LUẬN VĂN:
Vai trò của Nhà Nước trong sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay
LờI GIớI THIệu
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển, đạt được trình độ một nước phát triển
đều phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch sử. Đó là công nghiệp hoá. Trên thế giới
đã có nhiều nước tiến hành thành công công nghiệp hoá và hiện nay cũng còn nhiều
nước đang tiến hành công nghiệp hoá. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch
sử loài người, công nghiệp hoá ở những nước khác nhau có sự khác nhau về mô hình,
về thời gian thực hiện và do đó có sự khác nhau về ảnh hưởng của nó đến phát triển
kinh tế xã hội. Nước ta bắt đầu công nghiệp hoá từ năm 1960 theo đường lối do đại hội
đại biểu toàn quôc lần thứ 3 của đảng đề ra. Đến nay sự nghiệp đó vẫn tiếp tục. Nhưng
hoàn cảnh, điều kiện quốc tế và trong nước, trình độ phát triển kinh tế nươc ta hiện nay
khác nhiều so với năm 1960. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn phải giải
quyết như công nghiệp hoá có còn là tất yếu khách quan nữa không? Đánh giá như thế
nào về thực trạng công nghiệp hoá ở nước ta những năm qua? Mục tiêu, mô hình, nội
1.1. Vai trò của nhà nước trong quá trình công ng`hiệp hoá:
1.1.1.Quan niệm công nghiệp hoá -thực chất công nghiệp hoá:
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “công nghiệp hoá là taọ
đặc tính công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước ) các nhà
máy công nghiệp “. Quan niệm đơn giản trên có những mặt chưa hợp lí. Trước hết nó
không cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện. Thứ hai, trong nội dung trình bầy,
quan niệm này gần như đồng nhất quá trìng công nghiệp hoá với quá trình phát triển
công nghiệp. Và quan niệm này cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trình
công nghiệp hoá. Vì thế nó được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn.
Trong sách báo của liên xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến viết”công
nghiệp hoá là quá trình xây dựng đại cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp.
Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với nghành trung tâm là chế tạo máy”. Quan
niệm này được coi là hợp lí trong điều kiện của liên xô thời kì đó. Nhưng sẽ là rất sai
lầm nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển
trong điều kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa
sau ”công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận
ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế
nhiều nghành ở trong nước với kĩ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu này là có một bộ
phận chế biến sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm đạt
tới sự tiến bộ về kinh tế xã hội ”.
Hiện nay ở nước ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ trung
tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là ”quá trình thực hiện cách mạng kĩ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao
động xã hội và là quá trình tích luỹ xã hội chủ nghĩa không ngừng thực hiện tái sản
xuất mở rộng”.
Từ đó cho ta thấy”công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là quá trình xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thực
khám phá ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi trong sản xuất như năng
lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời.
Ba là, cách mạng về vật liệu mới: ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu tự
nhiên, con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo mới thay thế hiệu quả cho các
vật liệu tự nhiên.
Bốn là, cách mạng về công nghệ sinh học: các thành tựu của cuộc cách mạng này
đang đựơc áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp y tế hoá chất v. v.
Năm là, cách mạng về điện tử tin học: đây là một lĩnh vực mà hiện nay con người
đang đặc biệt quan tâm nhất là máy tính điện tử.
