Luận văn: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT THÁI ĐẾN NĂM 2010 - Pdf 10



Luận văn
CHIẾN LƯỢC PHÁT
TRIỂN CỦA NGÂN
HÀNG LIÊN DOANH
VIỆT THÁI ĐẾN NĂM
2010

LỜI MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài
Vào những năm đầu của thập niên 90, các chính sách đổi mới của Đảng và
nhà nước đã tạo ra một biến chuyển lớn trong quá trình phát triển kinh tế đất nước,
giúp cho các doanh nghiệp trong nước có điều kiện hợp tác với các công ty, các
tập đoàn tài chính nước ngoài để thành lập các công ty liên doanh với mục đích
tận dụng nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của doanh nghiệp nội đòa vớí tiềm lực tài
chính và kinh nghiệm của đối tác nước ngoài. Ngân hàng Liên doanh Việt Thái
được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1995 cũng không ngoài mục đích đó.
Qua 10 năm hoạt động, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái gặt hái được
những thành tựu đáng khích lệ, góp phần vào công cuộc phát triển nền kinh tế
nước nhà, song bên cạnh đó đã bộc lộ nhiều yếu kém cần phải khắc phục. Trong
xu thế toàn cầu hóa và đặc biệt là sự kiện Việt Nam chuẩn bò gia nhập WTO, cũng
như các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái
sẽ có nhiều cơ hội để tăng trưởng, đồng thời phải đối mặt với một môi trường kinh
doanh mới phức tạp và đầy rủi ro. p lực cạnh tranh ngày càng gia tăng khi các
ngân hàng trong nước không ngừng mở rộng quy mô hoạt động, ngày càng phát
triển cả về số lượng lẫn chất lượng, nhiều tổ chức tài chính nước ngoài đang sẵn
sàng tham gia vào thị trường Việt Nam, …
Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra cho ngân hàng là phải tự hoạch đònh cho
mình một hướng đi phù hợp để có thể đứng vững trên thị trường và tiếp tục phát
triển.

lý luận và phương pháp mang tính đònh hướng và ứng dụng. Mặt khác, mục đích
của đề tài là nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của ngân hàng nên những vấn
đề được nêu trong luận văn chủ yếu là dựa vào tình hình thực tế và nằm trong khả
năng có thể thực hiện được tại ngân hàng. Tác giả sẽ tiếp tục thực hiện các nghiên
cứu chuyên sâu liên quan đến chiến lược kinh doanh của ngân hàng khi có điều
kiện. Đó cũng chính là ưu nhược điểm của bài viết. Trang 2

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
3- Phương pháp nghiên cứu
Do đây là một đề tài nghiên cứu ứng dụng nên phương pháp nghiên cứu chủ
yếu ở đây là sử dụng các mô hình lý thuyết về quản trò chiến lược trong một doanh
nghiệp để vận dụng vào điều kiện cụ thể của ngân hàng nhằm hoạch đònh chiến
lược phát triển cho ngân hàng đến năm 2010.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, so sánh
và tổng hợp số liệu, phương pháp dự báo,…
4- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý số liệu
+ Các thông tin thứ cấp bao gồm các số liệu tài chính, về hoạt động kinh
doanh của ngân hàng hay của ngành, các thông tin xã hội, môi trường sẽ được thu
thập qua các báo cáo, các tài liệu khác như sách báo, tạp chí thống kê …
+ Các thông tin sơ cấp sẽ được thu thập thông qua điều tra trực tiếp, đó là
những cuộc phỏng vấn, thảo luận, tham khảo ý kiến một số chuyên gia, quản trò
viên của các ngân hàng thương mại và NHNN.
5- Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trò chiến lược (trang 4 – trang 12).
Chương 2: Tổng quan về Ngân hàng Liên doanh Việt Thái và phân tích
môi trường kinh doanh 10 năm qua (trang 13 – trang 35).

- Xác đònh các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức.
- Đề ra và chọn lựa các giải pháp hỗ trợ để đạt mục tiêu.
- Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó.
1.1.2- Các yêu cầu của chiến lược kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo giúp cho doanh nghiệp sử dụng được
các lợi thế của mình dể tăng thế lực và giành lợi thế cạnh tranh.
- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
- Chiến lược kinh doanh phải xác đònh rõ phạm vi kinh doanh, mục tiêu và
những điều kiện cơ bản để tập trung nguồn lực vào những chiến lược đó.
- Chiến lược kinh doanh phải xây dựng trên cơ sở khai thác thế mạnh của
doanh nghiệp hơn là cố khắc phục điểm yếu để tận dụng cơ hội.

