LUẬN VĂN: Vai trò của Nhà Nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta hiện nay - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Vai trò của Nhà Nước trong sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại
hoá ở nước ta hiện nay
LờI GIớI THIệu

Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển, đạt được trình độ một nước phát triển
đều phải trải qua nấc thang có tính tất yếu lịch sử. Đó là công nghiệp hoá. Trên thế giới đã
có nhiều nước tiến hành thành công công nghiệp hoá và hiện nay cũng còn nhiều nước
đang tiến hành công nghiệp hoá. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử loài
người, công nghiệp hoá ở những nước khác nhau có sự khác nhau về mô hình, về thời gian

giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước ta trong thời gian tới. NộI DUNG

CHƯƠNG 1: TíNH TấT YếU KHáCH QUAN VAI TRò CủA NHà NướC TRONG
QUá TRìNH CôNG NGHIệP HOá
1.1. Vai trò của nhà nước trong quá trình công ng`hiệp hoá:
1.1.1.Quan niệm công nghiệp hoá -thực chất công nghiệp hoá:
Quan niệm đơn giản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “công nghiệp hoá là taọ đặc
tính công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước ) các nhà máy
công nghiệp “. Quan niệm đơn giản trên có những mặt chưa hợp lí. Trước hết nó không
cho thấy mục tiêu của quá trình cần thực hiện. Thứ hai, trong nội dung trình bầy, quan
niệm này gần như đồng nhất quá trìng công nghiệp hoá với quá trình phát triển công
nghiệp. Và quan niệm này cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trình công nghiệp
hoá. Vì thế nó được sử dụng rất hạn chế trong thực tiễn.
Trong sách báo của liên xô (trước đây) tồn tại một định nghĩa phổ biến viết”công
nghiệp hoá là quá trình xây dựng đại cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp.
Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với nghành trung tâm là chế tạo máy”. Quan
niệm này được coi là hợp lí trong điều kiện của liên xô thời kì đó. Nhưng sẽ là rất sai lầm
nếu coi đó là quan niệm phổ biến để áp dụng cho tất cả các nước đang phát triển trong điều
kiện hiện nay.
Năm 1963 tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa sau
”công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày
càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều
nghành ở trong nước với kĩ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu này là có một bộ phận chế
biến sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm đạt tới sự tiến bộ
về kinh tế xã hội ”.
Hiện nay ở nước ta, công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa được coi là nhiệm vụ trung
tâm của thời kì quá độ. Đảng ta đã xác định thực chất của công nghiệp hoá xã hội chủ

thay thế con ngời điều khiển quá trình sản xuất. Hai là, cách mạng về năng lượng: bên cạnh những năng lượng truyền thống mà con
người đã sử dụng trước kia như nhiệt điện, thuỷ điện, thì ngày nay con người ngày càng
khám phá ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi trong sản xuất như năng
lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời.
Ba là, cách mạng về vật liệu mới: ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu tự nhiên,
con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo mới thay thế hiệu quả cho các vật liệu
tự nhiên.
Bốn là, cách mạng về công nghệ sinh học: các thành tựu của cuộc cách mạng này
đang đựơc áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp y tế hoá chất v. v.
Năm là, cách mạng về điện tử tin học: đây là một lĩnh vực mà hiện nay con người
đang đặc biệt quan tâm nhất là máy tính điện tử.
Đất nước ta tiến hành công nghiệp hoá trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ như vậy, vì thế nếu chỉ công nghiệp hoá nền kinh tế thì
sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, không thể theo kịp các nước phát
triển trong khu vực và thế giới. Công nghiệp hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa học
công nghệ lần thứ nhất, hiện đại hoá có thể coi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần
thứ hai. Muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu giữa nước ta với các nước phát triển thì chúng
ta phải thực hiện đồng thời cả hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hay thực hiện công
nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá. Có như vậy thì sự nghiệp công nghiệp hoá nền kinh
tế quốc dân mới có thể thành công, đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện
đại tiến lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.3.Vai trò của Nhà Nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá:
Trước khi nói đến vai trò của nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hoá phải nói đến
vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Nghiên cứu quá trình phát triển của các nước
ASEAN trong mấy thập kỉ qua cho thấy: nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
tăng trưởng kinh tế. Tuy kết quả đạt được không giống nhau nhưng từ thực tiễn có thể rút
ra những vai trò cơ bản sau của nhà nước trong quản lí vĩ mô:

