Quản lý tiền gửi tại các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 10

Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đang chứng kiến
bước phát triển nhanh chóng của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng không
ngừng tăng vốn, tăng dư nợ tín dụng , mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động…
để chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh mạnh mẽ khi Việt Nam hoàn toàn gia nhập Tổ
chức thương mại thế giới WTO. Là trung gian tài chính trong nền kinh tế, đối tượng
của hoạt động ngân hàng chính là vốn, và quy mô vốn của ngân hàng sẽ quyết định
lợi nhuận mà nó kiếm được. Việc huy động vốn luôn giữ vai trò hết sức quan trọng
vì nó liên quan tới việc duy trì và mở rộng thị phần, nâng cao sức cạnh tranh và
tiềm năng phát triển của ngân hàng. Sự thịnh vượng và phát triển của một NHTM
căn cứ vào là tiền gửi. Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó
là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của ngân hàng. Cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đang diễn ra cũng là đặt ra
những thách thức, yêu cầu đối với công tác quản lý tiền gửi của các NHTM Việt
Nam.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của tiền gửi đối với mỗi ngân hàng nói riêng
cũng như dối với toàn bộ nền kinh tế nói chung, em đã chọn đề tài « Tiền gửi và
quản lý tiền gửi tại các NHTM » để có điều kiện củng cố lại những kiến thức đã
học và tiếp xúc với thực tế để biết thêm về hoạt động của các NHTM hiện nay. Đề
án đưa ra giải quyết hai vấn đề chính : Phần thứ nhất là các vấn đề mang tính lý
luận về tiền gửi và quản lý tiền gửi tại các NHTM nói chung. Phần thứ hai dựa trên
cơ sở xem xét thực tiền để đưa ra vài nét về tiền gửi và quản lý tiền gửi ở Việt Nam.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của ngân hàng rất đa dạng
và phong phú. Nhưng vì thời gian và khả năng tiếp cân của bản thân có hạn
nên em chưa thể phân tích một cách sâu sắc các hoạt động của ngân hàng mà
chỉ tập trung nghiên cứu quá trình huy động và quản lý tiền gửi của ngân
hàng. Và cũng do còn thiếu kinh nghiệm nên đề án của em vẫn còn những
thiếu sót. Em rất mong sẽ nhận được sự đánh giá, góp ý và sửa chữa của thầy.
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
1

nghiệp vụ phát sinh từ trước. Như vậy, khách hàng không phải chỉ gửi và để
lại trong tài khoản để ngân hàng cất giữ mà chủ yếu là để hưởng lợi ích của
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
3
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
các phương tiện, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho họ.
+ Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi như số tiền gửi vào sổ
tiết kiệm hay các tài khoản định kỳ. Khi đó, khách hàng không còn quyền sử
dụng các dịch vụ của ngân hàng như không được dùng sec để thanh toán.
Đối với ngân hàng, các loại tiền gửi tạo thành nguồn vốn cung cấp cho
các nghiệp vụ sinh lời trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Do vậy,
ngân hàng không phải nhận tiền gửi để cất giữ hộ khách hàng và hưởng khoản
tiền công cho việc đó mà cho mục đích chủ yếu là cung cấp tín dụng và
hưởng lãi từ khoản chênh lệch giữa lãi suất trả cho người gửi tiền và lãi suất
áp dụng cho người đi vay. Đối với NHTM, có nhiều loại tiền gửi khác nhau,
những nó chủ trọng nhiều hơn đến hai nguồn chủ yếu là tiền gửi của các
doanh nhận và tiền gửi của dân cư.
Khó có thể đưa ra một định nghĩa chung về tiền gửi bởi nó phụ thuộc
vào quan niệm chủ quan và mục đích của người gửi tiền và của ngân hàng.
Đứng trên khía cạnh của ngân hàng, tiền gửi được hiểu là số tiền của khách
hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi
có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi
hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền. (Theo khoản
9 điều 20 Luật các TCTD 1997). Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên
quan trọng nhất của NHTM, là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong trong tổng
nguồn tiền của ngân hàng.
Như vậy, về phương diện pháp lý, người gửi tiền có quyền lựa chọn các
loại tiền gửi tùy theo nhu cầu và được hưởng các dịch vụ do khách hàng cung
cấp hoặc hưởng lãi; đồng thời, quyền sử dụng tiền của người gửi được chuyển
giao cho khách hàng. Ngân hàng có thể tùy nghi sử dụng số tiền cho hoạt