Trang 4

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
- Chiến lược kinh doanh phải dự báo được môi trường kinh doanh trong tương
lai.
- Chiến lược kinh doanh phải có tính linh hoạt, đáp ứng sự thay đổi từ môi
trường.
- Chiến lược kinh doanh phải khả thi, nội dung, mục tiêu của chiến lược phải
phù hợp với hiện trạng của doanh nghiệp, phù hợp với lợi ích của mọi người
trong doanh nghiệp, phù hợp với các dự báo môi trường tương lai và đảm
bảo việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
- Chiến lược kinh doanh phải có chiến lược dự phòng để có thể chủ động khi
môi trường thay đổi.
1.1.3- Vai trò của chiến lược kinh doanh trong hoạt động ngân hàng
- Chiến lược kinh doanh giúp cho nhà quản trò ngân hàng thấy rõ những cơ
hội và thuận lợi trong kinh doanh, tận dụng chúng để đưa ra các chiến lược,
chính sách phát triển phù hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
- Chiến lược kinh doanh giúp cho nhà quản trò dự báo được những bất trắc,

Hợp nhất trực
giác và phân
tích

Đưa ra quyết
đònh
Thực thi
chiến lược

Thiết lập mục
tiêu hàng năm

Đề ra các
chính sách
Phân phối
các nguồn
lực

Đánh giá
chiến lược


Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
hàng, giúp ngân hàng chủ động ứng phó với những thay đổi bên trong cũng như
những biến từ môi trường bên ngoài. Sứ mạng còn làm cơ sở để ấn đònh các mục
tiêu lâu dài, động viên tinh thần, phát huy tính năng động, sáng tạo của các thành
viên trong ngân hàng.
Nghiên cứu mục tiêu là giai đoạn đầu tiên và là nền tảng cho việc xây dựng
chiến lược. Mục tiêu đặt ra nhằm để chỉ kết quả cụ thể mà các ngân hàng mong
muốn trong một giai đoạn nhất đònh nào đó. Mục tiêu phải đảm bảo tính khoa học,
tính thống nhất và liên tục. Mục tiêu cần xác đònh rõ thời gian thực hiện và cần
xác đònh bằng các chỉ tiêu đònh lượng.
1.2.2.1.2- Phân tích môi trường
Môi trường là những yếu tố, lực lượng, thể chế tồn tại, tác động ảnh hưởng
đến hoạt động và kết quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và của ngân hàng
nói riêng.
1.2.2.1.2.1- Môi trường nội bộ
Môi trường nội bộ bao gồm các yếu tố nội tại mà ngân hàng có thể kiểm
soát được. Việc phân tích nội bộ đòi hỏi phải thu thập, xử lý những thông tin về tài
chính, nhân sự, nghiên cứu và phát triển, tiếp thò và tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh của ngân hàng.
Đánh giá các yếu tố bên trong bao gồm việc đánh giá các hoạt động quản
trò, marketing, tài chánh-kế toán, tác nghiệp, nghiên cứu & phát triển và hệ thống
thông tin quản lý vì chúng là những hoạt động cốt lõi của các ngân hàng. Qua thực
tiễn hoạt động của các ngân hàng và tham khảo ý kiến chuyên gia cho thấy, các
nội dung cần phân tích môi trường nội bộ bao gồm:
• Vò thế thị trường:
- Thò phần và khả năng thay đổi thò phần
- Hình ảnh của ngân hàng
- Khả năng thu lợi
• Đầu ra thị trường:
- Sự đa dạng các sản phẩm và dòch vụ của ngân hàng