thể nêu ra đại thể cho mỗi thời kì nhưng phải đạt được một số chỉ tiêu quan trọng như: thu
nhập quốc dân tính theo đầu người, tỷ trọng của các ngành trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng
đầu tư tỷ trọng xuất khẩu trong GDP. v. v. Mặt khác trong từng lĩnh vực cũng phải có những bước đi cụ thể. Có thể hình dung sự nghiệp công nghiệp hoá là một “cây mục tiêu”
mà đỉnh của nó được lượng hoá bằng GDP tính theo đầu người. Các cành nhánh của nó là
những mục tiêu quan trọng như: cơ cấu kinh tế, cơ cấu sở hữu. Mỗi mục tiêu có vị trí quan
trọng khác nhau trong quá trình công nghiệp hoá, có tác động qua lại thúc đẩy nhau phát
triển nhưng bao trùm nhất, quyết định nhất là làm cho dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng văn minh.
Nhà nước có vai trò quyết định trong việc định hướng cũng như thực hiện các bước đi
của quá trìng công nghiệp hoá nền kinh tế. Bởi vì chỉ có nhà nước mới có thể quyết định:
Mục tiêu chiến lược và kế hoạch tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá nền kinh tế
trong từng giai đoạn. Huy động và phân bổ tập trung các nguồn lực cần thiết theo yêu cầu
công nghiệp hoá, cân đối và điều chỉnh thường xuyên quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá.
Đề ra các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực trong và ngoài
nước để thực hiện nhanh, mạnh, chắc quá trình công nghiệp hoá.
Nhà nước tổ lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về cả chất lượng và số lượng
để quản lý có hiệu quả, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ công chức nhà nước,
lựa chọn các cán bộ có khả năng, trình độ kinh nghiệm để đưa đất nước ta nhanh chóng
tiến lên hiện đại hoá hệ thống quản lý nhà nước theo yêu cầu công nghiệp hoá.
Nhà nước thực hiện việc quản lý qúa trình công nghiệp hoá bằng pháp luật và các văn
bản dưới luật. Hoàn thiện và xây dựng mới các công cụ cần thiết như chế độ thống kê kế
toán và kiểm toán, chế độ tài chính và báo cáo tài chính công khai chính xác để quản lý
thống nhất.
Nhà nước phối hợp, điều hoà các hoạt động trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá nền kinh tế quốc dân theo mục tiêu và định hướng đúng đắn đã được xác định, vì quá
trình công nghiệp hoá chỉ có thể thành công khi có sự phối hợp cả về chiều ngang và chiều

cấu lao động, dân cư theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp, dịch vụ và những lĩnh vực
có vai trò quan trọng đối với việc hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân. Vì thế có thể thấy
công nghệ là một vấn đề rất quan trọng cần phải giải quyết khi bắt tay vào thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá.
Để giải quyết vấn đề này phải có những chính sách đúng đắn của nhà nước những
chính sách đó sẽ kích thích các đơn vị kinh tế nhanh chóng đổi mới công nghệ sản xuất Chính sách đổi mới mở cửa làm các doanh nghiệp phải đổi mới và nâng cao trình độ
công nghệ. Cơ chế thị trường buộc mọi cơ sở phải tìm cách để tồn tại, để phát triển.
Muốn vậy chỉ có một con đường là đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Nhà
nước khuyến khích phát triển công nghệ bằng các chính sách: ưu đãi trong việc vay vốn
ngân hàng để đầu tư xây dựng, mở rộng cơ sở hiện có, mua máy móc thiết bị mới cần thiết
cho sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi trong xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu những sản
phẩm do cơ sở mình sản xuất, nhập khẩu máy móc thiết bị tiên tiến của nước ngoài; đưa
cán bộ ra nước ngoài để tiếp cận thị trường, nghiên cứu học tập công nghệ mới. Chính sách
mở cửa với những điều kiện ưu đãi trong việc đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện cho các
nhà đầu tư nước ngoài tìm đến liên doanh, đem theo những máy móc thiết bị phụ tùng hiện
đại, những chuyên gia kỹ thuật, chuyên gia quản lý tiên tiến của thế giới. Việc đó đã tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước nhanh chóng tiếp cận và tiếp nhận công nghệ
tiên tiến hơn nhiều so với công nghệ hiện có trong nước. Nhà nước cũng là nơi ban hành
những chính sách, cơ chế ưu đãi làm động lực kích thích cán bộ hoạt động trong lĩnh vực
khoa học công nghệ trong nước, kích thích phát huy tính sáng tạo nghiên cứu triển khai
khoa học công nghệ mới phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
1.2.3.Nhà nước với vai trò phát triển nguồn vốn:
Thực tiễn cách mạng việt nam cho thấy nhân tố hàng đầu, nếu không muốn nói là
quan trọng nhất đối với công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng như đối với sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế là phải có vốn lớn. Vấn đề huy động vốn cho quá trình công nghiệp
hoá có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Trước hết là huy động vốn từ nội bộ
nền kinh tế trong nước. Đây là nguồn vốn có tính quyết định, là nhân tố nội lực. Nguồn

