Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
1
TIỂU LUẬN
Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Tiểu luận gồm 2 chương:
Chương 1. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Chương 2. Dự báo nhu cầu lao động và đề xuất giải pháp phát triển nguồn
nhân lực du lịch Việt Nam
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM
1.1. Số lượng và cơ cấu lao động
1.1.1. Số lượng lao động
Năm 2003, số lao động trong toàn ngành (kể cả các doanh nghiệp tư nhân) đạt
con số trên 830.000 lao động, trong đó có khoảng 230.000 lao động trực tiếp. Theo Báo
cáo tại Hội thảo quốc gia “Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội” diễn ra tại
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07 tháng 3 năm 2008, cả nước hiện nay có hơn 1 triệu lao
động làm việc trong ngành du lịch, trong đó có khoảng 285.000 lao động trực tiếp và
750.000 lao động gián tiếp, chiếm gần 3% tổng số lao động trong toàn quốc, tốc độ tăng
trưởng bình quân hàng năm đạt khoảng 4,3%. Theo đánh giá chung của ngành Du lịch
Việt Nam, số lượng nguồn nhân lực trên thực sự chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại, đặc
biệt là ở các doanh nghiệp mới thành lập hoặc mở rộng, ở các tỉnh đồng bằng hoặc vùng
miền núi. Ở nhiều sở Du lịch hoặc Sở Thương mại - Du lịch, lực lượng cán bộ quản lý
nhà nước về du lịch còn rất mỏng, do đó hiệu quả công tác quản lý còn rất hạn chế.
1.1.2. Cơ cấu lao động
a) Cơ cấu theo ngành nghề
Hiện nay, trong nguồn nhân lực du lịch Việt Nam, lao động quản lý chiếm tỷ
trọng khá cao trong tổng số lao động của ngành (25%); lao động phục vụ trực tiếp các
Nam và 10% tại miền Trung. Điều này cũng lý giải vì sao ở khu vực miền Trung tốc độ
phát triển du lịch chưa cao.
d) Cơ cấu theo độ tuổi
Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, tính đến 2005, khoảng 40% lao động du
lịch có độ tuổi dưới 30 tuổi; 36% lao động du lịch nằm trong độ tuổi từ 30 đến 40; 21%
lao động du lịch nằm trong độ tuổi từ 41 đến 50; 3% lao động du lịch nằm trong độ tuổi
trên 50. Như vậy về cơ bản, lao động trong ngành du lịch của nước ta nằm trong độ tuổi
khá trẻ. Điều đó chứng tỏ chúng ta có nhiều thuận lợi trong công tác đào tạo, bồi dưỡng
bởi lớp trẻ thường có khả năng tiếp thu nhanh việc nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ.
1.2. Chất lượng nguồn nhân lực du lịch
Nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam đang dần dần được
nâng cao. Trong những năm qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực du
lịch luôn được quan tâm chú trọng. Tuy nhiên, vấn đề bức xúc nhất hiện nay của đội ngũ
lao động trong du lịch là “vừa thiếu, vừa yếu”. Ngoại trừ một số doanh nghiệp liên
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
5
doanh với nước ngoài, đội ngũ lao động được đào tạo tại chỗ, hoặc gửi đi đào tạo ở
nước ngoài nên chất lượng có tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và được đánh giá khá cao,
còn lại về cơ bản chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, số lượng chưa đáp ứng nhu cầu
phát triển của du lịch để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và còn có khoảng cách khá xa
so với trình độ của các nước trong khu vực cũng như thế giới.
Chất lượng của nguồn nhân lực du lịch được đánh giá từ trình độ văn hóa đến
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ.
Về trình độ văn hóa: Hiện nay số lao động chưa tốt nghiệp phổ thông trung học
chiếm 30% trong tổng số lao động ngành du lịch, chủ yếu ở các bộ phận phục vụ trực
tiếp như nhân viên phục vụ bàn, buồng, nhân viên tạp vụ hay bảo vệ tại các cơ quan,
doanh nghiệp… Tỷ lệ này có thể còn tồn tại trong một thời gian dài, đặc biệt là ở khu
vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà phần lớn người dân sống nhờ vào nguồn du lịch
Về trình độ ngoại ngữ: Hiện nay, hơn một nửa lao động làm việc trong du lịch
không biết ngoại ngữ, đây là một hạn chế rất lớn của du lịch Việt Nam. Trình độ ngoại
ngữ có thể nói là công cụ tối cần thiết để người làm du lịch tiếp cận với du khách quốc
tế. Số lao động biết ít nhất một ngoại ngữ chiếm 45% tổng số lao động (trong đó chủ
yếu biết tiếng Anh). Ngay cả số lao động biết tiếng Anh cũng chỉ có 15% ở trình độ đại
học, còn lại là ở trình độ A, B, C. Số lao động biết 2 ngoại ngữ trở lên khoảng 28%.