Đất nước ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ như vậy, vì thế nếu chỉ công nghiệp hoá nền kinh tế
thì sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, không thể theo kịp các nước
phát triển trong khu vực và thế giới. Công nghiệp hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa
học công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa học công
nghệ lần thứ hai. Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta với các nước phát
triển thì chúng ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hay
thực hiện công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Có như vậy thì sự nghiệp công
nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân mới có thể thành công, đưa đất nước ta trở thành một
nước công nghiệp hiện đại tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.3.Vai trò của Nhà Nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá:
Trước khi nói đến vai trò của nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải nói
đến vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của các
nước ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho thấy: nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với sự tăng trưởng kinh tế. Tuy kết quả đạt được không giống nhau nhưng từ thực
tiễn có thể rút ra những vai trò cơ bản sau của nhà nước trong quản lí vĩ mô: Nhà nước định hướng chiến lược đúng đắn mang tính chất tiên quyết đối với sự
phát triển kinh tế mỗi nước. Nhà nước có chính sách thu hút vốn đầu tư từ các nguồn
trong và ngoài nước, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích tư bản nước ngoài
chỉ tiêu quan trọng như: thu nhập quốc dân tính theo đầu người, tỷ trọng của các ngành
trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng đầu tư tỷ trọng xuất khẩu trong GDP. v. v. Mặt khác trong
từng lĩnh vực cũng phải có những bước đi cụ thể. Có thể hình dung sự nghiệp công
nghiệp hoá là một “cây mục tiêu” mà đỉnh của nó được lượng hoá bằng GDP tính theo
đầu người. Các cành nhánh của nó là những mục tiêu quan trọng như: cơ cấu kinh tế, cơ
cấu sở hữu. Mỗi mục tiêu có vị trí quan trọng khác nhau trong quá trình công nghiệp
hoá, có tác động qua lại thúc đẩy nhau phát triển nhưng bao trùm nhất, quyết định nhất
là làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh.
Nhà nước có vai trò quyết định trong việc định hướng cũng như thực hiện các bước đi
của quá trìng công nghiệp hoá nền kinh tế. Bởi vì chỉ có nhà nước mới có thể quyết định:
Mục tiêu chiến lược và kế hoạch tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh
tế trong từng giai đoạn. Huy động và phân bổ tập trung các nguồn lực cần thiết theo yêu
cầu công nghiệp hoá, cân đối và điều chỉnh thường xuyên quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá.
Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực trong và
ngoài nước để thực hiện nhanh, mạnh, chắc quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nước tổ lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về cả chất lượng và số
lượng để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ công chức nhà
nước, lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để đưa đất nước ta nhanh
chóng tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nước theo yêu cầu công nghiệp hoá.
Nhà nước thực hiện việc quản lý qúa trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và các
văn bản dưới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết như chế độ thống
kê kế toán và kiểm toán, chế độ tài chính và báo cáo tài chính công khai chính xác để
quản lý thống nhất.
Nhà nước phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hướng đúng đắn đã được xác định,
vì quá trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả về chiều
ngang và chiều dọc.
hoá nền kinh tế quốc dân. Vì thế có thể thấy công nghệ là một vấn đề rất quan trọng cần
phải giải quyết khi bắt tay vào thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Để giải quyết vấn đề này phải có những chính sách đúng đắn của nhà nước những
chính sách đó sẽ kích thích các đơn vị kinh tế nhanh chóng đổi mới công nghệ sản xuất
Chính sách đổi mới mở cửa làm các doanh nghiệp phải đổi mới và nâng cao trình
độ công nghệ. Cơ chế thị trường buộc mọi cơ sở phải tìm cách để tồn tại, để phát triển.
Muốn vậy chỉ có một con đường là đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Nhà
nước khuyến khích phát triển công nghệ bằng các chính sách: ưu đãi trong việc vay vốn
ngân hàng để đầu tư xây dựng, mở rộng cơ sở hiện có, mua máy móc thiết bị mới cần
thiết cho sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi trong xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu những
sản phẩm do cơ sở mình sản xuất, nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến của nước ngoài;
đưa cán bộ ra nước ngoài để tiếp cận thị trường, nghiên cứu học tập công nghệ mới.
Chính sách mở cửa với những điều kiện ưu đãi trong việc đầu tư nước ngoài đã tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến liên doanh, đem theo những máy móc thiết
bị phụ tùng hiện đại, những chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế
giới. Việc đó đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp cận và
tiếp nhận công nghệ tiên tiến hơn nhiều so với công nghệ hiện có trong nước. Nhà nước
cũng là nơi ban hành những chính sách, cơ chế ưu đãi làm động lực kích thích cán bộ
hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ trong nước, kích thích phát huy tính sáng
tạo nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước.