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Công nghiệp hoá-hiện đại hoá là một
quá trình lâu dài và phức tạp. Nó tuân theo quy luật và tính quy luật của các quan hệ cung
cầu trên thị trờng. Điều đó có nghĩa là cơ chế thị trường và các bộ phận cấu thành: cung
cầu, giá cả, cạnh tranh sẽ quyết định quá trình công nghiệp hoá, quyết định các phương án
phát triển lựa chọn đầu tư. v. v. Nhưng cơ chế thị trường có những khuyết tật và hạn chế
riêng của nó, cho nên nếu quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá lệ thuộc vào cơ chế thị
trường thì sẽ không đạt được những mục tiêu công bằng xã hội an ninh quốc gia và sự bền
vững của môi trường. Thực tế khách quan này đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước. Sự
quản lý của nhà nước là một bộ phận không thể thiếu của cơ chế quản lý quá trình công
nghiệp hoá-hiện đại hoá. Nhà nước quản lý quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá phải là nhà nước của dân
do dân. Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình thông qua các công cụ chủ yếu như
định hướng kế hoạch phát triển, hệ thống luật pháp, các chính sách kinh tế xã hội, các quỹ
quốc gia. v. v. Thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá trong điều kiện chuyển sang nền
kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô sau:
Một là, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá-hiện đại
hoá, đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội, thiết lập khuôn khổ luật pháp thống nhất, có
hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho công nghiệp
hoá.
Hai là, định hướng cho quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá, trực tiếp đầu tư vào
một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa ; ổn định
môi trường kinh tế vĩ mô như chống lạm phát chống khủng hoảng, ngăn ngừa những đột
biến xấu trong nền kinh tế.
Ba là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo yêu cầu của công nghiệp hoá-
hiện đại hoá, thực hiện đúng các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng chủ
sở hữu tài sản công của nhà nước.
Bốn là, khắc phục hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối thu nhập

tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài phù hợp với khả năng tiếp thu, quản lý và sử
dụng công nghệ, nhân lực nhưng không có chính sách kiểm tra giám sát chặt chẽ nên vẫn
còn nhiều lãng phí, kém hiệu quả. Nhà nước chưa thúc đẩy nhanh chóng quá trình đổi mới
thiết bị, công cụ lao động trong các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là các ngành trọng
điểm.
Việc lựa chọn mục tiêu các giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nền
kinh tế của nhà nước còn nhiều thiếu sót, chủ quan, nóng vội, duy ý chí, vợt quá khả năng
thực hiện. 2.1.2.Thực trạng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với bước đi của quá
trình công nghiệp hoá:
Nước ta khi bước vào thời kì đổi mới đã phải tiếp nhận thực trạng của một cơ cấu
kinh tế mang nặng đặc trưng của một nước nông nghiệp lạc hậu. Sau nhiều kế hoạch phát
triển kinh tế lần lượt các mô hình cơ cấu kinh tế được hình thành, song cho đến cuối những
năm 80 nền kinh tế về cơ bản vẫn là cơ cấu kinh tế cũ lạc hậu và kém hiêu quả mà việc cấu
trúc lại không phải là đơn giản. Qua hơn 10 năm đổi mới cơ cấu kinh tế bước đầu có sự
chuyển biến đáng khích lệ: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22, 7% năm
1990 tăng lên 30, 1% năm 1995 ;tỷ trọng ngành dịch vụ từ 38, 6% năm 1990 tăng lên 42,
4% năm 1995. Nước ta đã chuyển hẳn sang một thời kì mới thời kì đẩy mạnh công nghiệp
hoá hiện đại hoá, phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
hiện đại hoá để đến năm 2000 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Tuy vậy nhưng về cơ cấu ngành kinh tế, nhà nước chưa thúc đẩy nhanh các vùng tập
chung chuyên canh, chậm đưa công nghệ sinh học và các phương pháp canh tác tiên tiến
vào nông nghiệp; công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản xuất khẩu chưa phát triển; công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng cơ bản thiết yếu còn ít oỉ nhỏ bé. Ngành cơ khí chưa hướng
vào sản xuất công cụ thiết bị phục vụ sản xuất nông lâm ngư nghiệp, thiết bị phục vụ công
nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản. v. v.
Nhà nước chưa chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi của công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Tỷ trọng GDP của ngành nông nghiệp vẫn còn ở mức cao, tỷ suất