của dân chúng, khả năng vay và trả nợ cũng như khuynh hướng đối phó đối với
các rủi ro tín dụng của họ.
Yếu tố chính trò, pháp luật
Những thay đổi về môi trường pháp lý tài chánh-ngân hàng có những hiệu
ứng vô cùng to lớn đối với hoạt động dòch vụ ngân hàng, tuy rằng, giới ngân hàng
vẫn mong muốn nhiều cải cách căn bản hơn nữa. Chẳng hạn, việc nới lỏng các qui
đònh về quản lý ngoại hối đã khiến lượng kiều hối chuyển về thông qua kênh ngân
hàng tăng trưởng vô cùng to lớn. Tình hình chính trò ổn đònh cũng sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng trong đó có ngân hàng liên doanh,
ngân hàng nước ngoài phát triển.
Yếu tố xã hội, văn hóa, nhân khẩu và đòa lý
Những thay đổi về đòa lý, nhân khẩu, văn hóa và xã hội có ảnh hưởng quan
trọng đến hầu hết các sản phẩm, dòch vụ và thò trường tiêu thụ. Tình trạng di dân,

Trang 8

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ người già trong cơ cấu dân số là những yếu tố thường gặp
nhất trong phân tích môi trường kinh doanh ngân hàng, là cơ sở rất quan trọng
trong việc gợi ý các chiến lược như những nơi nào sẽ mở thêm chi nhánh, lắp đặt
máy ATM, những nơi nào sẽ thích hợp đối với những sản phẩm, dòch vụ nào.
* Môi trường cạnh tranh
Bao gồm năm lực lượng cạnh tranh kết hợp với nhau xác đònh cường độ
cạnh tranh và mức lợi nhuận của ngành. Lực lượng mạnh nhất sẽ thống trò và trở
thành trọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lược.
CÁC ĐỐI THỦ
CẠNH TRANH
TRONG NGÀNH
NGƯỜI
CUNG

1.2.2.2- Xây dựng chiến lược
Các chiến lược được xây dựng trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường
kinh doanh, nhận biết những cơ hội và mối đe dọa tác động đến sự tồn tại của
doanh nghiệp, từ đó xác đònh các phương án chiến lược để đạt mục tiêu đã đề ra.
Các phương án chiến lược này sẽ được lựa chọn, chắt lọc để có những phương án
tối ưu và hiệu quả.
Quy trình hình thành một chiến lược tổng quát gồm ba giai đoạn:
Giai đoạn nhập vào: là quá trình thiết lập các ma trận bên trong IFE, ma
trận bên ngoài EFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh. Nếu có một yếu tố nào đó xuất
hiện hai lần trên ma trận, nghóa là yếu tố đó vừa thể hiện điểm mạnh nhưng đồng
thời cũng là điểm yếu, hoặc đây cũng là trường hợp yếu tố đó vừa là cơ hội lại
vừa là nguy cơ đối với ngân hàng.
Giai đoạn kết hợp: kết hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài của ngân
hàng để hình thành nên ma trận SWOT:
Sự kết hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất
của việc phát triển ma trận SWOT, nó đòi hỏi phải có sự phán đoán tốt và sẽ
không có một kết hợp tốt nhất. Thông thường các doanh nghiệp sẽ theo đuổi các
chiến lược WO, WT hay ST để doanh nghiệp có thể ở vào vò trí áp dụng chiến
lược SO.
Giai đoạn quyết đònh: sau khi phân tích ma trận SWOT để đưa ra các chiến
lược khả thi có thể được lựa chọn và để quyết đònh tính hấp dẫn tương đối của các
chiến lược khả thi, sử dụng ma trận hoạch đònh chiến lược có thể đònh lượng
QSPM để chọn lựa các chiến lược tốt nhất.
Các chiến lược được xây dựng trên cơ sở phân tích và đánh giá môi trường
kinh doanh, trước tiên dựa trên các yếu tố thành công chủ yếu bên trong và bên
ngoài, từ đó xác đònh các chiến lược để đạt mục tiêu đã đề ra, các chiến lược được
lựa chọn đòi hỏi sự phán đoán tốt bằng trực giác.
1.2.2.3- Lựa chọn chiến lược
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu của mình và căn cứ vào kết quả
phân tích, đánh giá môi trường kinh doanh, ngân hàng sẽ lựa chọn các phương án

nhược điểm, khai thác tốt những cơ hội và giảm thiểu hoặc né tránh những đe dọa
nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất. Tuy nhiên, các công cụ chỉ nhằm mục
đích gia tăng chất lượng quyết đònh, còn quyết đònh chính thức vẫn thuộc về khả
năng phân tích và phán đoán tốt bằng trực giác. Trang 11