1.2.3.Nhà nước với vai trò phát triển nguồn vốn:
Thực tiễn cách mạng việt nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn nói là
quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng như đối với sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vấn đề huy động vốn cho quá trình công
nghiệp hoá có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Trước hết là huy động
vốn từ nội bộ nền kinh tế trong nước. Đây là nguồn vốn có tính quyết định, là nhân tố
nội lực. Nguồn vốn nội bộ được tạo ra từ sự liên doanh liên kết giữa các ngành, các lĩnh
vực, vùng, miền của nền kinh tế đất nước; từ sự phát triển mạnh mẽ của các công ty cổ
quá trình lâu dài và phức tạp. Nó tuân theo quy luật và tính quy luật của các quan hệ
cung cầu trên thị trờng. Điều đó có nghĩa là cơ chế thị trường và các bộ phận cấu thành: cung cầu, giá cả, cạnh tranh sẽ quyết định quá trình công nghiệp hoá, quyết định các
phương án phát triển lựa chọn đầu tư. v. v. Nhưng cơ chế thị trường có những khuyết tật
và hạn chế riêng của nó, cho nên nếu quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá lệ thuộc
vào cơ chế thị trường thì sẽ không đạt được những mục tiêu công bằng xã hội an ninh
quốc gia và sự bền vững của môi trường. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có sự
quản lý của nhà nước. Sự quản lý của nhà nước là một bộ phận không thể thiếu của cơ
chế quản lý quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
Nhà nước quản lý quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá phải là nhà nước của
dân do dân. Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công cụ chủ yếu
như định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế xã hội,
các quỹ quốc gia. v. v. Thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong điều kiện chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô sau:
Một là, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá-hiện
đại hoá, đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp thống
nhất, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho công
nghiệp hoá.
Hai là, định hướng cho quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá, trực tiếp đầu tư
vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa ; ổn
định môi trường kinh tế vĩ mô như chống lạm phát chống khủng hoảng, ngăn ngừa
những đột biến xấu trong nền kinh tế.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo yêu cầu của công nghiệp
hoá-hiện đại hoá, thực hiện đúng các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức
năng chủ sở hữu tài sản công của nhà nước.
Bốn là, khắc phục hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối thu
nhập quốc dân một cách công bằng, thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hóa gắn với
Định hướng phát triển vẫn còn khá dàn trải, chia đều cho các ngành, chưa khai
thác và động viên có hiệu quả mọi nguồn lực có sẵn trong nước. Tuy nhà nước ta đã cố
gắng tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phù hợp với khả năng tiếp thu, quản
lý và sử dụng công nghệ, nhân lực nhưng không có chính sách kiểm tra giám sát chặt
chẽ nên vẫn còn nhiều lãng phí, kém hiệu quả. Nhà nước chưa thúc đẩy nhanh chóng
quá trình đổi mới thiết bị, công cụ lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là
các ngành trọng điểm.
Việc lựa chọn mục tiêu các giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nền
kinh tế của nhà nước còn nhiều thiếu sót, chủ quan, nóng vội, duy ý chí, vợt quá khả
năng thực hiện. 2.1.2.Thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với bước đi của quá
trình công nghiệp hoá:
Nước ta khi bước vào thời kì đổi mới đã phải tiếp nhận thực trạng của một cơ cấu
kinh tế mang nặng đặc trưng của một nước nông nghiệp lạc hậu. Sau nhiều kế hoạch
phát triển kinh tế lần lượt các mô hình cơ cấu kinh tế được hình thành, song cho đến
cuối những năm 80 nền kinh tế về cơ bản vẫn là cơ cấu kinh tế cũ lạc hậu và kém hiêu
quả mà việc cấu trúc lại không phải là đơn giản. Qua hơn 10 năm đổi mới cơ cấu kinh tế
bước đầu có sự chuyển biến đáng khích lệ: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP
từ 22, 7% năm 1990 tăng lên 30, 1% năm 1995 ;tỷ trọng ngành dịch vụ từ 38, 6% năm
1990 tăng lên 42, 4% năm 1995. Nước ta đã chuyển hẳn sang một thời kì mới thời kì
đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá để đến năm 2000 về cơ bản nước ta trở thành một
nước công nghiệp.