Theo một khảo sát ngẫu nhiên do TOEIC Việt Nam (đơn vị năm 2006 đã được
Tổng cục Du lịch chọn làm đối tác xây dựng thang chuẩn tiếng Anh cho 6 nghề trong
ngành du lịch) tiến hành tại khoảng 200 doanh nghiệp khách sạn và lữ hành trên toàn
quốc, cho thấy đại bộ phận nhân viên có trình độ tiếng Anh rất thấp so với vị trí đảm
nhiệm. Cá biệt, một số lượng không nhỏ nhân viên thuộc hạng khách sạn 5 sao chỉ đạt
mức điểm 10/990 của bài thi TOIEC.
Như vậy có thể thấy rằng, chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay
cũng đang là một vấn đề đáng phải quan tâm. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta cần
phải có một chiến lược để phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam không chỉ đáp
ứng nhu cầu về mặt số lượng mà phải đảm bảo chất lượng, với một cơ cấu hợp lý.
1.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc rất lớn vào công tác đào tạo và bồi dưỡng
nguồn nhân lực. Muốn nguồn nhân lực có chất lượng thì một yêu cầu đặt ra là nguồn
nhân lực đó phải được đào tạo một cách bài bản theo đúng chuẩn mực. Công tác đào tạo,
bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch ở Việt Nam hiện nay được tiến hành song song giữa
hệ thống đào tạo quốc gia và tại các doanh nghiệp du lịch. Hệ thống đào tạo quốc gia là
các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Các doanh nghiệp
du lịch bao gồm cả các khách sạn, nhà hàng và các công ty lữ hành. Bên cạnh đó là các
chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức liên kết hoặc do các nước, các tổ chức
hay dự án của nước ngoài tài trợ.
1.3.1. Đào tạo tại hệ thống đào tạo quốc gia
a) Về số lượng và cơ cấu
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
tế. Nhu cầu về nhân lực của ngành du lịch rất lớn, nhưng học sinh, sinh viên ra trường
tìm được việc làm không dễ mà nguyên nhân chính vẫn là do kiến thức được trang bị
trong thời gian đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu công việc. Sở dĩ có tình trạng trên là do
các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường đại học đều chú trọng đào tạo sinh viên theo
diện rộng, để sinh viên sau khi ra trường dễ thích ứng với hoàn cảnh, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, khi ngành du lịch đang là ngành mang tính cạnh tranh cao hơn so với các
ngành dịch vụ khác.
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
8
Chương trình đào tạo, bài giảng, giáo trình, tài liệu tham khảo dù có được bổ sung
dần nhưng vẫn còn quá ít so với các ngành nghề đào tạo khác và so với yêu cầu đào tạo
nhân lực du lịch.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy tại các cơ sở đào tạo du lịch ở Việt Nam hiện nay vừa
thiếu vừa còn một số hạn chế như số lượng cán bộ giảng dạy đã qua đào tạo ở trình độ
cao chuyên về du lịch không nhiều, hầu hết các cán bộ giảng dạy còn trẻ, chưa có nhiều
kinh nghiệm, hoặc được chuyển từ các môn khác, ngành khác sang dạy về du lịch.
Chính vì vậy, số cán bộ giảng dạy có khả năng viết được giáo trình, tài liệu tham khảo,
sách chuyên ngành phục vụ cho việc giảng dạy và học tập còn rất hạn chế.
Cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và thời gian thực tập cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng đào tạo. Do đặc thù của nhân lực trong ngành du lịch là có tính định
hướng nghề nghiệp rất cao nên một trong những yêu cầu không thể thiếu trong quá trình
đào tạo là sinh viên phải được thực hành, thực tập để gắn lý thuyết đã được học với thực
tế. Nhiều trường đại học và cao đẳng chưa trang bị được phòng thực hành, xưởng thực
tập ngành nghề, nghiệp vụ cho sinh viên, sinh viên phải học lý thuyết quá nhiều, ít có cơ
hội thực hành để vận dụng lý thuyết đã được học trên lớp. Một số trường chưa có định
hướng thực tập cuối khóa và thực tập môn học cho sinh viên một cách cụ thể, rõ ràng và
chưa xác định được thời gian cần thiết cho công việc này.
Mặc dù việc đào tạo ngoại ngữ cho sinh viên du lịch đã được các trường hết sức
chú ý nhưng hiệu quả đem lại chưa cao. Chương trình ngoại ngữ chưa tập trung vào
các nước tài trợ (như Singapore, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Thái Lan ) và chuyên gia của
Tổ chức Du lịch Thế giới về giảng dạy. Đặc biệt chương trình đào tạo trong khuôn khổ
dự án Luxembourg (chương trình đào tạo giảng viên tại chỗ) và chương trình công nhận
các kiến thức đã có (APL) đã tạo cơ hội cho nhiều người lao động vừa làm vừa học.
Tổng cục Du lịch còn là đầu mối tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cử công nhân viên
chức đi học tập tu nghiệp nước ngoài được cấp học bổng toàn phần hoặc một phần (Bỉ:
3 tháng; Đức: 18 tháng; Áo: 10 tháng ). Trong khuôn khổ chương trình hành động quốc
gia về du lịch, Tổng cục Du lịch trực tiếp tổ chức hoặc giao các Sở quản lý du lịch tổ
chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho người lao động thuộc tất cả các thành
phần kinh tế, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, lữ hành và hướng dẫn
viên du lịch.
Trong 15 năm gần đây, ngành Du lịch Việt Nam đang tăng trưởng nhanh. Hàng
năm ngành du lịch sẽ có khoảng 25.000 lao động mới, chủ yếu ở trình độ cơ bản, ngoài
ra khoảng 25.000 lao động trong ngành cần đào tạo lại. Tuy nhiên, việc đào tạo và đào
tạo lại chưa có sự chuẩn hoá trên phạm vi toàn quốc do đó dẫn đến sự không đồng nhất
giữa các kỹ năng nghề nghiệp trong cùng một công việc. Vì vậy, hiệu quả công việc
chưa cao. Do đó, Tổng cục Du lịch Việt Nam cùng với Cộng đồng Châu Âu thực hiện
“Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”với tổng số vốn 12 triệu Euro. Dự
án đã triển khai xây dựng và ban hành hệ thống tiêu chuẩn 13 kỹ năng nghề du lịch;
triển khai hệ thống công nhận kỹ năng nghề tại các doanh nghiệp du lịch theo đúng định
hướng của ngành; xây dựng, áp dụng và triển khai chương trình phát triển đào tạo viên
được công nhận đối với một số kỹ năng nghề quan trọng
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
10
Mục tiêu tổng thể của dự án là “Nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng nguồn nhân
lực trong ngành du lịch Việt Nam” giúp Chính phủ và các doanh nghiệp du lịch có khả
năng duy trì bền vững chất lượng và số lượng nguồn nhân lực đào tạo sau khi dự án kết
thúc. Do đó, trọng tâm của dự án là tập huấn nâng cao kỹ năng đào tạo để có thể triển
khai đào tạo các tiêu chuẩn kỹ năng nghề đã được công nhận cho đội ngũ nhân viên tại
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
11
sở vật chất kỹ thuật. Một số doanh nghiệp đã xây dựng được chiến lược phát triển nguồn
nhân lực, ngay từ đầu đã tập trung đầu tư đào tạo bộ máy khung thông qua hình thức gửi
đi nước ngoài hoặc mời chuyên gia trong chuỗi khách sạn quốc tế lớn đến huấn luyện.
Nhìn chung, các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài có các chương trình đào tạo tại chỗ hiệu quả, còn các doanh nghiệp nhỏ
thường không có đủ khả năng đào tạo như vậy.
