Quỹ nghiên cứu ICARD – MISPA
TOR số MISPA/2003/06
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Khả năng cạnh tranh
của các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập AFTA
Nhóm nghiên cứu
Th.s Phạm Anh Tuấn
TS. Nguyễn Đỗ Anh Tuấn
Th.s Nguyễn Thị Kim Dung
Hà Nội, tháng 8 năm 2005
MỤC LỤC
vii
CHƯƠNG 5.GIỚI THIỆU CHUNG 1
5.1.Đặt vấn đề 1
5.1.1.Mục tiêu nghiên cứu 3
5.1.2.Giả thuyết nghiên cứu 3
5.1.3.Các câu hỏi nghiên cứu 4
5.1.4.Cơ cấu đề tài 4
CHƯƠNG 6. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP 5
6.1.Lý thuyết kinh tế về hội nhập quốc tế và hội nhập vùng 5
6.2.Các vấn đề về thương mại nông sản quốc tế 8
6.2.1. Sản xuất và xuất nhập khẩu hàng nông sản toàn cầu 8
6.2.2.Xu hướng bảo hộ hàng nông sản trong thương mại quốc tế và lợi ích của tự do
hoá thương mại 9
6.2.3. Thương mại hàng nông sản và hội nhập vùng 11
6.3.Các chỉ số về bảo hộ và cạnh tranh 12
6.3.1. Các chỉ số đánh giá bảo hộ 12
6.3.2.Các chỉ số đánh giá lợi thế so sánh 13
6.3.3. Một số các chỉ số khác 14
6.4.Mô hình 14
8.4.1.Tình hình sản xuất 62
8.4.2.Tình hình thị trường 65
8.5.Tiêu 67
8.5.1.Tình hình sản xuất 67
8.5.2.Tình hình thị trường 69
8.6.Chè 70
8.6.1.Tình hình sản xuất 70
8.6.2.Tình hình thị trường 71
8.7.Chính sách nông nghiệp các nước trong khu vực 72
8.7.1.Indonesia 72
8.7.2.Thai land 75
8.7.3.Malaysia 79
8.7.4.Philipines 81
8.8.Kết luận 84
CHƯƠNG 9.ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH MỘT SỐ SẢN PHẨM NÔNG
SẢN VIỆT NAM 86
9.1.Lúa gạo 86
9.1.1.Tình hình sản xuất và xuất khẩu 86
9.1.2.Các kênh tiêu thụ và phân phối lúa gạo 89
9.1.3.Đánh giá khả năng cạnh tranh 90
9.1.4.Phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức) 95
9.2.Sản phẩm chăn nuôi 96
9.2.1.Xu hướng phát triển chăn nuôi trong những năm qua 96
9.2.2.Đánh giá khả năng cạnh tranh sản phẩm chăn nuôi 102
9.2.3.Phân tích SWOT 113
9.3. Chè 114
9.3.1. Sản lượng chè Việt Nam 114
9.3.2.Xuất khẩu 115
9.3.3.Thị trường 117
9.3.4.Đánh giá lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh 119
Bảng 4.2. Hạn ngạch nhập khẩu gạo của Thái Lan 1995-2000 (tấn) 76
Bảng 5.1. Hệ số bảo hộ danh nghĩa 92
Bảng 5.2. Hệ số nguồn lực nội địa (DRC) 93
Bảng 5.3. So sánh chi phí công tác tiếp vận tại cảng Sài gòn và Cần thơ (USD/tấn) 95
Bảng 5.4. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của giá trị nông nghiệp bình quân 96
Bảng 5.5. Phân bổ trang trại chăn nuôi lợn và gia cầm ở Việt Nam, 2001 99
Bảng 5.6. Quy mô chăn nuôi lợn của hộ nông thôn năm 1994 -2001 100
Bảng 5.7. Sản lượng thịt hơi ở Việt Nam (1990-2002) 103
Bảng 5.8. Chi phí sản xuất 1 giỏ trứng 18 kg (USD) 103
Bảng 5.9. Chi phí sản xuất gà con, gà thịt và thức ăn một số nước, năm 2002 (USD/kg)
104
Bảng 5.10. Chi phí sản xuất chăn nuôi lợn 106
Bảng 5.11. Chi phí chăn nuôi gà năm 2004 106
Bảng 5.12. Hệ số ước lượng phương trình lợi nhuận theo quy mô 107
Bảng 5.13. Tỷ lệ thịt nạc và thịt xô của một số loại theo vùng (%) 108
Bảng 5.14. Tỉ lệ chết bệnh của một số gia súc gia cầm (%) 109
Bảng 5.15. Tổn thất toàn quốc do gia súc chết 109
Bảng 5.16. Chi phí đầu tư và sản xuất tiêu 127
Bảng 5.17. Thị trường xuất khẩu tiêu Việt Nam năm 2004 131
Bảng 5.18. Chi phí chế biến 1 tấn dứa khúc 20.0Z trong nước dứa năm 2003 149
CHƯƠNG 2.