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG VÀ CÁC
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
NGÂN HÀNG LIÊN DOANH VIỆT THÁI

2.1- LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Ngày 06/05/1951, Hồ Chủ Tòch ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam và Sắc lệnh số 17/SL giao cho Ngân Hàng Quốc Gia Việt
Nam quản lý mọi công việc của Nha Ngân Khố Quốc Gia và Nha Tín Dụng Quốc
Gia, khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới trong lónh vực tiền tệ ngân hàng tại
Việt Nam.
Năm 1960, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Nhà
Nước Việt Nam.
Ngày 26/03/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ Tướng Chính phủ) ban
hành Nghò đònh số 53/HĐBT khai sinh hệ thống ngân hàng hai cấp tại Việt Nam
đó là Ngân hàng Nhà Nước và Ngân hàng chuyên doanh.
Năm 1990, hệ thống Kho Bạc trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập, việc
quản lý ngân sách nhà nước và các quỹ dự trữ cũng được chuyển giao từ Ngân
Hàng Nhà Nước sang Bộ Tài Chính.
Ngày 23-5-1990, Hội Đồng Nhà Nước đã ban hành Pháp Lệnh Ngân Hàng
Nhà Nước và Pháp lệnh về các Tổ Chức Tín Dụng để tăng cường và củng cố hoạt
động của hệ thống Ngân Hàng trong tình hình mới, trước đòi hỏi của nền kinh tế

Chi nhánh Hà Nội: quản lý các hoạt động tín dụng ở khu vực phía bắc.
Chi nhánh Đà Nẵng: quản lý các hoạt động tín dụng ở khu vực miền Trung.
2.2.2- Chức năng nhiệm vụ
Là một tổ chức tín dụng, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái có đầy đủ các
chức năng nhiệm vụ sau:
- Huy động tiền gửi bằng VNĐ và USD dưới các hình thức tiền gửi không
kỳ hạn, có kỳ hạn từ 1 tháng đến 36 tháng;
- Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, chiết khấu chứng từ có giá;
- Cho vay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để sản xuất, kinh
doanh, cho vay tiêu dùng với các loại hình ngắn, trung và dài hạn;

Trang 13

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
- Kinh doanh nội ngoại tệ;
- Thực hiện các dòch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước.
2.2.3- Cơ cấu tổ chức
Đứng đầu Ngân hàng là Hội đồng quản trò gồm 10 thành viên, trong đó có
04 người đại diện NHNo&PTNT, 03 người của Ngân hàng SCB, và 3 người của
tập đoàn C.P. Giúp việc cho Hội đồng quản trò là Ban Điều Hành chỉ đạo chung
mọi hoạt động của Ngân hàng. Điều hành trực tiếp có Tổng Giám Đốc người Thái
Lan đại diện cho Ngân hàng SCB và hai Phó Tổng Giám đốc đại diện cho các đối
tác còn lại. Tại mỗi phòng ban có các Trưởng phòng phụ trách từng chuyên đề cụ
thể và chòu trách nhiệm trước Ban Tổng Giám Đốc về hoạt động của phòng mình.
Tổng số cán bộ nhân viên của Ngân hàng Liên doanh Việt Thái là 125
người (trong đó có 12 người Thái Lan giữ các vò trí lãnh đạo quan trọng). Ngoại trừ
nhân viên tạp vụ, bảo vệ và lái xe (20 người), tất cả đều có trình độ đại học và
trên đại học, tuổi đời bình quân là 35 tuổi, đây là độ tuổi khá lý tưởng cho công
việc kinh doanh trong ngành ngành tài chính Ngân hàng.
Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức Ngân hàng Liên doanh Việt Thái