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sản xuất kinh doanh chủ động sử dụng có
hiệu quả hơn những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
- Mở ra những hình thức mới không những tiếp cận mà còn thu hút đợc công nghệ
tiên tiến của thế giới.
Báo cáo tại hội thảo kinh tế việt nam, bộ trưởng bộ khoa học công nghệ và môi
trường Đặng Hữu đã đánh giá: ”xem xét lại trong 363 dự án với tổng số vốn gồm 2, 7 tỷ
USD và các hợp đồng chuyển giao công nghệ khác thấy rằng nhiều công nghệ mới được
đưa vào việt nam đã góp phần nâng cao trình độ công nghệ chung của sản xuất, nâng cao
tính cạnh tranh của sản phẩm”. Đồng thời bên cạnh những mặt tích cực những chính sách và cơ chế quản lý kinh tế
của nhà nước với việc đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ phục vụ công nghiệp hoá
cũng còn có những mặt hạn chế tồn tại. Đó là:
-Thiếu sự định hướng rõ rệt trong đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ. Hiện nay,
nhà nước vẫn chưa xác định được chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia
làm cơ sở định hướng cho các hoạt động khoa học công nghệ và hoạch định chính sách
công nghệ. Do thiếu định hướng hoạt động và chính sách công nghệ, cụ thể hoá định
hướng thành các quy định quản lý nên phải thừa nhận rằng hiện tại các hoạt động để phát
triển công nghệ đang diễn ra một cách tự phát, thiếu sự quy hoạch và phối hợp tổng thể cả
trong ngành lẫn ở địa phương.
-Thiếu sự an tâm tin tưởng từ phía người đầu tư cho phát triển công nghệ đối với tính
ổn định nhất quán của các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước. Kinh
nghiệm quốc tế cho thấy sự tin tưởng an tâm từ phía người đầu tư trong và ngoài nước là
một yêu cầu rất quan trọng khi hợp tác. Những đổi mới trong những chính sách và cơ chế
quản lý kinh tế thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu này. Nhiều văn bản của đảng
nhà nước, quốc hội đều nhận xét về môi trường kinh tế hiên nay là “ chính sách quản lý vĩ
mô có nhiều sơ hở và thiếu sót, kỉ luật phép nước không ngiêm”. Nhà nước cần đổi mới
và hoàn thiện các chính sách kinh tế nhằm tạo ra niềm tin cho các hoạt động đầu tư phát
triển khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá.