Tuy vậy nhưng về cơ cấu ngành kinh tế, nhà nước chưa thúc đẩy nhanh các vùng
tập chung chuyên canh, chậm đưa công nghệ sinh học và các phương pháp canh tác tiên
tiến vào nông nghiệp; công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản xuất khẩu chưa phát
triển; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít oỉ nhỏ bé. Ngành cơ
khí chưa hướng vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm ngư nghiệp,
công nghệ.
- Tạo quyền chủ động cho chủ thể sử dụng (các doanh nghiệp ) quyết định lựa
chọn mua bán công nghệ kể cả việc trực tiếp quan hệ với bạn hàng nước ngoài.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh chủ động sử dụng có
hiệu quả hơn những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
- Mở ra những hình thức mới không những tiếp cận mà còn thu hút đợc công nghệ
tiên tiến của thế giới.
Báo cáo tại hội thảo kinh tế việt nam, bộ trưởng bộ khoa học công nghệ và môi
trường Đặng Hữu đã đánh giá: ”xem xét lại trong 363 dự án với tổng số vốn gồm 2, 7 tỷ
USD và các hợp đồng chuyển giao công nghệ khác thấy rằng nhiều công nghệ mới được
đưa vào việt nam đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ chung của sản xuất, nâng
cao tính cạnh tranh của sản phẩm”. Đồng thời bên cạnh những mặt tích cực những chính sách và cơ chế quản lý kinh
tế của nhà nước với việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ phục vụ công nghiệp
hoá cũng còn có những mặt hạn chế tồn tại. Đó là:
-Thiếu sự định hướng rõ rệt trong đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Hiện
nay, nhà nước vẫn chưa xác định được chiến lược phát triển khoa học và công nghệ
quốc gia làm cơ sở định hướng cho các hoạt động khoa học công nghệ và hoạch định
chính sách công nghệ. Do thiếu định hướng hoạt động và chính sách công nghệ, cụ thể
hoá định hướng thành các quy định quản lý nên phải thừa nhận rằng hiện tại các hoạt
động để phát triển công nghệ đang diễn ra một cách tự phát, thiếu sự quy hoạch và phối
hợp tổng thể cả trong ngành lẫn ở địa phương.
-Thiếu sự an tâm tin tưởng từ phía người đầu tư cho phát triển công nghệ đối với
tính ổn định nhất quán của các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà
nước. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự tin tưởng an tâm từ phía người đầu tư trong và
ngoài nước là một yêu cầu rất quan trọng khi hợp tác. Những đổi mới trong những chính
sách và cơ chế quản lý kinh tế thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu này. Nhiều
văn bản của đảng nhà nước, quốc hội đều nhận xét về môi trường kinh tế hiên nay là “
2.3. Phát triển nguồn vốn
2.3.1.Thực trạng huy động vốn của nhà nước
Nước ta cũng như bất kỳ một nước nào trên thế giới muốn thực hiện công nghiệp
hoá hiện đại hoá thì cần phải có vốn. Từ năm 1992 trở lại, nhờ thực hiện chính sách tài
chính thắt chặt, nhà nước đã chấm dứt được tình trạng phát hành tiền cho tiêu dùng của
ngân sách, số thu không những đã bù đắp số chi thờng xuyên mà còn dành ra một phần
để tích luỹ đầu tư cho công nghiệp hoá hiên đại hoá. Nhưng nếu chỉ dùng số tiền tích
luỹ đó thì sẽ không đủ để phát triển kinh tế. Do đó nhà nước đã có những biện pháp để
huy động vốn trong và ngoài nước. Việc huy động vốn trong nước bằng các hình thứcg
tín phiếu, trái phiếu tuy có phát triển song số vốn huy động được còn rất hạn chế và chủ
yếu vẫn là nguồn vốn ngắn hạn ( chiếm 90% doanh số phát hành ). Hình thức huy động