P. Kế toán
P. Hành chính
tổ chức CN Sài Gòn CN Hà Nội CN Đà Nẵng CN Đồng Nai CN Bình Dương
Trang 14

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
2.2.4- Tình hình hoạt động kinh doanh
Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Liên doanh Việt Thái trong
10 năm qua được chia làm hai giai đoạn:
* Giai đoạn 1 (1995 - 2000): giai đoạn hình thành và củng cố hoạt động.
Đây là thời kỳ ngân hàng bắt đầu đi vào hoạt động giữa lúc nền kinh tế
trong nước và khu vực gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt khủng hoảng tài chính tiền tệ
bùng nổ năm 1997 tại Thái Lan và nhanh chóng lan sang các nước trong khu vực
và cả một số nước Châu Á, các nhà đầu tư nước ngoài và nhất là các doanh nghiệp
Thái Lan đầu tư tại Việt Nam bò ảnh hưởng lớn, tác động đến hoạt động ngân hàng
Việt Nam nói chung và Ngân hàng Liên doanh Việt Thái nói riêng.
Chính vì những khó khăn đó nên trong giai đoạn này, Ngân hàng Liên
doanh Việt Thái chưa phát huy được hết những ưu thế vốn có của mình. Tuy vậy,
Ngân hàng Liên doanh Việt Thái vẫn giữ được tốc độ phát triển bình thường, từ
năm 1996 đã có lãi, năm sau cao hơn năm trước và không có nợ xấu phát sinh.
* Giai đoạn 2 (2001 – 2005): giai đoạn ổn đònh và phát triển.
Trong giai đoạn này, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái đã mở rộng các
nghiệp vụ, đẩy mạnh các hoạt động huy động vốn và cho vay, phát triển các chi

+ Những năm vừa qua, dù thuận lợi hay khó khăn, ngân hàng vẫn luôn đảm
bảo lợi nhuận, cuối năm 2004 đạt 42 tỷ VNĐ, tăng 2,8 lần so năm 2000, tỷ suất lợi
nhuận trên vốn đạt 14%. 6 tháng đầu năm 2005, lợi nhuận cũng đã đạt 60% so với
năm 2004.
* Nhận đònh chung:
Qua 10 năm thành lập và hoạt động, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái đã
đạt được một số thành tựu và tồn tại như sau:
• Những thành tựu:
- Về hoạt động kinh doanh: qua các báo cáo tình hình hoạt động 10 năm qua,
ta có thể thấy hầu hết các chỉ tiêu đều tăng trưởng qua từng năm, đặc biệt
ngay cả những thời điểm khó khăn ngân hàng vẫn đạt lợi nhuận.
- Về tổ chức quản lý: bộ máy quản lý người Thái – Việt đã tìm được tiếng
nói chung, các bộ phận đã có sự phối hợp đồng bộ, thích ứng tốt với cơ chế
thị trường mới.

Trang 16

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
- Về mạng lưới hoạt động: mặc dù chòu nhiều bất lợi của một ngân hàng liên
doanh song Ngân hàng Liên doanh Việt Thái đã mở thêm được chi nhánh ở
một số thành phố lớn, ngoài ra ngân hàng còn tận dụng mạng lưới của
NHNo&PTNT làm đại lý giao dòch thanh toán cho mình, do đó đã thu hút
một lượng khách hàng lớn đặt quan hệ giao dòch với ngân hàng.
- Khách hàng mục tiêu: với khả năng tài chính của mình, ngân hàng đã xác
đònh cho mình đối tượng khách hàng mục tiêu là những doanh nghiệp vừa
và nhỏ, đặc biệt ưu tiên khách hàng kinh doanh xuất nhập khẩu vì ngân
hàng có thế mạnh về nguồn ngoại tệ, có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của
khách hàng.
• Những tồn tại:
- Với đặc thù của một ngân hàng liên doanh, những dự án vượt thẩm quyền

chiến lược hoạch đònh một cách khoa học làm cơ sở cho việc xây dựng các kế
hoạch hành động. Vì vậy cần phải đánh giá đúng về thực trạng cũng như xu hướng
môi trường kinh doanh của ngân hàng.
Căn cứ vào cơ sở lý thuyết về về môi trường kinh doanh nói chung và thực
tiễn hoạt động của Ngân hàng Liên doanh Việt Thái, chúng tôi đã tiến hành phân
tích môi trường nội bộ, môi trường vó mô và vi mô ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của ngân hàng. Từ đó chúng tôi đưa ra một số kết quả đánh giá như sau:
2.3.1- Đánh giá các yếu tố nội bộ
2.3.1.1- Những điểm mạnh
2.3.1.1.1- Sự hỗ trợ của các cổ đông

