Chất lượng phân tích tín dụng tại Vietinbank chương dương - Pdf 10

LỜI

CẢM

ƠN
Trước

hết

em

xin

chân

thành

cảm

ơn

Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Chương Dương
,
đặc

biệt



Ban

giúp

đỡ

em

trong

thời

gian thực
tập

để

em

hoàn

thành

tốt

luận

văn

tốt

nghiệp

quý
thầy

cô trường

Đại

học

Kinh tế quốc dân,

đặc

biệt



thầy



của

khoa

Tài
chính – Ngân hàng. Em

xin



tài

luận

văn

tốt

nghiệp.
Trong

quá

trình

thực

tập,

do

thời

gian



hạn



cũng

như
còn hạn
chế về
kinh

nghiệm

thực

tế nên

không

tránh

khỏi

những

thiếu sót.

Do

đó,
để

luận

giáo

viên hướng

dẫn

cũng

như

Ban

lãnh

đạo

Ngân
hàng.
Em

xin

kính

chúc

quý

thầy


Chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương

ngày
càng

lớn

mạng

và phát

triển

bền

vững.
Xin

chân

thành

cám

ơn!
Ngày
28
tháng 4.năm

2009

trên nhiều phương diện. Mới đây, Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED)
Ben Bernanke đã tuyên bố, sớm nhất thì cũng phải đến cuối năm 2010 kinh tế
toàn cầu mới có thể hồi phục.Đương nhiên, Việt Nam cũng không thoát khỏi
vòng xoáy của “cơn bão” khủng hoảng, và Chính phủ đã thực hiện một loạt
biện pháp để kích thích nền kinh tế.
Cộng thêm việc Chính phủ vừa đề ra chính sách cho vay hỗ trợ lãi suất
và bảo lãnh tín dụng (nằm trong gói kích cầu 1 tỷ USD), dự kiến các khoản
tín dụng sẽ tăng vọt trong thời gian sắp tới. Bởi vậy, các quy trình phân tích
tín dụng chất lượng cao sẽ là một mũi tên trúng 2 đích: vừa đảm bảo nguồn
vốn hỗ trợ đến đúng địa chỉ, qua đó thúc đẩy nền kinh tế, vừa duy trì sự ổn
định cho hệ thống Ngân hàng.
Từ thực tế kể trên, rõ ràng các Ngân hàng cần có giải pháp hữu hiệu để
đưa các khoản cho vay đến đúng địa chỉ, mà trực tiếp nhất là nâng cao chất
lượng phân tích tín dụng. Sự thực là hoạt động này vốn luôn là ưu tiên hàng
đầu của các Ngân hàng từ xưa đến nay, nhưng trong tình hình hiện tại thì
công tác phân tích tín dụng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhất là,
hiện nay tại Chi nhánh Vietinbank Chương Dương còn tồn tại một số vấn đề.
Vì vậy, chuyên đề “Nâng cao chất lượng phân tích tín dụng đối với doanh
nghiệp tại Chi nhánh Vietinbank Chương Dương” được lựa chọn nhằm đóng
góp thêm một quan điểm, và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác phân tích tín dụng của Chi nhánh Vietinbank Chương Dương.
1
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG PHÂN TÍCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán –

hàng thương mại vẫn có khả năng tạo ra phương tiện thanh toán, hay nói cách
khác là làm gia tăng tổng cung tiền bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng).
Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay, hệ thống Ngân hàng thương mại
sẽ làm tăng cung tiền, tuy nhiên mức độ gia tăng này là bao nhiêu thì còn phụ
thuộc vào tỷ lệ dự trữ của các Ngân hàng. Trong trường hợp lý tưởng, nếu mỗi
Ngân hàng đều dự trữ lượng tiền mặt bằng 10% tiền gửi thì số nhân tiền m sẽ có
giá trị bằng 10.
- Trung gian thanh toán: Trong đa số các trường hợp, việc thanh toán bằng
tài khoản (chuyển khoản) tiện dụng và dễ quản lý hơn rất nhiều so với thanh toán
bằng tiền mặt. Để có thể tiến hành thanh toán qua tài khoản, thì vai trò của các
Ngân hàng là không thể thiếu. Thông qua các công cụ như thanh toán bằng séc,
ủy nhiệm chi, nhờ thu, thẻ ATM…. Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán
lớn nhất hiện nay tại hầu hết các quốc gia.
1.1.1.3 Khái niệm và phân loại tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền
sản xuất hàng hóa, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy cung
3
cấp và lưu thông hàng hóa. Có rất nhiều cách hiểu về hoạt động tín dụng, tuy
nhiên một cách chung nhất thì tín dụng là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa các
chủ thể, trong đó chủ thể này chuyển cho chủ thể khác quyền sử dụng một
lượng tiền tệ (hoặc hàng hóa), theo những điều kiện nhất định mà hai bên
cùng đồng ý.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
Ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi
phí nhất định. Về ý nghĩa thì khái niệm tín dụng rộng hơn cho vay. Thực tế,
cho vay chỉ là một trong nhiều hình thức cấp tín dụng, bởi còn có nhiều hình
thức khác như chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán…
Tất cả những nghiệp vụ này đều là việc Ngân hàng cho phép khách hàng
sử dụng vốn của mình, xuất phát từ sự tin tưởng nhất định đối với khách
hàng.

dùng để tài trợ cho các tài sản cố định, hoặc đầu tư vào các dự án mới có quy
mô tương đối nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Từ 5 năm trở lên, dùng để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, mua sắm những thiết bị có thời gian sử dụng lâu,
đầu tư các dự án lớn…
Tất nhiên, việc phân chia này cũng chỉ có tính chất tương đối vì có nhiều
khoản cho vay không xác định trước được chính xác thời gian.
+Căn cứ theo hình thức tài trợ: Tùy theo hình thức tài trợ, tín dụng có
thể được chia thành cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính, bao
thanh toán…
- Cho vay: Là việc Ngân hàng cấp tiền cho khách hàng, với cam kết
hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định. Có thể cho vay
thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức….
5
- Chiết khấu: Là hình thức cấp tín dụng trong đó Ngân hàng nhận các
chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền nhất định, thông thường
nhỏ hơn mệnh giá của chứng từ được chiết khấu. Phần chênh lệch chính là lợi
nhuận mà Ngân hàng được hưởng.
- Bảo lãnh: Là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng (bên bảo lãnh) với
bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay
cho khách hàng (bên được bảo lãnh), nếu khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh.
- Cho thuê: Là việc Ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng
thuê lại theo những thỏa thuận nhất định. Sau một thời gian, khách hàng phải
trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng.
- Bao thanh toán: Là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng
cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc
mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong
hợp đồng mua, bán hàng hóa (Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN).
+Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:

Theo tiêu thức này, tín dụng có thể được chia thành các loại sau
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu
dùng cá nhân, có thể chia nhỏ ra thành cho vay mua nhà, mua ô tô, hỗ trợ du
học…
- Tín dụng công nghiệp & thương mại: Là loại hình cho vay phục vụ sản
xuất kinh doanh công nghiệp, thương mại, dịch vụ…
- Tín dụng nông nghiệp: Là loại hình cho vay để trang trải các khoản chi
phí sản xuất trong hoạt động nông nghiệp.
+Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
7
- Tín dụng có thời hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trả nợ định
trước, được xác định rõ trong hợp đồng. Có thể có một hoặc nhiều kỳ hạn trả
nợ (nợ được trả thành một hoặc nhiều lần).
- Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Có thể do Ngân hàng yêu cầu, hoặc
người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng cần phải thông báo trước
cho Ngân hàng một khoản thời gian hợp lý.
* Những phương pháp phân loại kể trên cho thấy tính đa dạng, hoặc
chuyên môn hóa trong cấp tín dụng của các Ngân hàng. Trong xu hướng đa
dạng hóa hoạt động, các Ngân hàng có thể đồng thời mở rộng phạm vi tài trợ
và duy trì những lĩnh vực mà mình có lợi thế. Với việc phân loại tín dụng hợp
lý, các Ngân hàng cũng dễ dàng theo dõi mức độ rủi ro và sinh lợi gắn liền
với mỗi lĩnh vực tài trợ, từ đó đề ra chính sách tín dụng phù hợp.
1.1.1.4 Tầm quan trọng của hoạt động tín dụng
Tuy nhiên, những lý thuyết trên chỉ đúng với các mô hình Ngân hàng cổ
điển. Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế và khoa học công nghệ hiện đại,
hoạt động của Ngân hàng thương mại đã trở nên vô cùng đa dạng. Bên cạnh
những nghiệp vụ truyền thống như tín dụng, huy động vốn, làm trung gian thanh
toán, các Ngân hàng hiện đại còn tham gia đầu tư ủy thác, tư vấn tài chính, kinh
doanh vàng và ngoại tệ….
Không chỉ có thế, trên đường xây dựng một mô hình tập đoàn tài chính –