vốn còn đơn điệu. Hình thức tín phiếu kho bạc với thời hạn dài ( 3 năm ) hầu như chưa
nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của dân cư, và chủ yếu là dùng biện pháp bắt buộc
các doanh nghiệp phải mua. Tuy nhà nước đã thiết lập được hệ thống ngân hàng hai
cấp: ngân hàng nhà nước quan lý nhà nước về tiền tệ tín dụng và ngân hàng ngân hàng
thương mại làm nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ trên nguyên tắc đi vay để cho vay. Nhưng, tổng số vốn huy động trong dân cư bằng các hình thức qua kênh ngân sách và ngân
hàng như tín phiếu, trái phiếu kho bạc, tiền tiết kiệm … gần đây mới chỉ đạt 8000 tỷ
đồng / năm, chiếm khoảng 5% GDP và chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Như vậy, nếu so
với các nước cùng khu vực đông nam á thì tỷ lệ vốn trong nước để đầu tư cho công
nghiệp hoá hiên đại của nước ta còn thấp. Nguyên nhân của tình hình trên là do một số
chính sách tài chính tiền tệ hiện nay chưa tạo điều kiện và khuyến khích thoả đáng các
doanh nghiệp tự đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh như chính sách thuế, chế độ thu
khấu hao. Các hình thức huy động vốn chưa được mở rộng. Người dân chưa thật tin
tưởng vào sự ổn định kinh tế, còn sợ lạm phát khủng hoảng. Kế dến là nhà nước chưa có
nhiều hình thức huy động vốn linh hoạt, có lãi suất hấp dẫn cũng như chưa tạo ra được
môi trường pháp lý môi trường kinh tế và bộ máy nhân sự đáp ứng yêu cầu của kinh tế
thị trường.
vực thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá. Một số năm do bội chi
nên nhà nước đã phải dùng cả vốn vay của nước ngoài để tiêu dùng cho ngân sách làm
đồng vốn vay không phát huy được hiệu quả. Nhà nước khá chú trọng vay nợ nhưng
xem nhẹ hiệu quả sử dụng vốn vay và nghĩa vụ trả nợ. Tính chất bao cấp trong việc vay
và sử dụng vốn còn khá phổ biến và nghiêm trọng. Nhà nước chưa có một chiến lược
vay nợ, tiếp nhận và sử dụng vốn vay nước ngoài một cách chủ động, có tính đến nhu
cầu khả năng hấp thụ và trả nợ của đất nước nên việc vay nợ còn diễn ra rất tuỳ tiện.
Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đầu tư vẫn còn tồn tại, người dân chưa thật tin
tưởng vào đường lối đổi mới của nhà nước. Trong một số chính sách kinh tế tài chính,
nhà nước chưa có các biện pháp khuyến khích mạnh mẽ đầu tư trong và ngoài nước vào
các lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn cần phát triển nhanh chóng để phục vụ công nghiệp
hoá. Trong những năm tới, để quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và sản xuất kinh
doanh đạt hiệu quả kinh tế cao Nhà Nước tất yếu phải bảo toàn phát triển và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn hơn nữa.
2.4. Quản lý quá trình công nghiệp hoá
2.4. 1.Thực trạng vai trò quản lý của nhà nước
Các biện pháp quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chủ yếu nhằm vào
những hoạt động điều hành chỉ đạo việc hình thành và triển khai thực hiện chủ trương
của nhà nước trong nền kinh tế. Các biện pháp quản lý của nhà nước ta trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Trong nhận thức về công nghiệp hoá đã có những nhìn
nhận mới cả về mục tiêu, nội dung, quy mô lẫn biện pháp quản lý. Mục tiêu của công
nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay là tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật
và trình độ công nghệ, nâng cao trình độ hiện đại hoá trong các ngành công nghiệp và
các ngành kinh tế quốc dân.