iv
Danh sách các hình
Hình 3.1. Tốc Độ Tăng Trưởng GDP của nền kinh tế và nông nghiệp hàng năm (%/năm)
22
Hình 3.2. Tỷ trọng thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam năm 2003 (%) 26
Hình 3.3. Một số số liệu về thương mại của ASEAN 31
Hình 3.4. Kim ngạch xuất khẩu nông sản và kim ngạch xuất khẩu nông sản của 1 người
dân nông thôn của một số nước Đông Nam Á năm 2002 32
Hình 3.5. Tỷ trọng thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam (%) 33
Hình 5.3. Chi phí sản xuất lúa của một số nước 92
Hình 5.4. DRC của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu 93
Hình 5.5. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về đầu con 96
Hình 5.6. Số lượng các trang trại thương mại trong cả nước 98
Hình 5.7. Lượng thịt tiêu thụ bình quân (kg hơi/năm) 101
Hình 5.8. Mức tiêu thụ thịt (kg/người/năm 2002) 102
v
Hình 5.9. Giá ngô của Việt Nam và thế giới 1998-2003(USD/tấn) 104
Hình 5.10. Giá đậu tương của Việt Nam và thế giới 1998-2003 (USD/tấn) 105
Hình 5.11. Lượng xuất khẩu thịt lợn của Việt Nam (1995-2004) 110
Hình 5.12. Hệ số Chi phí nguồn lực nội địa 112
Hình 5.13. Sản lượng và diện tích chè của Việt Nam từ 1990-2003 115
Hình 5.14. Sản lượng và khối lượng chè xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn từ 1990-2003
(tấn chè khô) 116
Hình 5.15. Tỷ trọng xuất khẩu của từng loại chè của Việt Nam 117
Hình 5.16. Nước nhập khẩu chè Việt Nam 1999-2003 118
Hình 5.17. Tỷ lệ xuất khẩu theo loại hình sở hữu công ty 2004 119
Hình 5.18. Thị trường xuất khầu chè thế giới (%) 120
Hình 5.19. Tỷ trọng nhập khẩu chè của một số nước 2000-2002 120
Hình 5.20. Giá chè xuất khẩu của Việt Nam và giá thế giới 1990-2003 (USD/tấn) 121
Hình 5.21. Giá trị đơn vị của các nước xuất khẩu chè lớn 2002 (USD/tấn) 122
Hình 5.22: Tỷ trọng trong tổng giá trị gai tăng chè bán tại các siêu thị nước ngoài 123
Hình 5.23. Chi phí nguồn lực nội địa của chè Việt Nam 1995-2004 124
Hình 5.24. Xu hướng phát triển tiêu của Việt Nam 126
Hình 5.25. Kênh tiêu thụ hồ tiêu của Việt Nam 128
Hình 5.26. Lượng và kim ngạch xuất khẩu tiêu của Việt Nam 1992-2004 129
Hình 5.27. Thị trường XK tiêu VN, 2003 130
Hình 5.28. Thị trường XK tiêu VN, 2004 130
Hình 5.29 Thị trường xuất khẩu tiêu Việt Nam , 1996-2002 131
Hình 5.30. Tỷ lệ xuất khẩu tiêu Việt Nam trên tổng thế giới (% giá trị) 132
Nhiều nông lâm sản Việt Nam đã đạt sản lượng xuất khẩu lớn nhất nhì thế giới. Tuy
nhiên, sản lượng càng tăng thì giá xuất khẩu càng giảm, điển hình là trường hợp cà phê,
đường, hạt tiêu trong những năm 1998-2002. Thu nhập từ sản xuất nông sản xuất khẩu do
đó cũng giảm theo. Trước tình hình đó, việc tìm hiểu thị hiếu thị trường, mở rộng thị
trường tiêu thụ đặc biệt là những thị trường mang lại giá trị cao là hết sức quan trọng đối
với nông nghiệp Việt Nam.