Do được thành lập bởi ba cổ đông lớn của Việt Nam và Thái Lan, Ngân
hàng Liên doanh Việt Thái tận dụng được thế mạnh đặc trưng của ngân hàng
thương mại quốc doanh và ngân hàng nước ngoài, đó là Ngân hàng Liên doanh
Việt Thái có hệ thống đại lý thanh toán rộng như các ngân hàng thương mại quốc
doanh. Thông qua mạng lưới của NHNo&PTNT, ngân hàng Liên doanh Việt Thái
có thể thực hiện các dòch vụ thanh toán, chuyển tiền, nhờ vậy, ngân hàng có nhiều
thuận lợi để phát huy lợi thế của mình.
Không những vậy, ngân hàng còn có thế mạnh của một ngân hàng nước
ngoài, nhờ sự hỗ trợ của Ngân hàng thương mại Thái Lan về công tác đào tạo
nâng cao tay nghề cho cán bộ nhân viên, tạo một phong cách làm việc chuyên
nghiệp, cung cấp các sản phẩm dòch vụ mới, hỗ trợ chương trình công nghệ thông
tin hiện đại.

Trang 18

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
Hơn thế nữa, nhờ sự hỗ trợ của tập đoàn C.P, ngân hàng Liên doanh Việt
Thái có thể phát triển các nghiệp vụ tín dụng với các khách hàng của tập đoàn
C.P, mà cụ thể là nghiệp vụ cho vay bao thanh toán đang được ngân hàng triển

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
đạo người Việt. Ban lãnh đạo mới đã từng bước điều chỉnh chính sách tín dụng
linh hoạt, phù hợp với thị trường Việt Nam trên cơ sở vận dụng chắt lọc những tinh
hoa về chính sách của hai ngân hàng Thái Lan và NHNo&PTNT, nhờ vậy đã tạo
một lợi thế so với các ngân hàng thương mại khác.
Một số nét nổi bật của chính sách tín dụng:
- Đánh giá hiệu quả của dự án chứ không đơn thuần dựa vào tình hình tài
chính hiện tại của khách hàng như nhiều ngân hàng khác vẫn áp dụng.
- Thường xuyên phân loại, đánh giá tình hình tài chính của khách hàng theo
chuẩn mực của Ngân hàng Liên doanh Việt Thái nhờ đó cán bộ ngân hàng
sẽ có nhiều thuận lợi trong việc quản lý khách hàng.
- Đònh giá tài sản đảm bảo theo giá thò trường vì vậy hạn mức vay của khách
hàng tương đối cao. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ thực hiện giải ngân theo tiến
độ công việc và có sự giám sát thường xuyên. Với cách làm này, ngân hàng
có thể quản lý hoạt động kinh doanh của khách hàng và giảm thiểu rủi ro
tín dụng.
- Một số quy đònh của nhà nước cũng được ngân hàng linh động giải quyết,
cụ thể quy đònh về đăng ký giao dòch bảo đảm của Sở Tài Nguyên và Môi
trường phải mất 7 ngày làm việc, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh
doanh của khách hàng. Để giải quyết vấn đề này, đối với khách hàng
truyền thống và có uy tín, ngân hàng đã linh động giải quyết trước 70% hạn
mức cho vay trong khi chờ xác nhận đăng ký giao dòch đảm bảo của cơ quan
chức năng.
2.3.1.1.5- Phong cách phục vụ khách hàng
Với phương châm Tất cả vì khách hàng, Ngân hàng Liên doanh Việt Thái
đã xây dựng cho mình một phong cách phục vụ khách hàng đặc thù, các bộ phận
thường xuyên nâng cao tác phong chăm sóc, niềm nở, tận tình với khách hàng,
Ban lãnh đạo đề ra các hình thức xử lý trước những hành vi, thói nhũng nhiễu
khách hàng. Nhờ trang bò tốt kiến thức cho nhân viên và rất nghiêm khắc đối với
các trường hợp vi phạm vì vậy hầu như không hề có sự phàn nàn của khách hàng

món vay đều được thẩm đònh rất kỹ càng, đội ngũ cán bộ tín dụng nhiều kinh
nghiệm, các bộ phận thường xuyên kiểm tra chéo, tuyệt đối không để xảy ra các
hiện tượng tiêu cực.