thắt chặt, nhà nước đã chấm dứt được tình trạng phát hành tiền cho tiêu dùng của ngân
sách, số thu không những đã bù đắp số chi thờng xuyên mà còn dành ra một phần để tích
luỹ đầu tư cho công nghiệp hoá hiên đại hoá. Nhưng nếu chỉ dùng số tiền tích luỹ đó thì sẽ
không đủ để phát triển kinh tế. Do đó nhà nước đã có những biện pháp để huy động vốn
trong và ngoài nước. Việc huy động vốn trong nước bằng các hình thứcg tín phiếu, trái
phiếu tuy có phát triển song số vốn huy động được còn rất hạn chế và chủ yếu vẫn là
nguồn vốn ngắn hạn ( chiếm 90% doanh số phát hành ). Hình thức huy động vốn còn đơn
điệu. Hình thức tín phiếu kho bạc với thời hạn dài ( 3 năm ) hầu như chưa nhận được sự
hưởng ứng nhiệt tình của dân cư, và chủ yếu là dùng biện pháp bắt buộc các doanh nghiệp
phải mua. Tuy nhà nước đã thiết lập được hệ thống ngân hàng hai cấp: ngân hàng nhà nước
quan lý nhà nước về tiền tệ tín dụng và ngân hàng ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ
kinh doanh tiền tệ trên nguyên tắc đi vay để cho vay. Nhưng, tổng số vốn huy động trong dân cư bằng các hình thức qua kênh ngân sách và ngân hàng như tín phiếu, trái phiếu kho
bạc, tiền tiết kiệm … gần đây mới chỉ đạt 8000 tỷ đồng / năm, chiếm khoảng 5% GDP và
chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn. Như vậy, nếu so với các nước cùng khu vực đông nam á
thì tỷ lệ vốn trong nước để đầu tư cho công nghiệp hoá hiên đại của nước ta còn thấp.
Nguyên nhân của tình hình trên là do một số chính sách tài chính tiền tệ hiện nay chưa tạo
điều kiện và khuyến khích thoả đáng các doanh nghiệp tự đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh như chính sách thuế, chế độ thu khấu hao. Các hình thức huy động vốn chưa được
mở rộng. Người dân chưa thật tin tưởng vào sự ổn định kinh tế, còn sợ lạm phát khủng
hoảng. Kế dến là nhà nước chưa có nhiều hình thức huy động vốn linh hoạt, có lãi suất hấp
dẫn cũng như chưa tạo ra được môi trường pháp lý môi trường kinh tế và bộ máy nhân sự
đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường.
2.3.2.Thực trạng vai trò của nhà nước trong việc sử dụng và quản lý vốn:
Những năm gần đây, đầu tư của nhà nước bước đầu đã có một số thay đổi theo chiều
hướng tốt, một số công trình đã phát huy tác dụng làm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật
cho bước mới thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá. Tuy nhiên nhìn chung việc sử dụng vốn
đầu tư của nhà nước đến nay vẫn còn rất lãng phí và kém hiệu quả. Quan niệm của nhà

dụng vốn vay nước ngoài một cách chủ động, có tính đến nhu cầu khả năng hấp thụ và trả
nợ của đất nước nên việc vay nợ còn diễn ra rất tuỳ tiện.
Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đầu tư vẫn còn tồn tại, người dân chưa thật tin
tưởng vào đường lối đổi mới của nhà nước. Trong một số chính sách kinh tế tài chính, nhà
nước chưa có các biện pháp khuyến khích mạnh mẽ đầu tư trong và ngoài nước vào các
lĩnh vực, ngành nghề mũi nhọn cần phát triển nhanh chóng để phục vụ công nghiệp hoá.
Trong những năm tới, để quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và sản xuất kinh doanh
đạt hiệu quả kinh tế cao Nhà Nước tất yếu phải bảo toàn phát triển và nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn hơn nữa.
2.4. Quản lý quá trình công nghiệp hoá
2.4. 1.Thực trạng vai trò quản lý của nhà nước
Các biện pháp quản lý quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá chủ yếu nhằm vào
những hoạt động điều hành chỉ đạo việc hình thành và triển khai thực hiện chủ trương của
nhà nước trong nền kinh tế. Các biện pháp quản lý của nhà nước ta trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tiến bộ. Trong nhận thức về công nghiệp hoá đã có những nhìn nhận mới
cả về mục tiêu, nội dung, quy mô lẫn biện pháp quản lý. Mục tiêu của công nghiệp hoá
hiện đại hoá trong giai đoạn hiện nay là tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ
công nghệ, nâng cao trình độ hiện đại hoá trong các ngành công nghiệp và các ngành kinh
tế quốc dân.
Chủ trương đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đã được xác định toàn diện thích
hợp hơn. Đó là thực hiện công nghiệp hoá toàn diện trong các ngành kinh tế quốc dân, có
trọng điểm là công nghiệp, ưu tiên ngành công nghiệp chế biến; có sự kết hợp chặt chẽ
giữa trung ương và địa phương trong đó phải ưu tiên cho các vùng trọng điểm. Thực hiện
công nghệp hoá hiện đại hoá với sự đầu tư phát triển toàn diện nhưng trong đó chú trọng
nhất về công nghệ và tri thức công nghệ.
Biện pháp thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng được nhà nước điều chỉnh
trong đó rõ nhất là: thực hiện quy hoạch phát triển toàn diện kinh tế xã hội theo từng cấp,
căn cứ vào điều kiện và lợi thế so sánh cụ thể mà xác định quy hoạch xây dựng các công

nghiệp hoá hiện đại hoá của nước ta.
Chương 3: một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của nhà nước trong quá trình công nghiệp hoá
ở nước ta trong thời gian tới