Gia nhập ASEAN mở ra những thị trường xuất khẩu tiềm năng cho hàng nông sản Việt
Nam. Ngoài tiếp cận thị trường tương đối lớn của các nước ASEAN (420 triệu dân, tổng
thu nhập 714 tỷ USD, không kể Việt Nam) thông qua khu vực mậu dịch tự do AFTA,
Việt Nam còn có thể vươn ra các thị trường lớn như Trung Quốc khi khu vực mậu dịch tự
do ASEAN-China FTA, và có thể thị trường Hàn Quốc nếu khu vực mậu dịch tự do
ASEAN-Hàn quốc được hình thành (ASEAN secretary, 1999).
Tiến trình hội nhập AFTA đối với các thành viên ASEAN cũ (Singapore, Malaysia,
Indonesia, Thailand, Brunei, Phillipines) đã được hoàn thành vào năm 2002. Hầu hết
hàng hoá giao thương giữa 4 nước này đã được giảm thuế nhập khẩu xuống không quá
5% và các rào cản phi thuế quan, các hạn chế định lượng đã được dỡ bỏ, chỉ còn lại một
số mặt hàng thuộc diện hàng hoá nhạy cảm sẽ được giảm thuế nốt vào năm 2010. Việt
Nam là thành viên mới, cũng thực hiện tiến trình giảm thuế theo khung CEPT mà các
thành viên cũ đã áp dụng, nhưng hạn hoàn thành được kéo dài đến 2006 đối với hầu hết
hàng hoá và 2013 đối với hàng hoá nhạy cảm. Hạn hoàn thành AFTA đối với các thành
viên mới còn lại (Myanmar, Lào, Cam pu chia) dài hơn Việt Nam 2-4 năm. Thêm vào đó,
chương trình mậu dịch tự do ASEAN-China sẽ được áp dụng vào năm 2010. Như vậy,
phần cơ bản của khối mậu dịch tự do AFTA giữa các nước ASEAN cũ đã hoàn thành
xong và phần mở rộng đối với các nước mới và Trung quốc cũng sẽ được hoàn thành
trong thời gian rất gần. Chính vì vậy, việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các nông
sản chính của Việt Nam trong việc giữ vững thị trường nội địa và mở rộng thị trường
xuất khẩu sang các nước thành viên AFTA là rất quan trọng cho sự phát triển của nền
nông nghiệp sản xuất hàng hoá của Việt Nam.
Cho đến nay, đã có tương đối nhiều nghiên cứu về vấn đề hội nhập của Việt Nam vào
ASEAN (Fukase and Martin, 1999; ISGMARD, 2002; ISGMARD, 2002b; McCarty,
suất dưới 150 nghìn tấn/năm sẽ phải đóng cửa và lượng cung trong nước sẽ giảm xuống
35% so với năm 1999-2000. Tuy nhiên, số liệu được sử dụng là số liệu điều tra nông hộ
thuần tuý nên chỉ số cạnh tranh (NRC) của nghiên cứu này không phản ánh đúng chỉ số
cạnh tranh của toàn ngành hàng Việt Nam (các yếu kém về chế biến, lưu trữ, buôn bán
trong nước và xuất khẩu không được xem xét, chỉ xem xét ở nông hộ với giá lao động rẻ
nên chỉ số thiên lệch).