Trang 21

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
Nhờ tình hình tài chính rõ ràng, lành mạnh, Ngân hàng Liên doanh Việt
Thái đã được sự tín nhiệm của NHNN cũng như các tổ chức tín dụng và phi tín
dụng như ACB, VCB, ANZ, công ty Tài chính Dầu khí, công ty Cho thuê Tài
chính,… Thông qua đó các đơn vò này đã cấp tín dụng cho Ngân hàng Liên doanh
Việt Thái, mời tham gia đồng tài trợ, duy trì lượng tiền gửi lớn trong tài khoản mở
tại Ngân hàng Liên doanh Việt Thái, …
2.3.1.1.8- Khả năng phát triển sản phẩm mới
Hiện nay có nhiều nghiệp vụ phổ biến trên thế giới nhưng chưa được áp
dụng tại Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau. Ngân hàng Liên doanh Việt Thái đã
thành công trong việc nghiên cứu đưa một số nghiệp vụ vào áp dụng trong điều
kiện thực tiễn tại Việt Nam, trở thành những công cụ để Ngân hàng Liên doanh
Việt Thái tạo lợi thế cạnh tranh như nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và chứng
từ có giá, nghiệp vụ cho vay bao thanh toán, …
Hình thức cho vay bao thanh toán đã được Ngân hàng Liên doanh Việt Thái
triển khai từ cuối năm 2003. Đây là hình thức người bán và người mua ký hợp
đồng mua bán hàng trả chậm, sau đó người bán dùng giấy nhận nợ của người mua
để vay ngân hàng, đến hạn trả nợ ngân hàng sẽ thu tiền người mua hàng. Với hình
thức này, ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp tục công việc sản xuất
kinh doanh mà không bò ảnh hưởng đến việc thiếu vốn do phải bán chòu. Hiện
Ngân hàng Liên doanh Việt Thái là đầu mối duy nhất cho vay khách hàng của tập
đoàn C.P., hệ thống siêu thò Metro, doanh số cho vay từ nghiệp vụ này chiếm hơn
20% tổng dư nợ.
Tuy nhiên do công nghệ còn lạc hậu nên nhiều sản phẩm mới chưa được

cấp hạn mức tín dụng tối đa 3 triệu USD/ khách hàng, đối với các dự án lớn ngân
hàng rất khó tiếp cận hoặc nếu có cũng phải mời các tổ chức tín dụng khác tham
gia đồng tài trợ. Khả năng đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ rất hạn hữu, do đó,
khó có cơ sở phát triển các dòch vụ đa dạng và nâng cao năng lực cạnh tranh với
các đối thủ, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Cũng chính vì quy mô của ngân hàng khá nhỏ nên dễ gặp rủi ro nếu xảy ra
các biến động lớn về kinh tế, xã hội mà bài học từ ngân hàng ACB là một ví dụ
điểm hình. Ông Jemal-ud-din Kassum – Phó Chủ tòch khu vực Đông Nam Á và
Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới đánh giá sự kiện khách hàng ồ ạt rút
tiền tại ngân hàng ACB vào cuối năm 2003 như sau:
“Vụ việc liên quan đến ngân hàng ACB tại Việt Nam vừa qua có thể chứng
tỏ tính dễ tổn thương của hệ thống ngân hàng Việt Nam trước những cú sốc. Rõ

Trang 23

Luận văn Cao học GVHD: Tiến Só Phạm Xuân Lan
ràng là các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn ở thời kỳ bắt đầu của quá
trình chuyển đổi sang nền kinh tế theo hướng thò trường hơn”. (Nguồn: VietnamNet,
19-10-2003)
2.3.1.2.3- Mạng lưới hoạt động nhỏ

Do quy đònh của NHNN không cho phép ngân hàng liên doanh mở hai chi
nhánh cùng cấp trên một đòa bàn vì vậy mạng lưới hoạt động của các ngân hàng
liên doanh khó phát triển so với các ngân hàng trong nước. Qua 10 năm hoạt động,
Ngân hàng Liên doanh Việt Thái mới chỉ phát triển được 5 chi nhánh, trong khi đó
chỉ riêng các ngân hàng cổ phần đã có các chi nhánh phủ khắp toàn quốc như
ACB 49 chi nhánh, Sacombank 46 chi nhánh và 43 phòng giao dòch, ViBank 30
điểm giao dòch,…
2.3.1.2.4- Lực lượng nhân sự mỏng
Đối tượng khách hàng mục tiêu mà ngân hàng nhắm đến là các doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status