hiện nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng.
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
5
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Tiền gửi có quy mô rất lớn so với các nguồn vốn khác trong ngân hàng, là
cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó là nguộc gốc của lợi nhuận trong
ngân hàng. Thông thường,tiền gửi chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn, và là mục
tiêu tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng thương mại. « Tiền gửi là nền
tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của ngân hàng, đây cũng là khỏan mục
duy nhất trên bảng cân đối kế toán giúp phân biệt ngân hàng với các loại hình
doanh nghiệp khác »
Tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc nên chi phí tiền gửi cao hơn
khoản trả lãi cho nó. Để đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng khi
đến hạn và hạn chế việc lạm dụng khoản tiền gửi của khách hàng trong việc
cho vay nhằm mục đích sinh lời của ngân hàng, ngân hàng nhà nước quy định
các khoản tiền gửi đều phải trích dự trữ bắt buộc. Tùy vào hình thức gửi tiền
và quy định của mỗi ngân hàng mà tỷ lệ dự trữ này là khác nhau. Sau khi huy
động được tiền gửi, trừ đí khoản dự trữ bắt buộc này, ngân hàng có thể cho
vay phần tền gửi còn lại. Như vậy, ngoài chi phí trả lãi tiền gửi cho khách
hàng, ngân hàng còn phải trích một khỏan dự trữ nữa nên nếu tính tổng lại thì
chí phí tiền gửi sẽ lớn hơn lãi phải trả cho khách hàng, khoản chênh lệnh này
chính là số tiền dự trữ bắt buộc.
Ở nhiều nước, ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi. Ngân hàng là một
tổ chức có quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực, ngành kinh tế khác. Hơn nữa,
các NHTM cũng có mối quan hệ với nhau rất mật thiết. Do phải thanh toán
tiền gửi cho khách hàng khi có yêu cầu nên NHTM luôn luôn phải đảm bảo
khả năng thanh tóan của mình. Vì vậy, ở một số nước, yêu cầu NHTM phải
mua bảo hiểm tiền gửi là để tránh rủi ro cho khách hàng gửi tiền, tạo tâm lý
an tòan hơn cho khách hàng. Như vậy, sẽ đảm bảo an tòan cho NHTM nói
riêng và cho cả hệ thống ngân hàng của quốc gia đó.

Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
7
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
vừa thu được một khoản lợi tức nhất định.
Đối với nền kinh tế: Tiền gửi của NHTM sẽ được tài trợ cho các dự án
của doanh nghiệp sẽ làm tăng đầu tư của nền kinh tế và do đó cũng làm tăng
thu nhập quốc dân GDP.
Đối với NHTM: tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của
Ngân hàng, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt
Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi là cơ sở chính cho
các khoản vay của NHTM, là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển
của Ngân hàng. Khi huy động tiền gửi, Ngân hàng phải duy trì tỷ lệ dự trữ bắt
buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân
hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Ngân hàng cũng có thể thu được
những khoản phí khi cung cấp các dịch vụ cho khách hàng gửi tiền. Khả năng
huy động tiền gửi với mức lãi suất hợp lý còn là những chỉ số quan trọng đáng
giá tính hiệu quả trong quản lý ngân hàng.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền gửi
Lãi suất: lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư
gửi và cho vay. Trong điều jiện có lạm phát, người có tiền tiết kiệm thường
quan tâm đến lãi suất thực, điều đó có nghĩa là lãi suất thực dương mới thực
sự hấp dẫn các nguộc tiền tiết kiệm.
Thời vụ chi tiêu: ảnh hưởng đến quy mô và tính ổn định của nguồn tiền.
Vào dịp Tết, nguồn tiền tiết kiệm cũng như tiền gửi của doanh nghiệp có xu
hướng giảm sút đặc biệt trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn phổ
biến do nhu cầu mua sắm cho dịp tết của các gia đình tăng nhiều.
Thu nhập: thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi
kỳ hạn của nguồn tiền. Tại các thành phố lớn, nơi tập trung tầng lớp dân cư có
thu nhập cao, hin thành những người gửi tiền lớn. Khi ngân hàng mở rộng cho
vay, tiền gửi của các doanh nghiepẹ và các cá nhân cũng gia tăng. Các nguồn