Nghiên cứu ISGMARD, 2002a. Evaluation of potential impacts on Vietnam’s agriculture
during implementing Common effective preferential tariff program (CEPT) under
Agreement on Asean Free Trade Area (AFTA) (Đánh giá các tác động tiềm năng đến
ngành nông nghiệp Việt Nam trong quá trình áp dụng CEPT, AFTA) đã mô tả khái quát
quá trình hội nhập AFTA đối với các ngành hàng nông nghiệp Việt Nam và sắp xếp thứ
tự về khả năng cạnh tranh của các nước trong khu vực. Tuy nhiên, sự sắp xếp này dựa
trên một số chỉ tiêu đơn giản và chưa đề cập đến những thay đổi về tiềm năng và khả
năng phát triển, hạn chế khi gia nhập AFTA.
Như vậy, tuy hội nhập AFTA đang được tiến hành ngày càng rộng và thời điểm Việt
Nam hội nhập hoàn toàn vào AFTA đã đến gần, nhưng cho đến nay, chưa có một nghiên
cứu nào đánh giá tổng thể khả năng cạnh tranh của 5 mặt hàng nông sản Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập AFTA và ACFTA và tìm ra những bước đi cụ thể nhằm mở rộng các
2
thị trường tiềm năng cho hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam và nâng cao cạnh tranh trên
thị trường nội địa. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu đề tài “Khả năng cạnh tranh của
các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập AFTA” là hết sức
cần thiết.
5.1.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá khả năng cạnh tranh của 5 mặt hàng nông sản chính của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập AFTA (gạo, hạt tiêu, chè, dứa, chăn nuôi), từ đó góp phần hỗ trợ cho công
tác xây dựng và điều chỉnh chính sách ngắn hạn và dài hạn nhằm tăng cường khả năng
cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu của các mặt hàng nông lâm sản này vào các thị trường
khu vực ASEAN, Trung Quốc và giữ thị trường nội địa.
cạnh tranh của nông sản Việt Nam so với các đối thủ trên thị trường nội địa và thị
trường xuất khẩu?
4. Liệu Việt Nam có thể tăng xuất khẩu nông sản của Việt Nam khi gia nhập AFTA
hay không?
5. Việt Nam có khả năng phát triển sản xuất nông sản thay thế nhập khẩu khi ra nhập
AFTA hay không?
5.1.4. Cơ cấu đề tài
Báo cáo nghiên cứu bao gồm các chương sau:
Chương I. Giới thiệu chung
Chương II. Tổng quan lý luận và phương pháp
Chương III. Tổng quan nông nghiệp việt nam trong bối cảnh hội nhập AFTA
Chương IV Tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản của các nước trong khu vực
Chương V. Đánh giá khả năng cạnh tranh của 5 mặt hàng nông sản Việt Nam.
Chương VI. Ảnh hưởng gia nhập AFTA đối với ngành hàng nông sản Việt Nam
Chương VII. Kết luận và kiến nghị chính sách
4
CHƯƠNG 6. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Chương này hướng tới các mục tiêu sau:
1. Tổng quan lý luận về vai trò của hội nhập kinh tế vùng và mối liên hệ của nó đối
với hội nhập kinh tế đa phương.
2. Đặc điểm của thương mại nông sản quốc tế, các vấn đề cần quan tâm đối với
hàng nông sản khi tham gia hội nhập quốc tế.
3. Các khái niệm và chỉ số đ
á
nh giá khả năng cạnh tranh theo ngành hàng
4. Mô hình cân bằng không gian đơn giản cho các mặt hàng khi tham gia hội nhập
quốc tế
5. Phương pháp thu thập số liệu
6.1. Lý thuyết kinh tế về hội nhập quốc tế và hội nhập vùng
thương mại cho cả các nước trong và ngoài khối kinh tế vùng.
