức sản xuất sữa ở mỗi giống bò có khác nhau, sản
lợng sữa của bò Holstein Friensian giảm đi nhanh chóng khi nhiệt độ cao
hơn 21
0
C, ở bò Jersey khoảng 26-27
0
C. Nhiệt độ thích hợp tối thiểu ở bò
Jersey khoảng 2
0
C còn ở bò Holstein Friensian không bị ảnh hởng thậm chí
là 0

1. Quá trình phát triển ngành chăn nuôi bò sữa của nớc ta:
ở Việt Nam, nghề nuôi bò sữa cha phải là nghề chăn nuôi truyền
thống. Song ngành chăn nuôi bò sữa ở nớc ta đợc hình thành khá sớm so với
các nớc trong khu vực. Tuy nhiên so với các nớc Châu âu thì việc chăn nuôi
bò sữa ở nớc ta còn khá mới mẻ. Năm 1923 một số giống bò Châu Âu đợc
nhập vào nớc ta để nuôi lấy sữa nhằm đáp ứng nhu cầu của quân đội Pháp là
chủ yếu.
Với tầm nhìn chiến lợc, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954,
Đảng và nhà nớc ta đã nghĩ đến phát triển bò sữa để có sữa cung cấp cho trẻ
em, ngời già và các bệnh viện. Chăn nuôi bò sữa ban đầu đợc nuôi tập trung
tại các trung tâm giống bò sữa và các nông trờng nh: Mộc Châu (Sơn La), Ba
Vì ( Hà Tây)Hình thức chăn nuôi tập trung này tồn tại đến cuối thập kỷ 80
và đầu những năm 90. Mặc dù trong thời gian này có nhiều hạn chế song đã
đặt nền móng cho việc phát triển chăn nuôi bò sữa nớc ta. Đặc biệt trong
những năm qua ngành chăn nuôi bò sữa ở nớc ta đã có những bớc phát triển
mạnh mẽ cả về số lợng và chất lợng.
2.Diễn biến đàn bò sữa của nớc ta giai đoạn 2000-2004:
Nhằm thúc đẩy chăn nuôi bò sữa phát triển, với nhịp độ cao giải quyết
nhu cầu sữa của nhân dân, trong những năm gần đây Nhà Nớc đã có nhiều
13
chính sách hợp lý hỗ trợ cho ngành chăn nuôi bò sữa do vậy đàn bò sữa trong
cả nớc tăng lên không ngừng.
Giai đoạn 2000-2003 đàn bò sữa của nớc ta tăng trung bình 32,
29%/năm. Năm 2003 tổng đàn bò sữa của cả nớc là 80000 con; tăng 128%
so với năm 2000.Việc tăng đàn bò sữa đã góp phần vào việc tăng sản lợng
sữa trong nớc đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Diễn biến
đàn bò sữa của nớc ta đợc trình bày ở bảng sau:
Bảng 1: Số lợng bò sữa ở Việt Nam giai đoạn 2000-2004

m

phải nhập khẩu.
Trên 93% đàn bò sữa đợc nuôi trong hộ gia đình, quy mô từ 3 đến 10
con. Có một số hộ nuôi trên 30 con. Khu vực quốc doanh đã thực hiện hình
thức khoán về cho các hộ thông qua hợp đồng kinh tế kỹ thuật, nông tr-
ờng chỉ đảm nhận dịch vụ kỹ thuật, thú y và thu mua toàn bộ sản phẩm sữa t-
ơi để chế biến ( Nông trờng Mộc Châu Sơn La, nông trờng Đức Trọng
Lâm Đồng ).
Tại Củ Chi (TPHCM) và Đức Hoà ( Long An ) đã hình thành một số
hợp tác xã ( HTX ) dịch vụ chăn nuôi bò sữa. Các HTX này có từ 50-100 hộ
xã viên chăn nuôi bò sữa, bình quân mỗi hộ nuôi 10 con. HTX hỗ trợ ngời
14
chăn nuôi về các lĩnh vực: Tiêu thụ sản phẩm, bảo lãnh vay vốn, hợp đồng
các nơi có đất để trồng cỏ, tổ chức sản xuất thức ăn, làm đầu mối chuyển
giao khoa học kỹ thuật Đến nay đã có 6 HTX chăn nuôi bò sữa ở Long An,
TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dơng.
Giống bò sữa chủ yếu là bò lai Holstein Friensian với mức độ lai F1
( 50% HF ), F2 ( 75% HF )và F3 ( 87.5% HF ).
Bảng 2: Số lợng bò sữa của các tỉnh trên cả nớc đợc thể hiện ở bảng
sau:
T
T
Tên địa phơng Tí
nh đến
tháng
11/2001
(con)
Tín
h đến
tháng
11/2002