3.1. Định hướng quá trình công nghiệp hoá
3.1.1.Xác định một cách toàn diện thích hợp hơn quá trình công nghiệp hoá
Để nâng cao vai trò của mình trong việc định hướng cho quá trình công nghiệp hoá
hiện đại hoá nền kinh tế, nhà nước cần phải:
Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế nhất là kinh tế nhà nước, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế, hỗ trợ và thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Nhà nước phải sớm chủ động nắm bắt sự tác động khách quan của các quy luật trong
nền kinh tế thị trường để định hướng đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế xã hội, xây
dựng thống nhất chặt chẽ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, định hướng đúng đắn kế
hoạch thực hiện quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhà nước phải nắm vững nhu cầu
và khả năng tiến hành công nghiệp hoá, tập trung đúng mức vào những ngành, địa phương,
lĩnh vực quan trọng nhất để có thể tạo ra sự tăng trưởng nhanh với hiệu quả kinh tế cao.
3.1.2.Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với bước đi của công nghiệp
hoá hiên đại hoá
Trong những năm trước mắt cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta sẽ được xác định là cơ
cấu công nông nghiệp dịch vụ. Phương hướng phát triển của các ngành trong cơ cấu ấy
phải đáp ứng được mô hình chiến lược của công nghiệp hoá. Cụ thể là:
-Nhà nước đẩy mạnh khai thác có hiệu quả tiềm năng đa dạng về nông lâm ngư
nghiệp, thúc đẩy nhanh việc hình thành các vùng tập trung, chuyên canh, đa công nghệ
sinh học và các phương pháp canh tác tiên tiến vào nông nghiệp thúc đẩy công nghiệp hoá

tế nói chung và công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá nói riêng thì nhà nước cha hỗ trợ
được nhiều cho phát triển khoa học công nghệ. Vì thế, nhà nước cần ban hành thay đổi một
số chính sách nhằm phát triển mạnh công nghệ theo hướng công nghiệp hoá. Phương
hướng chung là: hình thành cơ cấu kỹ thuật nhiều tầng, kết hợp nhiều trình độ, nhiều quy
mô tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ truyền thống. Trong những năm
trước mắt, coi trọng loại công nghệ có suất đầu tư thấp thu hồi vốn nhanh, tạo thêm việc
làm cho người lao động. Cụ thể:
3.2.1.Công nghệ nước ngoài
Nhà nước trong việc hoạch định chính sách phát triển công nghệ phải tạo ra môi
trường thuận lợi nhất cho việc nhập khẩu công nghệ, nhằm tăng các nguồn cung công
nghệ. Phải chú ý đổi mới và hoàn thiện các quy định về nhập khẩu, đầu tư nước ngoài,
chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam.
Cố gắng tranh thủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư nước
ngoài. Thực hiện giám định ngiêm ngặt việc nhập công nghệ và thiết bị. Nhà nước cần đặt
ra một cách ngiêm túc ngay từ đầu vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp
hoá hiện đại hóa để tránh những hậu quả xấu phải trả giá đắt sau này. Đầu tư nước ngoài
bắt buộc phải tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường, nên bố trí các cụm công
nghiệp phân tán ở nhiều địa bàn vừa là một biện pháp tiết kiệm vừa để hạn chế ô nhiễm.
Trong quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ phải rất tỉnh táo để tránh nhập công nghệ
lỗi thời do các nước thải ra, tránh không để cho Việt Nam trở thành “ bãi thải công nghệ “
của các nước phát triển.
Gấp rút nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia nhằm đổi mới và làm chủ
công nghệ nhập, sáng tạo công nghệ mới. Ưu tiên nghiên cứu ứng dụng tập trung cho các
lĩnh vực công nghệ điện tử và tin học, công nghệ sinh học, hoá học, chế tạo và gia công vật
liệu nhất là nguồn nguyên vật liệu trong nước.
3.2.2.Công nghệ và cán bộ khoa học trong nước
Gắn liền với các biện pháp kích thích công nghệ nhập, nhà nước cũng cần tạo ra sự
phát triển mạnh mẽ đối với công nghệ sản xuất trong nước. Những văn bản quản lý của nhà

chính sách và biện pháp nhằm tạo nguồn thông tin, chuẩn hoá các thông tin phát sinh, trao
đổi bảo vệ thông tin công nghệ. Có như vậy mới đảm bảo phổ cập thông tin công nghệ, tạo
cơ sở thông tin rộng rãi cho các quyết định về mua bán trao đổi công nghệ, nhanh chóng

Trích đoạn 2.Xây dựng hệ thống luật kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status