Sự “chệch hướng thương mại” xảy ra khi thương mại giữa các nước thành viên trong
khối tăng lên do thuế quan ưu đãi và thay thế cho các hàng nhập khẩu ngoài khối có giá
thành rẻ hơn. “Chệch hướng thương mại” không chỉ gây tổn thất cho các nước trong
khối do phải trả giá hàng nhập khẩu cao hơn mà còn gây tổn thất cho các nước ngoài
khối do không xuất khẩu được hàng hoá hoặc bị bắt buộc phải giảm giá xuất khẩu của họ
để cạnh tranh.
Bhagwati và Panagariya (1996) và Panagariya (1998, 1996) lập luận rằng RTA dường
như sẽ làm giảm phúc lợi của các nước thành viên và cản trở tự do hoá thương mại đa
phương. Do RTA tạo ra các ưu đãi đặc biệt cho các nước thành viên nên nó sẽ chuyển
hướng thương mại từ các nước ngoàI khối có chí phí cung cấp thấp nhất. Việc chuyển
hướng thương mại này dường như sẽ lấn át việc tạo ra thương mại, vì thế RTA sẽ làm
giảm phúc lợi của các nước thành viên. Để chứng minh điêù này họ sử dụng mô hình
Viner về khối kinh tế trong đó 2 nước loại bỏ các hàng rào thương mại song phương.
Nếu các nước còn lại là nhà cung cấp có chi phí rẻ nhất và có chi phí không đổi, RTA
với các nhà cung cấp có chí phí tăng sẽ chỉ có thể làm chệch hướng thương mại. Nước
thực hiện tự do hoá sẽ bị thiệt do họ đã bỏ đi khoản thuế thu được từ hàng nhập khẩu của
đối tác mới trong khi không đạt được giá nội địa thấp hơn đối với các hàng nhập khẩu
bởi phần còn lại của thế giới mới là người đặt giá. Trong khung phân tích này, nếu đối
tác thương mại chiếm tỷ lệ càng lớn trong hàng nhập khẩu thì sự mất mát doanh thu thuế
càng lớn khi RTA được thành lập. Tương tự, đối với đối tác thương mại mà có mức
thuế ban đầu cao thì họ cũng bị thiệt từ việc thiết lập RTA bởi vì doanh thu thuế bị phân
phối lại cho người khác sẽ nhiều hơn.
Ngược lại nếu các đối tác trong RTA là các nhà cung cấp có chi phí ổn định thì việc thiết
lập RTA sẽ cải thiện phúc lợi của các nước tự do hoá thương mại theo khối. Điều này đạt
được từ việc giảm giá mà vẫn thu được thuế nhập khẩu của hàng nhập khẩu của các
nước ngoài khối. Tuy nhiên, Panagariya (1996) lập luận rằng phần lớn các trường hợp
các nước ngoài khối có chi phí cung ổn định trong khi đó các nước trong khối thường có
chi phí cung tăng lên. Trong khi có sự “tạo ra thương mại” trong một số mặt hàng thì
phần lớn các hàng hoá khác sẽ được nhập khẩu từ các nước thành viên có chi hpí cung
tranh không hoàn hảo, chuyển giao công nghệ, ngoại ứng thương mại và các ảnh hưởng
động khác như quan hệ giữa tự do hoá thương mại, tăng trưởng năng suất tổng hợp của
các đầu vào và tích tụ vốn. Các nghiên cứu thực chứng về RTA tính tới các yếu tố mới
trong lý thuyết thương mại mới đều tìm ra rằng sự “tạo ra thương mại” lấn át mạnh mẽ
sự “chệch hướng thương mại”, và dường như không có một sự “chệch hướng thương
mại” nào cả vì sự tăng trưởng của các thành viên trong khối giúp mở rộng thương mại kể
cả giữa các nước trong khối và giữa các nước trong khối với phần còn lại của thế giới.