298
8
48
89
46
89
3 Vĩnh Phúc 23
0
690 12
31
70
0
4 Bắc Ninh 27
7
452 89
7
60
0
5 Sơn La 25
53
270
0
35
00
-
6 Hoà Bình 60 125 35
6
31
0
7 Tuyên Quang - 722 15

miềnTrung
13
2
934 23
14
35
00
1 Khánh Hoà 89 89 27
8
-
2 Bình Định - 800 17
82
35
00
3 Đà nẵng 43 45 25
4
-
C Tây Nguyên 80
4
122
4
26
58
57
2
D Các tỉnh miền
Nam
34
135
411

50
4 Long An 14
25
208
0
29
87
75
9
5 Tây Ninh 21
2
385 95
7
30
0
6 Cần Thơ 95 369 78
3
10
0
7 An Giang 12
9
508 12
45
82
9
8 Bà Rịa
Vũng Tàu
42 51 23
3
25

Bạc Liêu - 12 92 -
A
+B+C+
D
Tổng đàn bò
sữa cả nớc
41
241
543
45
89
699
19
298
3. Những thuận lợi và khó khăn ảnh hỏng đến sự phát triển của
đàn bò sữa:
Thực tế phát triển đàn bò sữa của nớc ta trong thời gian qua là đáng
khích lệ, nhng vẫn còn bất cập trớc yêu cầu của giai đoạn tới. Bên cạnh một
số thuận lợi, công tác chăn nuôi, quản ký bò sữa còn nhiều khó khăn và tồn
tại cần đợc từng bớc khắc phục, nhằm phát triển tốt hơn và có hiệu quả hơn
nguồn nguyên liệu thay thế nhập khẩu cho công nghiệp Sữa Việt Nam.
* Một số thuận lợi:
- Nhu cầu tiêu dùng sữa và các sản phẩm từ sữa của nhân dân ta đang
tăng nhanh. Hiện nay, nguyên liệu sữa tơi trong nớc mới đáp ứng đợc khoảng
13%, còn lại nhập khẩu. Thị trờng nội địa là khá lớn, đặc khi bình quân thu
nhập theo đầu ngời và dân số Việt Nam sẽ tăng lên ( đến 2010 có khoảng
hơn 90 triệu dân, GDP bình quân đầu ngời khoảng 800 USD).
- Mô hình chăn nuôi hộ gia đình, trang trại t nhân đã khẳng định là có
hiệu quả.
- Các tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam: Tiến bộ

đầu t, thiếu kiến thức và kỹ năng nuôi bò sữa. Trình độ, kinh nghiệm của ng-
ời chăn nuôi còn hạn chế ( các nớc tiên tiến có truyền thống lẫn kinh nghiệm
chăn nuôi bò sữa trên 100 năm).
- Công tác lai tạo quản lý giống, quản lý tinh giống và gieo tinh nhân
tạo cha đợc thực hiện một cách khoa học và có kiểm soát, việc theo dõi ghi
chép các số liệu kỹ thuật tại nông hộ cha đợc quan tâm. Việc điều phối để đ-
ợc thực hiện thống nhất theo một chơng trình cha đợc thực hiện. Đây chính
là một trong các nguyên nhân làm phẩm chất giống đàn bò sữa của Việt Nam
giảm sút.
- Giá thức ăn cho bò sữa tăng ( đặc biệt là các loại thức ăn thô xanh ),
giá nhân công lao động tăng. Quá trình đô thị hoá phát triển, vấn đề ô nhiễm
môi trờng do chăn nuôi bò sữa, đã tác động trực tiếp, hạn chế khả năng phát
triển của nghề chăn nuôi bò sữa.
18
Việc nhập bò sữa tràn lan, thiếu sự chỉ đạo, kiểm soát về giống, giá,
khi nhập đã ảnh hởng tới chất lợng sữa, năng suất sữa tơi; tình trạng đội giá
bán bò cho nông dân cũng đã hạn chế hiệu quả từ chăn nuôi bò.
Các yếu tố trên đã gây khó khăn cho công tác phát triển đàn bò sữa,
ảnh hởng đến hiệu quả kinh tế của nghề nuôi bò sữa ở Việt Nam.
Phần II: Thực trạng chăn nuôi bò sữa của tỉnh Hà
Tây
I. Đặc điểm tự nhiên kinh tế xã hội của tỉnh Hà
Tây ảnh hởng đến chăn nuôi bò sữa.
1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Hà Tây có toạ độ địa lý 20, 31
o
21, 17
o
vĩ bắc và 105, 17