thông qua và phổ biến tới các bộ phận có liên quan.
+ Được xây dựng chi tiết trong nội dung phân tích, tránh chung chung.
Mỗi bộ phận, cá nhân trong Ngân hàng đều nhận thức được rõ vai trò, nhiệm
vụ của mình.
+ Toàn bộ quy trình phải được xây dựng nhằm thực hiện các nguyên tắc
tín dụng ngân hàng.
1.2.1.2 Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
9
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên
tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời.
+Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn lẫn lãi trong một thời gian
xác định. Các khoản tín dụng của Ngân hàng cấp cho khách hàng có nguồn
gốc từ tiền gửi của những khách hàng khác, mà khoản này thì Ngân hàng phải
cam kết hoàn trả. Do đó, người nhận tín dụng cũng phải thực hiện đúng cam
kết hoàn trả, đó là điều kiện để Ngân hàng tồn tại và phát triển.
+Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích đã thỏa
thuận với Ngân hàng, không trái các quy định của pháp luật nói chung và của
Ngân hàng Nhà nước nói riêng.
+Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án sử dụng vốn vay (hoặc dự án đầu
tư) có hiệu lực. Thực hiện nguyên tắc này là điều kiện để tuân thủ nguyên tắc
thứ nhất. Sử dụng vốn vay có hiệu quả thể hiện được khả năng trả nợ của
khách hàng, và các khoản tài trợ của Ngân hàng phải gắn liền với việc hình
thành tài sản của người vay.
1.2.1.3 Quy trình phân tích tín dụng
Quy trình tín dụng được đặt ra để chuẩn hóa quá trình tiếp xúc, phân
tích, cho vay và thu nợ đối với khách hàng. Quy tình này bao gồm nhiều bước
có quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi bước bao gồm nhiều giai đoạn được xây
dựng một cách khoa học, hợp lý nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu của Ngân
hàng. Về thực chất, quy trình tín dụng chính là các bước (hoặc nội dung công
việc) mà cán bộ tín dụng, các bộ phậ có liên quan trong Ngân hàng phải thực