Một trong các hiện tượng điển hình cho việc thành lập RTA là sự tăng lên mạnh mẽ của
thương mại trong cùng ngành, đặc biệt là các hàng hoá trung gian. Đây chính là yếu tố
chính để “tạo ra thương mại”. Nguyên nhân tiềm ẩn không thể giải thích bằng khung lý
thuyết của Ricardo theo đó thương mại chủ yếu diễn ra giữa các nước có cấu trúc nguồn
7
lực khác nhau. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng sự tăng lên của thương mại trong từng
ngành là do RTA đưa ra các thị trường mở rộng ổn định và cho phép các hãng đạt được
tính kinh tế thông qua chuyên môn hoá tốt hơn – quan điểm lý thuyết đưa ra bởi Adam
Smith.
Khi các nước tăng cường thương mại do có các cấu trúc nguồn lực khác nhau theo kiểu
Ricardo và lập ra các RTA tạo điều kiện có các thị trường ổn định và liên kết, thì nó
cũng tạo ra các kích thích cho những người sản xuất tận dụng các lợi ích theo kiểu của
Smith. Nếu như vậy, thì sẽ là quá thiển cận nếu dùng khung phân tích về “tạo ra thương
mại’ và chệch hướng thương mại” của Viner-Meade để đánh giá ảnh hưởng phúc lợi
của RTA bởi vì mô hình kiểu này bỏ qua các lợi ích kiểu Adam Smith.
Trong một vài hiệp định thương mại vùng, đã có bằng chứng cho thấy có sự tăng lên
đáng kể thương mại trong từng ngành. Đồng thời, phần lớn tăng trưởng thương mại thế
giới là do thương mại giữa các nước đã phát triển chứ không phải do thương mại giữa
các nước đã phát triển và đang phát triển. Trong các mô hình tân cổ điển thì người ta cho
rằng sẽ có nhiều thương mại giữa các nước có cấu trúc đầu vào khác nhau, nhưng thực tế
trên đây lại cho thấy phần lớn sự “tạo ra thương mại” lại xuất hiện đối với các nước có
điều kiện giống nhau. Vì thế cần nhớ rằng, sự khác biệt về các yếu tố sản xuất không
phải là nhân tố chủ yếu cho tăng trưởng thương mại khi thiết lập các hiệp định thương
phẩm chính trong xuất khẩu nông nghiệp của các nước đang phát triển: rau quả, cây hạt
dầu và cà phê - chè – ca cao; chiếm tới hơn một nửa tổng xuất khẩu nông nghiệp của các
nước đang phát triển. Các sản phẩm ngũ cốc, đường, mật, thịt chiếm 20% tổng xuất khẩu
nông nghiệp của các nước đang phát triển. Trong giai đoạn 1961-65 đến 1996-99, rau
quả và cây hạt dầu là các mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh nhất của các nước đang phát
triển trong khi đó vai trò của cà phê - chè – ca cao giảm dần. Mặc dù xuất khẩu ngũ cốc
chiếm dưới 10% tổng xuất khẩu, các nước đang phát triển (theo cả nhóm) lại là những
nước nhập khẩu ròng ngũ cốc.
Rau quả và cây hạt dầu chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong tổng xuất khẩu nông
nghiệp của các nước đang phát triển châu á (trừ Trung Quốc) mặc dù khu vực này vẫn
nhập khẩu ròng các cây hạt dầu. Mặc dù tỷ lệ xuất khẩu của cà phê - chè – ca cao giảm
dần nhưng các nước đang phát triển châu á vẫn là các nước xuất khẩu ròng các sản phẩm
này. Xuất khẩu nông nghiệp của các nước châu á chủ yếu hướng tới các nước đã phát
triển trong khu vực như Nhật Bản và Hàn Quốc và nhập khẩu chủ yếu từ EU, Bắc Mỹ và
các nước châu á khác.
Châu á là khu vực nhập khẩu ròng các sản phẩm nông nghiệp và thặng dư thương mại
của các mặt hàng cà phê, ca cao, rau quả không đủ để bù đắp cho thâm hụt thương mại
trong các sản phẩm nông nghiệp khác như ngũ cốc và sản phẩm sữa.