2
. Hà Tây là tỉnh đông dân thứ 7
trong cả nớc, sau TP Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Hng, Hà Nam,
Hà Bắc, với 93% dân số ở nông thôn, chỉ 7% dân số ở thành thị. Lao động 1,
1 triệu ngời, trong đó có 80% lao động nông nghiệp, tốc độ tăng hàng năm là
2%. Lao động nông nghiệp có trình độ văn hoá khá ( 21% có trình độ cấp III,
62% cấp II, 14% cấp I ).
Thêm vào đó là sự lao động cần cù sáng tạo của nhân dân, ý thức tự
lực vơn lên, có nhận thức đúng về sự đổi mới, năng động sáng tạo trong sản
xuất kinh doanh, đã đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển chung
của Hà Tây và cả nớc.
Từ những số liệu và nhận định trên, với dân số tập trung ở nông thôn
là lớn, trình độ dân trí khá thuận lợi cho việc áp dụng các kỹ thuật chăn nuôi
20
bò sữa, đồng thời phát triển chăn nuôi bò sữa giải quyết tốt vấn đề lao động
và nguồn lực tại chỗ cho tỉnh Hà Tây.
II. Thực trạng chăn nuôi bò sữa ở tỉnh Hà Tây
1. Giới thiệu về Trung tâm quản lý dự án phát triển chăn nuôi bò
sữa tỉnh Hà Tây
Hà Tây là tỉnh có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai, lao động, kỹ
thuật và thị trờngđể phát triển chăn nuôi bò sữa. Nhằm nhanh chóng phát
triển chăn nuôi bò sữa trong tỉnh, tăng thu nhập cho ngời nông dân cũng nh
tạo thêm việc làm và thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông
nghiệp. Ngày 21/12/2001, ủy ban nhân dân tỉnh đã ra quyết định số: 924-
QĐ/UB thành lập Trung tâm PTCN bò sữa tỉnh Hà Tây nay đổi thành
Trung tâm phát triển chăn nuôi bò sữa tỉnh Hà Tây
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm:
* Chức năng:
Trung tâm quản lý dự án PTCN bò sữa tỉnh Hà Tây là đơn vị trực
thuộc sở Nông nghiệp & PTNT, có con dấu và tài khoản riêng để hoạt động.

cán bộ tổ chức lao động tiền lơng và hành chính;
+ Có 04 cán bộ hợp đồng trong biên chế gồm: 01 văn th, thủ quỹ tạp
vụ; 01 lái xe con; 01 lái xe tải; 01 bảo vệ. Nhiệm vụ:
+Thực hiện công tác kế toán tài vụ theo quy định của Pháp luật.
+ Thực hiện công tác quản lý về tổ chức cán bộ, lao động tiền lơng, hồ
sơ cán bộ CNV trong cơ quan.
+ Thực hiện công tác hành chính, văn th, lu trữ tài liệu, giữ gìn tài sản,
an ninh trong cơ quan.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác nh: khen thởng, kỷ luật, an toàn lao
động.
Phòng có trởng phòng và 01 phó phòng đều trực tiếp đảm nhiệm các
công việc chính của phòng.
- Phòng kỹ thuật:
Biên chế 05 ngời gồm: 01 cán bộ làm công tác quản lý và lai tạo giống
bò sữa; 01 cán bộ làm công tác thú y, chuồng trại, vệ sinh môi trờng; 01 cán
bộ về hệ thống chăn nuôi và xây dựng hợp tác xã chăn nuôi bò sữa. Phòng có
trởng phòng và 01 phó phòng giúp việc trởng phòng. Nhiệm vụ:
+ Tham mu xây dựng kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa hàng năm
cho đơn vị và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa hàng
tháng, quý, năm trên địa bàn tỉnh.
22
+ Tổng hợp đánh giá các số liệu về số lợng, chất lợng đàn bò sữa hàng
tháng, quý, năm để lãnh đạo Trung tâm báo cáo các ngành, các cấp và
UBND tỉnh.
+ Tổ chức công tác quản lý giống bò sữa, tập huấn, đào tạo và chuyển
giao các tiến bộ kỹ thuật, các tổ chức và ngời chăn nuôi bò sữa trong tỉnh.
+ Tham mu xây dựng các dự án, đề án phát triển chăn nuôi bò sữa cho
các địa phơng, đơn vị và cá nhân.
- Đơn vị trực thuộc trung tâm:
Trạm dịch vụ kỹ thuật bò sữa: Gồm 55 cán bộ, trong đó: Biên chế tại