quy định pháp lý. Do đó, cả hai bên đều phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi
quyết định ký kết hợp đồng tín dụng.
Hợp đồng tín dụng bao gồm những nội dung chính sau:
11
- Thông tin về khách hàng
- Mục đích sử dụng khoản vay
- Số lượng tín dụng: Là số tiền (hoặc hạn mức tín dụng) Ngân hàng cam
kết cấp cho khách hàng. Số lượng tín dụng này có thể được chia nhỏ thành
nhiều phần, cấp trong các khoản thời gian khác nhau và dưới nhiều hình thức
tiền tệ khác nhau.
- Lãi suất tín dụng (nếu lãi suất có thể thay đổi thì phải xác định rõ các
điều kiện thay đổi).
- Các khoản phí: Để nhận được tín dụng, khách hàng có thể phải trả một
số khoản phí như phí thẩm định, ký quỹ…. khiến cho mức lãi suất phải trả
cao hơn thực tế.
- Thời hạn tín dụng: Là thời hạn mà trong đó Ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng một khoản tín dụng. Có thể được tính từ thời điểm đồng vốn đầu
tiên của Ngân hàng được chi ra cho đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng được
thu về. Khi kết thúc thời hạn này, Ngân hàng có thể xem xét lại quan hệ tín
dụng với khách hàng.
Thời hạn tín dụng có thể được chia thành thời gian đầu tư, thời gian ân
hạn và trả nợ (có thể chia thành nhiều kỳ hạn nợ nhỏ). Nếu tín dụng được cấp
dưới hình thức chiết khấu thương phiếu, thời hạn tín dụng là thời hạn còn lại
của thương phiếu. Nếu là bảo lãnh, thời hạn tín dụng chính là thời gian có
hiệu lực của bảo lãnh (được thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh). Nếu là cho
thuê tài sản, thời hạn này được tính từ lúc Ngân hàng giao tài sản đến lúc
khách hàng trả đủ tiền thuê.
- Các loại đảm bảo: Cần ghi rõ các nội dung quan trọng có liên quan đến
đảm bảo như quyền sở hữu, quyền chuyển nhượng hoặc bán tài sản đảm bảo,
phương thức thẩm định giá, bảo hiểm tài sản đảm bảo….

pháp nhằm thu hồi khoản cho vay.
- Nếu khách hàng cố tình gian dối, lừa đảo, chây ỳ… không chịu trả nợ,
Ngân hàng cần áp dụng biện pháp mạnh là thanh lý tài sản cầm có, thế chấp
hoặc thậm chí khởi kiện ra tòa.
- Nếu khách hàng gặp rủi ro khách quan, dẫn đến tổn thất và không trả
được nợ thì Ngân hàng có thể xem xét việc gia hạn nợ, hoặc cho vay thêm để
giúp khách hàng khắc phục khó khăn về mặt tài chính.
1.2.2 Các nội dung phân tích tín dụng đối với doanh nghiệp
1.2.2.1Phân tích khách hàng vay vốn
Phân tích khách hàng vay vốn là việc phân tích các yếu tố trong quá khứ, hiện
tại và triển vọng trong tương lai của khách hàng, nhằm đưa ra một nhận định
bao quát về hiện trạng của khách hàng. Nhìn chung, để đánh giá về khách
hàng xin vay vốn, Ngân hàng thường dựa trên năng lực pháp lý, uy tín, khả
năng quản trị, tình hình sản xuất kinh doanh, tiềm năng phát triển và năng lực
tài chính của khách hàng.
1.2.2.1.1 Đánh giá uy tín của khách hàng
Trong giao dịch tín dụng, khái niệm uy tín liên quan tới thái độ sẵn sàng
trả nợ và ý thức thực hiện các điều khoản của hợp đồng tín dụng. Cho dù
khách hàng có năng lực tài chính tốt, nhưng không sẵn sàng hoàn trả vốn vay
cho Ngân hàng thì Ngân hàng vẫn gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn. Do
đó, Ngân hàng cần lựa chọn khách hàng có uy tín tín dụng tốt.
Đối với doanh nghiệp, ngoài phương án sản xuất – kinh doanh hiệu quả
và độ rủi ro của lĩnh vực hoạt động, cần xét thêm cả uy tín của chủ doanh
nghiệp, ban lãnh đạo cũng như những người có ảnh hưởng lớn đến doanh
nghiệp. Ngoài ra, có thể dựa vào kết quả đánh giá, xếp hạng tín dụng doanh
nghiệp của Ngân hàng hoặc do các tổ chức độc lập công bố. Thông thường,
kết quả xếp hạng được biểu thị bằng các chữ cái A,B,C (chẳng hạn AA là cao
14
nhất, C là thấp nhất…)
1.2.2.1.2 Đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng

hàng đang hoạt động tốt hay xấu, có hiệu quả hay không, có khả năng thực
hiện các kế hoạch và đáp ứng các cam kết hay không. Đối với khách hàng
doanh nghiệp, phân tích tài chính được thực hiện dựa trên các báo cáo tài
chính của doanh nghiệp. đó rút ra kết luận về khả năng tích lũy của khách
hàng để trả nợ Ngân hàng.
Để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp, cần thu thập các dữ
liệu đầu vào như sau:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Các dữ liệu kể trên phải được xem xét trong 2 hoặc 3 năm liên tục gần nhất.
Phân tích báo cáo tài chính có thể được thực hiện theo các phương pháp sau:
+Phân tích tỷ số tài chính: Là phương pháp phân tích dựa trên một
nhóm chỉ số, thường được dùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh và tình hình
hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua số liệu ở các báo cáo tài chính,
phương pháp này đánh giá chiều sâu tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Các nhóm chỉ số tài chính cơ bản gồm có:
- Nhóm chỉ số về khả năng sinh lời
- Nhóm chỉ số hoạt động
- Nhóm chỉ số đòn bẩy tài chính (chỉ số nợ)
- Nhóm chỉ số về khả năng thanh khoản
Phương pháp phân tích tỷ số tài chính có khá nhiều ưu điểm, nhưng nó
16
cũng có một số hạn chế. Đầu tiên, phương pháp này dựa hoàn toàn vào số liệu
trong các báo cáo tài chính, và nếu khách hàng cung cấp thông tin thiếu chính
xác thì kết quả sẽ bị sai lệch. Tiếp theo, thường thì không có đầy đủ thông tin
về các tỷ số bình quân của ngành để làm cơ sở so sánh.
Vì thế, cần áp dụng thêm những phân tích so sánh để làm rõ hơn tình
hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

được nguồn gốc dòng tiền của doanh nghiệp, và số tiền này được dùng vào
việc gì. Ngoài ra, Ngân hàng cũng có thể kiểm tra xem dòng tiền từ hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là âm hay dương, xem xét khả năng
thanh toán các nghĩa vụ tài chính thường xuyên (thuế, lãi vay) của doanh
nghiệp, những yếu tố tác động đến dòng tiền…
+Phương pháp phân tích báo cáo tài chính tương lai: Việc phân tích báo
cáo tài chính trong quá khứ giúp Ngân hàng đánh giá được tình hình tài chính
trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp. Nhưng khả năng trả nợ của khách
hàng lại được xác định thông qua kết quả hoạt động kinh doanh trong tương
lai, nên việc dự báo tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp là rất
quan trọng.
Phân tích báo cáo tài chính tương lai giúp Ngân hàng dự đoán trước tình
hình tài chính, nhu cầu tài chính của doanh nghiệp và có những phản ứng phù
hợp. Để xây dựng báo cáo tài chính dự kiến, cần đưa ra giả định về các yếu tố
trong tương lai như mức tăng trưởng doanh thu, thuế suất, các khoản phải
thu….. Trên cơ sở đó tính toán số liệu dự báo cho các khoản mục trên báo cáo
tài chính.
Sự chính xác của báo cáo dự kiến phụ thuộc vào độ tin cậy của các giả định.
18
*Để kết quả phân tích tín dụng toàn diện, hiệu quả và chính xác, nên kết
hợp sử dụng nhiều phương pháp, và cần có sự so sánh giữa các doanh nghiệp
trong cùng lĩnh vực. Dù áp dụng phương pháp nào, cũng phải làm nổi bật và
tập trung đánh giá được các vấn đề sau:
- Tài sản của khách hàng (tiền mặt, chứng khoán, hàng tồn kho, các
khoản phải thu, tài sản cố định…)
- Các khoản nợ của khách hàng
- Các luồng tiền trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
- Cơ cấu vốn và tình hình sử dụng vốn lưu động
- Khả năng sinh lời, quản lý chi phí, năng lực hoạt động, thanh khoản
- Các điều kiện, biến động kinh tế vĩ mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status