6.2.2. Xu hướng bảo hộ hàng nông sản trong thương mại quốc tế và lợi ích của tự
do hoá thương mại
Ingco và Nash (2004) đã ghi nhận rằng trong vòng hơn 30 năm (1970-2000) thương mại
quốc tế là dẫn dắt tăng trưởng toàn cầu trên khắp các khu vực. Tổng thương mại hàng
hoá đã tăng lên gấp 18 lần kể từ khi GATT được ký kết vào năm 1947 và phần lớn do
9
tác động của tự do hoá thương mại. Mặc dù thương mại nông sản đã tăng lên về số tuyệt
đối nhưng vai trò của nó trong tổng thương mại thế giới giảm dần trong thế kỷ trước.
Nói chung đã có một số tiến bộ trong các chính sách cải tổ thương mại nông sản toàn cầu
nhưng các thành quả còn mong manh và không đưa ra được các hỗ trợ về mặt kỹ thuật
và tự do hoá mà các nước đang phát triển hy vọng từ vòng đàm phán Urugoay (mất
động lực). Tổng kết kinh nghiệm thực hiện Hiệp định thương mại nông nghiệp của vòng
mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng thương mại hàng hoá thế
giới. Điều đó chứng tỏ mức độ bảo hộ nông nghiệp rất lớn tại các nước có thu nhập cao.
10
Phần lớn lợi ích của tự do hoá thương mại sẽ thuộc về các nước chấp nhận tự do hoá
thương mại. Khoảng 70% lợi ích của việc xoá bỏ các can thiệp thị trường nông nghiệp
của các nước thu nhập cao sẽ thuộc về các nước đó. Mặc dù vậy các nước đang phát triển
cũng được hưởng lợi 40% (khoảng 31 tỷ USD) trong tổng số lợi ích (khoản 75 tỷ USD)
của việc tự do hoá thương mại nông nghiệp của các nước công nghiệp. Đối với các nước
đang phát triển, 83% lợi ích của việc tự do hoá thương mại của chính họ sẽ thuộc về họ.
Tuy nhiên các con số trên vẫn chưa tính tới hết các lợi ích động khác của tự do hoá
thương mại nông nghiệp toàn cầu. Thêm vào đó, hiệp định thương mại nông nghiệp còn
là điều kiện cần và đủ để cho việc thiết lập một hiệp định thương mại chung.
Để có thể nắm được toàn bộ lợi ích của tự do hoá thương mại, các nước đang phát triển
cần có các cải tổ và đầu tư hỗ trợ khác, bao gồm cả việc tạo ra mạng lưới an ninh để
giảm bớt các ảnh hưởng tiêu cực của tự do hoá thương mại (thị trường yếu tố đầu vào -
đất, tín dụng, các công ty buôn bán nhà nước, hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ
thương mại, nâng cao năng lực kỹ thuật để đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ của các
nước OECD). Đối với các nước thu nhập trung bình, cần ưu tiên vào việc xây dựng hệ
thống cơ sở hạ tầng và cảI tổ hệ thống tài chính. Đỗi với các nước thu nhập thấp và đang
chuyển đổi, cần chú trọng hỗ trợ việc thiết lập các thị trường đầu vào. Trong khi đó, đối
với các nước thu nhập trung bình thì vấn đề lại nằm ở chỗ làm thế nào để các thị trường
đó hoạt động có hiệu quả hơn. Hơn thế nữa, trong các nước thu nhập trung bình thì khu
vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, vì thế cung của các yếu tố đầu vào co giãn nhiều
hơn so với các nước thu nhập thấp.