* Trớc năm 1997:
Từ trớc năm 1997, đàn bò sữa chỉ đợc nuôi tập trung ở Trung tâm
nghiên cứu bò, đồng cỏ Ba Vì và một số hộ ở Hà Đông, Hoài Đức, Đan Ph-
ợng, quy mô chăn nuôi nhỏ, phân tán ( mỗi hộ nuôi 1- 2 con).
* Từ năm 1998 2000:
- Từ năm 1998 2000 đợc sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp & phát
triển nông thôn, của tỉnh uỷ, UBND tỉnh, của Công ty sữa Nestle thông qua
các chơng trình chăn nuôi bò sữa khép kín từ xây dựng vùng nguyên liệu đến
thu mua chế biến ở Ba Vì và các chơng trình khuyến nông nên tốc độ tăng tr-
ởng của đàn bò sữa Hà Tây từ 1998 2000 đạt kết quả cao. Cụ thể:
Bảng 3: Kết quả chăn nuôi bò sữa giai đoạn 1998-2001:

m
Số lợng đàn bò sữa ( con ) Sản lợng sữa
Tổng
số đàn bò
sữa
B
ò vắt
sữa
Tốc
độ tăng đàn
hàng năm
Sản l-
ợng sữa
( tấn )
Tốc
độ tăng tr-
ởng (%)
199

của Công ty sữa Nestle ở Ba Vì thu mua 100% với giá bình quân 2.600đ/kg
3000đ/kg.
2.2. Tổ chức chăn nuôi bò sữa:
- Bò sữa hiện nay chủ yếu đợc nuôi ở khu vực hộ gia đình. Trung tâm
nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì có 260 300 con đợc giao khoán cho hộ
chăn nuôi. Trung tâm là nhiệm vụ nghiên cứu lai tạo giống bò sữa, chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi bò sữa, nghiên cứu sản xuất thức ăn cho bò
sữa.
- Đàn bò sữa nuôi ở hộ nông dân có quy mô nhỏ 2 3 con/ hộ với số
hộ chăn nuôi bò sữa là 220 hộ. Có một số hộ nuôi số lợng lớn từ 15 30
con.
- Công ty sữa Nestle có nhà máy chế biến sữa tại huyện Ba Vì, công
suất hiện nay khoảng 3 tấn/ ngày. Công ty Nestle đã quan tâm đầu t, tổ chức
hệ thống thu mua bò sữa tới tận các vùng chăn nuôi, tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất ở nông hộ và nâng cao chất lợng sản phẩm, tổ chức mô hình
chăn nuôi thu mua, chế biến khép kín, tổ chức các hoạt động khuyến
nông, dịch vụ kỹ thuật, đào tạo tập huấn cho nông hộ, hỗ trợ các hoạt động,
hỗ trợ vốn cho nông dân vay vốn mua phát triển bò sữa không tính lãi suất,
v.v tạo tiền đề vững chắc hình thành vùng chăn nuôi bò sữa lớn ở các huyện
thị phía bắc tỉnh.
2.3. Những tồn tại và hạn chế:
- Nhà nớc cha có các chính sách cụ thể khuyến khích phát triển sản
xuất chăn nuôi bò sữa trong nông hộ. Hộ nuôi bò sữa cha đợc u đãi thuê đất
trồng cỏ, hỗ trợ về lãi suất tín dụng vay mua bò sữa, hỗ trợ lai tạo giống bò
sữa, bảo hiểm rủi ro v.v.
- Hệ thống dịch vụ kỹ thuật chăn nuôi bò sữa ở các địa phơng, cơ sở
còn yếu và thiếu cả về cán bộ và phơng tiện thiết bị đặc biệt là dịch vụ nhân
giống và thú y.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status