1.3.4. Công tác hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch
Đến nay, Tổng cục Du lịch đã ký kết 26 hiệp định song phương hợp tác du lịch
với các nước, tham gia Hiệp định du lịch ASEAN, tham gia các tổ chức quốc tế liên
quan đến du lịch, các chương trình và dự án hợp tác khu vực, liên khu vực, trong đó hợp
tác phát triển nguồn nhân lực du lịch luôn là nội dung được ưu tiên. Việc huy động
nguồn lực quốc tế cho phát triển nguồn nhân lực du lịch trong những năm qua đã thu
được những kết quả đáng kể. Dự án đào tạo du lịch - khách sạn của Chính phủ
Luxembourg tài trợ và Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do Cộng đồng
Châu Âu (EU) tài trợ là hai dự án lớn với mục tiêu phát triển toàn diện nguồn nhân lực
du lịch Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các dự án hỗ trợ kỹ thuật của Tây Ban Nha,
Singapore, Bỉ, Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA), ; đã có nhiều chương trình nghiên cứu, khảo sát, tư vấn, và các khóa đào tạo về
phát triển nguồn nhân lực du lịch với sự hợp tác của các chuyên gia nước ngoài được tổ
chức. Đến nay, tổng vốn ODA toàn ngành du lịch đã thu hút được để phục vụ cho công
tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch ước khoảng 40 triệu USD. Nhờ thế, đã có thêm
nguồn lực tài chính, hiện vật và kinh nghiệm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
ngành du lịch.
Hoạt động liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo du lịch nước ngoài cũng được
đẩy mạnh trong khuôn khổ hợp tác đa phương (đã có 19 cơ sở đào tạo du lịch của nước
ta tham gia mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch châu Á - Thái Bình Dương APETIT, 06 cơ
sở tham gia mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch ASEAN) hoặc song phương (chủ yếu với
du lịch đến năm 2015 và tầm nhìn 2020" để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch thực sự
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đảm bảo phát triển bền vững trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là chương trình hành động có tính chất tổng thể,
được xây dựng trên cơ sở tổng kết quá trình quản lý và đánh giá, dự báo yêu cầu về
nhân lực du lịch của các sở quản lý du lịch ở 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
và Tổng cục Du lịch với sự hỗ trợ của chuyên gia tư vấn quốc tế (Tổ chức Du lịch Thế
giới và Cộng đồng Châu Âu). Theo chương trình này, ngành Du lịch Việt Nam xác định
đến năm 2015, nguồn nhân lực du lịch có ít nhất 500.000 lao động trực tiếp và 1,3 đến
1,5 triệu lao động gián tiếp, đạt các chỉ tiêu sau:
- 70 - 80% đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước về du lịch ở TƯ và địa phương được
đào tạo chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu công việc.
- 60 - 70% đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước ở doanh nghiệp và giám sát được
đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về du lịch.
- 60% lao động phục vụ du lịch được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ chuyên
môn du lịch, ngoại ngữ, tin học.
- 80% cơ sở đào tạo du lịch đào tạo chương đáp ứng yêu cầu thực tiễn với 80 -
90% giáo viên được đào tạo và chuẩn hóa; cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy được trang
bị, nâng cấp đồng bộ đảm bảo cơ sở đào tạo hiện đại.
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
14
Cũng theo chương trình này, đến năm 2020 nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam
phải đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Tổng số vốn cho Chương trình phát triển nguồn nhân
lực du lịch tới năm 2015 là 2.400 tỷ đồng.
2.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
Để phát triển nguôn nhân lực du lịch Việt Nam thì một trong những công tác cần
quan tâm nhất là vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Để phát triển nguồn nhân
lực du lịch, chúng ta phải có hàng loạt các giải pháp mang tính đồng bộ và sự phối kết
hợp từ Trung ương đến địa phương. Dưới đây là một số giải pháp cần thiết nhằm phát
triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong thời kỳ hiện nay:
các cơ sở đào tạo, người sử dụng lao động và người lao động phấn đấu, hoàn thiện.
Trong những năm qua, Dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do EU
tài trợ đã mang lại hiệu quả cao trong công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch và đã xây
dựng được 13 tiêu chuẩn nghề du lịch. Chứng chỉ Nghiệp vụ Du lịch Việt Nam (VTCB)
do dự án này cấp đã được quốc tế công nhận. Vì vậy cần tiếp tục thúc đẩy và mở rộng
phạm vi hoạt động của mô hình này; phối hợp với cơ quan hữu quan và Dự án EU về
phát triển nguồn nhân lực du lịch để hoà nhập hệ thống chứng chỉ VTCB trong hệ thống
đào tạo quốc gia; lồng ghép hoạt động này với Chương trình hành động quốc gia về du
lịch.