6.2.3. Thương mại hàng nông sản và hội nhập vùng
Khu vực nông nghiệp tạo ra các vấn đề phức tạp hơn trong hội nhập vùng bời vì cho đến
gần đây thì nông nghiệp vẫn bị gạt ra ngoài các vòng đàm phán của GATT. Rất nhiều
nước có các chương trình hỗ trợ nội địa cho nông nghiệp và các chương trình này
thường mâu thuẫn với tự do hoá thương mại. Nếu hội nhập vùng có thể tạo ra cải tổ đối
với các chương trình hỗ trợ nội địa thì hội nhập vùng sẽ thúc đẩy mức độ hội nhập quốc
___________
- 1) * 100
Pi
b
Trong đó: Pi
d
, Pi
b
là giá trong nước và giá quốc tế (CIF đối với sản phẩm nhập và FOB
đối với sản phẩm xuất) tại cùng một điểm trên kênh marketing có thể so sánh với nhau
của sản phẩm i (ngô, sắn, đậu tương)
Nếu NPR
i
> 0 (Bảo hộ - khuyến khích nông dân)
Nếu NPR
i
< 0 (Không bảo hộ -không khuyến khích nông dân)
Tỷ lệ bảo vệ hiệu quả (effective protection rate) EPR
VAi
d
- VAi
b
EPR
i
=
___________________
* 100
VAi
b
Trong đó: VAi
DRC là chỉ số thường được dùng để đánh giá lợi thế so sánh của ngành hàng. DRC biểu
thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng tương ứng với 1 đô la thu
được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1 có nghĩa là sản phẩm có lợi thế so
sánh và ngược lại. DRC càng nhỏ thì lợi thế so sánh càng cao.
ΣQdi Sd
DRCi =
__________________________________
(1 + FX Premium) (PibQi - ΣQfi Pfb)
Trong đó: Qdi khối lượng các đầu vào trong nước dùng để sản xuất sản phẩm i;
Sd giá xã hội của các đầu vào nói trên;
OER là tỷ giá hối đoái chính thức;
Pib là giá quốc tế của sản phẩmi;
Qi là khối lượng sản phẩm i;
13
Qfi khối lượng các loại đầu vào nhập khẩu sử dụng để sản xuất SP i;
Pfb là giá quốc tế của các đầu vào nhập khẩu
FX Premium là độ chênh giữa tỷ giá hối đoái xã hội và tỷ giá hối đoái chính thức (ở các
nước đang phát triển, chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái gây ra độ chênh khoảng 20%)
Lợi nhuận xã hội ròng NSP (Net social profitability):
Sản phẩm nông nghiệp từ khâu mua nguyên liệu để sản xuất đến khi bán/xuất khẩu trải
qua tác động của nhiều chính sách bóp méo như thuế, hạn ngạch, trợ giá… Chỉ số lợi
nhuận ròng NSP cho biết sản phẩm sản xuất ra có thực sự mang lại lợi nhuận cho xã hội
hay không:
NSP = Giá trị xã hội của sản phẩm - Giá trị xã hội của các đầu vào sản xuất ra sản phẩm
đó
Hay:
Lợi nhuận xã hội ròng = Giá trị sản phẩm theo giá quốc tế - (Chi phí các đầu vào có thể
nhập khẩu theo giá quốc tế + Chi phí các nguồn lực khác trong nước hoặc các đầu vào
sản xuất trong nước theo giá xã hội hoặc chi phí cơ hội xã hội)
Nếu NSPi > 0: Sản phẩm i có lợi thế so sánh
T = xu thế
Độ co giãn EPF=(%∆QS)/(%∆PF)
6.4.3. Cân bằng cung cầu
QS + M - X = QD
Trong đó:
M = Tổng nhập;
X = Tổng xuất;
6.4.4. Tương tác giá
PC = Pcif + thuế + phí vận chuyển
15
PF = a + bPC
Hệ số co giãn giá chuyển đổi ET =(%∆PF)/(%∆PC)
Tác động của việcgiảm thuế quan
Pw = Giá thế giới (Sw = Cung thế giới)
P1 = Pw + T1 (P1 = Giá trong nước; T1 = Tariff)
P2 = Pw + T2 (P2 = Giá trong nước; T2 = Tariff)
Với T1>T2
Tác động T1 T2
1. Giá P1 P2
2. Tổng cầu QD1 QD2
3. Sản xuất QS1 QS2
4. Nhập khẩu M1 M2
5. Doanh thu chính phủ ( từ thuế) Diện tích(ABED) Diện tích (CFHG)
6. Lợi ích người tiêu dùng Diện tích (P1BFP2)
7. Mất của người sản xuất Diện tích (P1ACP2)
16