9
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
phải vì mục đích để dành và cũng không chú trọng ở tiền lãi. Khách hàng chỉ
muốn đổi hình thức tiền tệ này thành hình thức tiền tệ khác và do sự thuận
tiện trong thanh toán mà họ đã chọn Sec. Sụ tiện lợi trong thanh tóan của tiền
gửi không kỳ hạn này phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát
hàng ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khỏan này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp
nơi trên lãnh thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì Séc do chủ tài
khoản ký phát có hiệu lực thanh tóan và được chấ nhận nhanh chẳng kém gì
tiền mặt. Đó là lý do để tiền gửi không kỳ hạn được xem là laọi hình gần tiền
mặt nhất trong tất cả các loại hình tiền của NHTM. Tuy nhiên, ở các nước
đang phát triển thì thanh toán bằng Séc chưa phổ biến do chi nhánh của các
NHTM ở những nước này còn ít và không phủ rộng khắp nơi để cả những
vùng sâu vùng xa hoặc có quan hệ không tốt với các ngân hàng khác, hơn
nữa, tâm lý của người dân còn ưa thích dùng tiền mặt hơn.
Tiền gửi laọi này có thể phát hành từ khách hàng là doanh nghiệp và chủ
doanh nghiệp đứng tên tài khoản hay người dân bình thường. Việc phân biệt
giữa tài khỏan vãng lãi mở cho doanh nghiệp và các tài khỏan Séc mở cho
người dân rất cần thiết cho ngân hàng không những về mặt pháp lý mà còn cả
về mặt kỹ thuật. Khoản tiền khách hàng gửi vào thực chất là khoản tiền khách
hàng cho ngân hàng vay. NGân hàng sẽ trả lãi cho khách hàng hàng tháng
mặc dù rất thấp. Do đó, đối với ngân hàng, nó là một khỏan nợ, khoản nợ này
sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi.
II.1.2. Phân loại
Sự đa dạng của loại hình tiền gửi không kỳ hạn này để đáp ứng cho sự
phát triển của xã hội và nhu cầu thanh toán của người dân. Ở các nước phát
triển, tiền gửi không kỳ hạn có thể phấn ra thành các loại như sau:
a) Tiền gửi dùng Sec ( checking deposits)
b) Tiền gửi rút tiền tự động hay tiền gửi thông dụng ( Ordinary deposits)
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp

11
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
hỏi khách hàng phải thông báo trước về việc rút tiền. Do đòi hỏi này
ít khi được thực hiện nên NOW được sử dụng như là một tài khoản
phát séc để chi trả cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Từ năm 1981,
NOW đựoc chấp nhận rộng rãi trên toàn nước Mỹ. Tuy nhiên, loại tài
khoản này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi
nhuận (nonprofit institutions). Khi NOW được chấp nhận trên tòan
nước Mỹ, Chính phủ Mỹ đã cho phép ngân hàng thực hiện nghiệp vụ
chuyển vốn tự động, trong đó khách hàng ủy quyền trước
(preauthorize) cho ngân hàng trong việc chuyển vốn từ tài khỏan tiết
kiệm sang tài khoản séc để bù đắp thấu chi (overdraft). Kết quả cuối
cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương
với lãi thu được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
f) Tài khoản MMDA: “Với việc thông qua đạo luật về các tổ chức nhận
tiền gửi Garn-st Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch
hưởng lãi quan trọng được hình thành. Ngân hàng và các tổ chức tiết
kiệm phi Ngân hàng có thể đưa ra một loại hình tiền gửi mới để cạnh
tranh với tài khoản đầu tư chứngkhóancó lãi suatá cao hơn, được
cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được đảm bảo bằng
danh mục đầu tư chứng khóan có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới
sự ra đời của tài khoản tiền gửi trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài
khoản Super NOW”. Hai loại tài khoản này trả lãi theo lãi suất thị
trường tiền tệ và khách hàng có thể thực hiện thanh tóan cho các giao
dịch mua hàng hóa và dịch vụ thông qua việc phát séc hay hối phiếu
ủy quyền trước (preauthorised draft).
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần
hay vài tháng và NGân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thù hút và
nắm giữ tiền gửi của khách hàng. Có tới sáu hối phiếu ủy quyền trước được
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp

13
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
ty đang thành lập hoặc tăng vốn hay là để thanh toán cho một hối phiếu.
Trên đây là những loại tiền gửi không kỳ hạn phổ biến nhất. Tùy theo
nhu cầu đa dạng của khách hàng và sự phát triển của hệ thống ngân hàng ở
mỗi nước mà các quốc gia lại có thêm những khoản tiền gửi không kỳ hạn
khác nhau.
II.2. Tiền gửi có kỳ hạn
II.2.1. Định nghĩa
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được ủy thác vào ngân hàng mà
có sụ thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng. Như
vậy, về nguyên tắc, khách hàng gửi tiền chỉ đựoc rút tiền ra khi đến hạn
đã thỏa thuận.
Thực ra, các loại tiền gửi định kỳ này không phải là những loại tiền gửi
theo nghĩa của pháp lý, mà nó có dạng như một khỏan tiền vau của ngân hàng
nhưng không thể hiện bằng một phiếu khoán. Nó là một ngoại lệ của quy tắc
bất khả dụng, bởi vì khách hàng chỉ phải hoàn lại số tiền gửi vào ngày đáo
hạn ghi trên hợp đồng.
Tiền gửi có kỳ hạn có những đặc điểm sau đây:
+ Tên gọi “ có kỳ hạn” có nghĩa là khỏan tiền được gửi sẽ có thời hạn
gửi tối thiếu theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng và không được rút
ta trước thời hạn đã cam kết. Nếu vì một lý do nào đó mà người gửi tiền phải
rút tiền trước hạn thì ngân hàng có một trong ba cách xử lý như sau: thứ nhất,
từ chối. Bởi vì theo như cam kết của hợp đồng, người gửi tiền sẽ cho ngân
hàng vay với thời hạn đã thống nhất, nếu khách hàng rút tiền trước thời hạn sẽ
làm ảnh hưởng đến công việc kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, thông
thường ngân hàng làm hai cách mềm dẻo hơn sau: Thứ hai, ngân hàng yêu
cầu khách hàng phải báo trứoc, ít nhất một khoảng thời gian nào đó về ý định
rút tiền. Thứ ba, với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp

15
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
đến hạn 10 năm.
+ Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các
loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau, lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có
kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn
có thể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào những dự án sản xuất kinh doanh có
tính lâu dài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn. Lãi suất là ngân hàng trả cho tiền
gửi có kỳ hạn thường là cai hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. Lý do là,
ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay với
thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Vì thế “tiền thù lao”
trả cho khách hàng cũng phải cáo hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa.
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn là tiền tạm thời chưa
sử dụng hoặc là tiền để dành của cá nhân, vì vậy, mục đích gửi tiền vào ngân
hàng là nhằm tìm kiếm lợi tức. Tiền gửi có kỳ hạn thường phụ thuộc vào ba
thông số chính: 1)Lãi suất do các NHTM trả cao hay thấp, 2) lãi suất của các
loại hình đầu tư khác như trái phiếu, cổ phiếu… (tức là các hàng hóa thay thế
gần nhất ), 3) thu nhập của người dân. Thông số đầu tiên là quan trọng nhất.
Vì vậy việc đưa ra chiền lược lãi suất như thế nào để thu hút được vốn nhiều
và kinh doanh có lãi là điều quan trong hàng đầu, phản ánh khả năng quản trị
của các NHTM
II.2.2. Phân loại tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn có thể phân ra thành các loại sau đây:
a) Các chứng chỉ tiền gửi ( Certifficate of depposit – CD )
b) Chứng thư tiết kiệm ( savings certificates)
c) Trái phiếu tiết kiệm
Ở một số tài liệu người ta gộp tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
thành một nhóm vì người gửi tiền chọn hai loại hình gửi tiền này để vì mục
tiêu tìm kiếm lợi tức. Tuy nhiên, ở đây, chúng ta tách hai loại hình này riêng
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp

17
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
Mỗi loại tiền gửi là chúng ta cần nghiên cứu đều mang một mức lãi suất
khác nhau. Lãi suất sẽ quyết định chi phí. Chi phí cho các nguồn tiền gửi khác
nhau là không giống nhau. Giả định rằng các yéu tố khác không đổi, ngân
hàng sẽ huy động vốn bằng cách cung cấp các loại hình gửi tiền có chi phí
thấp nhất, hay thu nhập ròng tạo ra từ việc sử dụng các nguồn vốn tiền gửi
này là lớn nhất sau khi đã trừ đi mọi chi phí. Nếu một ngân hàng có thể huy
động toàn bộ tiền gửi từ các nguồn có chi phí thấp nhất và đầu tư vào các tài
sản có mức lãi suất cao nhất, ngân hàng sẽ tối đa hóa mức chênh lệnh lãi suất,
và có thể tối đa hóa thu nhập ròng của cổ đông. Trong tất cả các loại tiền gửi,
loại tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm tạo ra thu nhập ròng cao nhất và là khỏan
chi phí lớn nhất cho của ngân hàng.
Theo quy luật giá trị theo thời gian cua rtiền và theo mối quan hệ tỷ lệ
thuận trong đường cong thu nhập thì tiền gửi có kỳ hạn thanh toán càng dài sẽ
tạo ra mức lãi càng cao cho người gửi tiền. Ví dụ, tài khoản NOW và tài
khoản tiết kiệm đều có thể được rút tiền ngay lập tức, và do đó kháhc hàng
được hưởng mức lãi suất thấp nhất trong số tất cả các loại tiền. Ngược lại
ngân hàng trả lãi suất tiền gửi cáo nhất cho chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển
nhượng với kỳ hạn một năm hoặc dài hơn.
Quy mô và mức độ rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cũng đóng một
vai trò quan trọng trong việc hình than lãi suất tiền gửi. Ví dụ các ngân hàng ở
New York, London hay Tokyo nhờ vào quy mô lớn và sức mạnh tài chính nên
có thể thu hút tiền gửi ở mức lãi suất bình quân thấp nhất, trong khi lãi suất
được thông báo tại các ngân hàng khác thường cao hơn. Những yếu tố quan
trọng là triết lý về Marketing và mục tiêu của việc cung cấp các dịch vụ ngân
hàng. Ngân hàng nào quyết định chon mục tiêu là cạnh tranh giành tiền gửi sẽ
luôn luôn đặt ra mức lãi suất cao hơn để kéo khách hàng khỏi các đối thủ cạnh
tranh. Ngược lại, khi ngân hàng muốn hạn chế quy mô của một loại hình tiền
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp

19
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
nghiệp vụ và chi phí quản lý chung cho mỗi đơn vị dịch vụ tiền gửi và mức
thu nhập để trả cho các cổ đông – những người đóng góp vốn thành lập ngân
hàng. Do cạnh tranh ngày càng gay gắt cùng với sự tăng lên của lệ phí bảo
hiểm, chi phí trung bình của ngân hàng cho một khoản tiền gửi đã tăng lên.
Điều này có nghĩa là ngân hàng tiến hàng định giá tiền gửi độc lập, tách biệt
khỏi các khoản cho vay và các dịch vụ khac. Đồng thời, mỗi dịch vụ liên quan
tới tiền gửi thường được định giá sao cho khoản thu đủ bù đắp tất cả hoặc
phần lớn chi phí cho việc cung cấp dịch vụ đó. Giá của các dịch vụ này được
xác định theo công thức tổng hợp chi phí – thu nhập như sau:
Giá khách hàng
phải trả cho 1 đơn
vị dịch vụ tiền gửi
=
Chi phí hoạt động
cho 1 đơn vị dịch
vụ tiền gửi
+
Chi phí quản lý
chung dự tính phân
bổ cho bộ phận
nhận tiền gửi
+
Định mức lợi
nhuận từ 1
đơn vị tiền
gửi
Phương pháp định giá theo chi phí – thu nhập như công thức trên khuyến
khích các ngân hàng đặt giá sát hơn với chi phí và loại bỏ nhiều dịch vụ trước

Chi phí không nhỏ cho việc lựa chọn và thay đổi ngân hàng là nguyên nhân
giải thích cho hành vi nêu trên của khách hàng.
Trên thực tế, sự thất bại của các ngân hàng trong chiến lược thu hút thêm
tiền gửi bằng cách giảm lệ phí hoặc nâng cao lãi suất bắt nguồn từ tính ổn
định tương đối của tiền gửi: khách hàng thường không thay đổi ngân hàng
ngay lập tức bởi vì chi phí và rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ. Các
công ty và các hộ gia đình trước khi quyết định gửi tiền vào ngân hàng nào
đều xem xét đến rất nhiều yếu tố, không chỉ có lái suất.
3.3.3. Phương pháp Bảng tỷ lệ phí tiền gửi
Khách hàng sẽ phải trả một khoản lệ phí rất nhỏ, thậm chí là không phải
trả nếu số dư tiền gửi bình quân của họ cao hơn một mức nhất định hoặc
khách hàng sẽ phải trả lệ phí cao hơn nếu số dư tài khoản trong bình thấp hơn
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
21
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
mức giới hạn. Do đó, mức giá dịch vụ mà khách hàng phải trả phụ thuộc vào
việc anh ta sử dụng tiền gửi như thế nào
Giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi thay đổi trên cơ sở một hoặc một
số những yếu tố sau:
+ Số lần giao dịch thực hiện qua tài khoản ( số Séc được viết, số tiền gửi
vào, số lần chuyển tiền, số lệnh ngừng trả hay số lần thấu chi).
+ Số dư tài khoản trung bình trong một thời kỳ nhất định ( thường là một tháng).
+ Kỳ hạn của tiền gửi thao ngày, tuần hoặc tháng.
Khách hàng phải lựa chọn ngân hàng và xây dựng kế hoách tiền gửi sao
cho mức lệ phí là thấp nhất và ( hoặc) nhận được thu nhập cao nhất trên cơ sở
dự kiên về số séc viết , số tiền gửi vào và rút ra cũng như số dư trung bình của
tài khoản. Đương nhiên, khách hàng cũng phải xem xét tới các khía cạnh khác
như mức độ an toàn và sự sẵn có của các dịch vụ.
3.3.4. Định giá mục tiêu trọng điểm
Một số ngân hàng, nhất là những ngân hàng ở các thành phố lớn có