Phối hợp các ngành liên quan và các cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện chương trình
khung các chuyên ngành du lịch bậc trung học chuyên nghiệp; phối hợp xây dựng, ban
hành và tổ chức thực hiện chương trình khung đào tạo du lịch bậc cao đẳng và đại học
để thống nhất quản lý trong cả nước và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong quá trình
xây dựng chương trình, giáo trình môn học, chú trọng tham khảo, học tập kinh nghiệm
quốc tế nhằm đạt tới những tiêu chuẩn chung trong khu vực và quốc tế, tạo tiền đề phát
huy tính tích cực và năng động của thị trường lao động không biên giới, không rào cản
trong quá trình hội nhập.
2.2.3. Phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng du lịch đảm bảo sự cân đối giữa
các cấp bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo và phân bổ hợp lý giữa các vùng, miền
Một trong những vấn đề của nguồn nhân lực du lịch Việt Nam là tình trạng mất
cân đối trong cơ cấu đào tạo giữa các trình độ cũng như trong sự phân bố lao động của
các vùng miền. Do vậy việc phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo, bồi dưỡng du lịch trên
toàn quốc cần phải tập trung giải quyết triệt để vấn đề trên. Cần nâng cấp cơ sở đào tạo
hiện có; tập trung đầu tư một số cơ sở đào tạo trọng điểm đạt tiêu chuẩn tiên tiến của
quốc tế ở các địa phương là trọng điểm du lịch và nơi có xu hướng phát triển mạnh du
lịch như Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Nha Trang, Lâm Đồng, Cần Thơ, Thái
Nguyên tiến tới thành lập trường Đại học du lịch của cả nước. Bên cạnh đó cần đầu tư
xây dựng các cơ sở đào tạo và hình thành bộ phận đào tạo du lịch ở các trường nghề của
các địa phương khác, đặc biệt ở các khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Tây Bắc.
Khuyến khích việc mở các cơ sở đào tạo du lịch ở các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo
và các doanh nghiệp bao gồm công chức, viên chức, các nhà quản lý, các nhà khoa học
có trình độ, các doanh nhân, nghệ nhân, các công nhân kỹ thuật tay nghề bậc cao; nâng
cao trình độ tin học và ngoại ngữ cho giảng viên, giáo viên, nhằm ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy và tạo điều kiện cho giảng viên, giáo viên tự nghiên cứu, trao
đổi trực tiếp các lĩnh vực chuyên môn với các chuyên gia nước ngoài và đủ khả năng
tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế và học tập, tu nghiệp ở nước ngoài.
Cần mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, đặc
biệt là cho đội ngũ giáo viên, giảng viên trẻ.
Về chương trình đào tạo: Không ngừng đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình
đào tạo du lịch từ dạy nghề, trung học, cao đẳng đến đại học theo hướng chuẩn hoá, hiện
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
17
đại hoá, phù hợp với nhu cầu của xã hội và thị trường. Cần tiếp cận nhu cầu thực tế về
năng lực làm việc trong các lĩnh vực của ngành, trình độ tiên tiến của khu vực và thế
giới, mang nét đặc trưng của Việt Nam, đảm bảo tính liên thông giữa các bậc đào tạo
trong hệ thống giáo dục quốc dân. Từng bước chuyển đổi việc xây dựng chương trình
môn học theo niên chế, truyền thống hiện nay sang chương trình theo tín chỉ. Cần tăng
cường đào tạo ngoại ngữ và tin học, nhất là ngoại ngữ và tin học chuyên ngành cho học
sinh, sinh viên bởi đây là công cụ cần thiết khi bước vào thời kỳ hội nhập. Tăng cường
việc sử dụng ngoại ngữ trong việc giảng dạy của giảng viên và học tập của sinh viên.
Về giáo trình đào tạo và tài liệu tham khảo: Hiện nay, giáo trình và tài liệu học
tập cho sinh viên ngành du lịch của nước ta đang thiếu trầm trọng hoặc đang dần bị lạc
hậu so với thời đại. Vì vậy, cần sớm biên soạn và hoàn thiện giáo trình, tài liệu học tập
cho sinh viên phù hợp với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế. Các cơ sở đào tạo cần hợp
tác với nhau để biên soạn các giáo trình cơ bản hoặc biên dịch các tài liệu của nước
ngoài; áp dụng bộ đề chuẩn của Dự án phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong kiểm
tra, đánh giá chất lượng học sinh, sinh viên. Các trường đào tạo tay nghề cần tiến tới xây
dựng bộ giáo trình chuẩn để sử dụng thống nhất trong cả nước.