Chủ trương đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đã được xác định toàn diện
thích hợp hơn. Đó là thực hiện công nghiệp hoá toàn diện trong các ngành kinh tế quốc
dân, có trọng điểm là công nghiệp, ưu tiên ngành công nghiệp chế biến; có sự kết hợp
chặt chẽ giữa trung ương và địa phương trong đó phải ưu tiên cho các vùng trọng điểm.
hoá các công nghệ truyền thống như thế nào. Việc kiểm soát nhập công nghệ qua các dự
án đầu tư của nớc ngoài cũng không chặt chẽ, diễn ra tình trạng nhập các công nghệ
thấp công nghệ loại thải vào nước ta. Chúng ta lại quá thiếu các thông tin về công nghệ.
Do vậy khi được nước ngoài giới thiệu về một công nghệ nào đó thì không có điều kiện
để so sánh nhận biết được trình độ công nghệ đó tiên tiến mức nào, ưu điểm nhược điểm
so với công nghệ cùng loại khác làm nhà nước rất khó khăn trong quá trình quản lý, ảnh
hưởng lớn tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta.
Chương 3: một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá
ở nước ta trong thời gian tới
3.1. Định hướng quá trình công nghiệp hoá
3.1.1.Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá
Để nâng cao vai trò của mình trong việc định hướng cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế, nhà nước cần phải:
Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế nhất là kinh tế nhà nước, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Nhà nước phải sớm chủ động nắm bắt sự tác động khách quan của các quy luật
trong nền kinh tế thị trường để định hướng đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, xây dựng thống nhất chặt chẽ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, định hướng đúng
đắn kế hoạch thực hiện quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhà nước phải nắm
vững nhu cầu và khả năng tiến hành công nghiệp hoá, tập trung đúng mức vào những
ngành, địa phương, lĩnh vực quan trọng nhất để có thể tạo ra sự tăng trưởng nhanh với
hiệu quả kinh tế cao.
3.1.2.Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi của công
nghiệp hoá hiên đại hoá
Coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và văn hoá, giữ gìn bản sắc
và truyền thống văn hoá dân tộc với tiến lên hiện đại trong phát triển đô thị.
3.2. Phát triển khoa học công nghệ
Trước hết cần khẳng định sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ nước ta trong thời
gian qua. Những chính sách đúng đắn, những định hướng chiến lược về khoa học công
nghệ do nhà nước ban hành đã có tác dụng kích thích các cơ sở sản xuất kinh doanh đổi
mới và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất. Tuy vậy so với yêu cầu của công cuộc đổi mới kinh tế nói chung và công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng thì nhà
nước cha hỗ trợ được nhiều cho phát triển khoa học công nghệ. Vì thế, nhà nước cần
ban hành thay đổi một số chính sách nhằm phát triển mạnh công nghệ theo hướng công
nghiệp hoá. Phương hướng chung là: hình thành cơ cấu kỹ thuật nhiều tầng, kết hợp
nhiều trình độ, nhiều quy mô tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ
truyền thống. Trong những năm trước mắt, coi trọng loại công nghệ có suất đầu tư thấp
thu hồi vốn nhanh, tạo thêm việc làm cho người lao động. Cụ thể:
3.2.1.Công nghệ nước ngoài
Nhà nước trong việc hoạch định chính sách phát triển công nghệ phải tạo ra môi
trường thuận lợi nhất cho việc nhập khẩu công nghệ, nhằm tăng các nguồn cung công
nghệ. Phải chú ý đổi mới và hoàn thiện các quy định về nhập khẩu, đầu tư nước ngoài,
chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam.
Cố gắng tranh thủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư
nước ngoài. Thực hiện giám định ngiêm ngặt việc nhập công nghệ và thiết bị. Nhà nước
cần đặt ra một cách ngiêm túc ngay từ đầu vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hóa để tránh những hậu quả xấu phải trả giá đắt sau này. Đầu
tư nước ngoài bắt buộc phải tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường, nên bố trí
các cụm công nghiệp phân tán ở nhiều địa bàn vừa là một biện pháp tiết kiệm vừa để
hạn chế ô nhiễm. Trong quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ phải rất tỉnh táo để
tránh nhập công nghệ lỗi thời do các nước thải ra, tránh không để cho Việt Nam trở
thành “ bãi thải công nghệ “ của các nước phát triển.