phương pháp định giá khác nhau. Phương pháp phổ biến nhất hiện nay là lập
bảng giá định giá có điều kiện, theo đó ohí dịch vụ phụ thuộc vào mức độ sử
dụng từng loại dịch vụ tiền gửi. Phương pháp này cho phép khách hàng dễ
dàng lựa chọn kế hoách tiền gửi để tối đa hóa chi phí, qua đó ngân hàng cũng
nhận được các thông tin về thói quen sử dụng tiền của khách hàng.
IV. Cơ cấu tiền gửi trong NHTM
IV.1. Các yếu tố quyết định cơ cấu tiền gửi trong NHTM
Các yếu tố quyết định cơ cấu tiền gửi trong NHTM có thể kể đến hai loại
yếu tố cơ bản như sau:
+ Nhu cầu của công chúng đối với các loại hình dịch vụ gửi tiền: đây là
yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định cấu trúc ( cơ cấu ) nguồn vốn tiền gửi
của một ngân hàng.
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
23
Đề án lý thuyết tài chính tiền tệ
+ Chính sách huy động vốn của NHTM: bao gồm việc thu phí dịch vụ
tương quan lãi suất giữa các loại tiền gửi khác nhau, sự tích cực trong hoạt
động quảng cáo, thời gian và quy mô vốn đầu tư vào việc thu hút và duy trì
các khách hàng gửi tiền.
IV.2. Cơ cấu tiền gửi trong NHTM
Tiền gửi trong NHTM thường có ba cách phân loại như sau: Cách thứ
nhất, tiền gửi bao gồm tiền gửi không hưởng lãi và tiền gửi hưởng lãi. Cách
thứ hai bao gồm tiền gửi giao dịch và phi giao dịch. Cách thứ ba phổ biến hơn
cả bao gồm tiền gửi giao dịch, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi kỳ hạn. Trong
những năm gần đây, loại hình tiền gửi mà ngân hàng sẵn sàng cung cấp nhất
là tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm ( hai loại tiền gửi này thường chiến tới
khoảng 80% trong tổng nguồn vốn tiền gửi tại mọi ngân hàng trong khi tiền
gửi giao dịch chỉ chiếm 20% còn lại).
Nhìn chung, nếu được tự quyết định cho bản thân mình về cơ cấu tiền
gửi tối ưu, các ngân hàng sẽ hướng về một tỷ trọng cao đối với tiền gửi giao

doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài. Phần lớn lượng tiền này được huy động
thông qua các chi nhánh của ngân hàng tại nước ngoài. Tuy nhiên, loại tiền
này chiếm tỷ trọng nhỏ do lãi suất nội địa trong những năm gần đây giảm
đáng kể và các cuộc khủng hoảng nợ, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh
tế toàn cầu cũng tác động rất lớn khiến cho các ngân hàng giảm quy mô kế
hoạch bành trướng ra nước ngoài.
Khoản mục tiền gửi quan trọng cuối cùng là Tiền gửi của các tổ chức tín
dụng, các ngân hàng khác, bao gồm tiền gửi của ngân hàng đại lý – đây là tiền
gửi mà các ngân hàng muốn nắm giữ của nhau nhằm thanh toán cho các dịch
vụ đại lý. Ví dụ các dịch vụ như thanh toán bù trừ, thu séc…. Khi nhận tiền
gửi từ các ngân hàng khác, ngân hàng sẽ ghi vào tài khoản “ tiền gửi của ngân
hàng khác” (deposits due to banks) thuộc bên nguồn vốn trên bảng cân đối kế
Lăng Thị Kiều Oanh Tài chính Doanh nghiệp tiếng Pháp
25

Trích đoạn Quản lý lãi suất Quản lý quy mô và cơ cấu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status