Cùng với biên soạn giáo trình, việc biên soạn tài liệu tham khảo, tài liệu học tập
triển nhân lực du lịch là cần thiết, nhất là khi chúng ta đã bước vào thời kỳ hội nhập
WTO. Do đó cần phải đầu tư nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị để từng
bước ứng dụng, khai thác hiệu quả của công nghệ thông tin để phát triển nguồn nhân lực
du lịch như công tác quản lý đào tạo; xây dựng giáo trình điện tử trong đào tạo du lịch;
sử dụng Internet để thiết lập hệ thống thông tin qua mạng giữa các đầu mối đào tạo, bồi
dưỡng nhân lực du lịch; mở rộng các hình thức đào tạo mới như đào tạo từ xa, đào tạo
qua mạng
2.2.7. Tạo môi trường thuận lợi cho đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch
- Cần thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng bằng
nhiều hình thức về vai trò, vị trí và hiệu quả của du lịch, về trách nhiệm phát triển du
lịch, cách ứng xử trong du lịch , tạo môi trường tốt cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng
nhân lực du lịch, đặc biệt chú ý đến đối tượng cán bộ quản lý thuộc các lĩnh vực liên
quan đến du lịch, đội ngũ giáo viên các bậc đào tạo, cán bộ chính quyền địa phương và
những người tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch.
- Lồng ghép chương trình giáo dục du lịch trong giảng dạy tại cơ sở đào tạo trong
hệ thống giáo dục phổ thông, trong các trường chính trị của các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương, các trường đảng, đoàn thể và hành chính trung ương phù hợp với tính
chất của mỗi cơ sở đào tạo.
- Mở rộng và tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với các ngành, địa phương,
các điểm, khu du lịch, các doanh nghiệp du lịch.
- Tạo điều kiện để các thành phần xã hội có thể tham gia, đóng góp xây dựng cơ
sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, góp ý kiến cho các chủ trương, chính sách, chương
trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch, các tiêu chuẩn kỹ năng, nội dung
chương trình đào tạo, cơ cấu trình độ đào tạo; hỗ trợ kinh phí cho người học, tiếp nhận
sinh viên đến thực tập và tiếp nhận học sinh tốt nghiệp vào làm việc.
Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
19
- Nâng cao hình ảnh nghề nghiệp du lịch thông qua đẩy mạnh tuyên truyền trên
các phương tiện truyền thông; xây dựng chương trình quảng bá nhằm mục đích khuyến
KẾT LUẬN
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển du lịch. Nguồn
nhân lực du lịch Việt Nam đang đứng trước thực trạng thiếu về số lượng, yếu về chất
lượng; cơ cấu về trình độ và phân bố giữa các doanh nghiệp, vùng miền không cân đối;
trình độ ngoại ngữ, tin học kém… Đây thực sự là điều đáng lo ngại cho ngành du lịch
Việt Nam, nhất là khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO.
Vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay là cần đào tạo
nguồn nhân lực; tranh thủ mọi sự hợp tác, hỗ trợ của nước ngoài; huy động mọi nguồn
lực trong và ngoài nước để có thể phát triển nguồn nhân lực theo chuẩn khu vực và quốc
tế, góp phần đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn như Đảng và Nhà
nước đã xác định. Tiểu luận: Nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
21 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS,TS Nguyễn Văn Đính; PGS,TS Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình Kinh tế du
lịch, NXB Đaị học Kinh tế quốc dân,2006.
2. Lê Hải, “Đào tạo nguồn nhân lực du lịch để hội nhập quốc tế trong du lịch”, Tạp
chí Du lịch Việt Nam, số 11 (2006).
3. PGS,TS. Đinh Trung Kiên, “Một số vấn đề về du lịch Việt Nam”, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2006.
4. “Báo cáo công tác đào tạo, bối dưỡng nhân lực du lịch thời gian qua và phương
hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đến năm 2010”, Tổng cục Du lịch, 2004.
5. Báo cáo Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch Việt Nam trong quá