Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) là sự hài hoà các quy định, nguyên tắc và phương pháp
kế toán để có sự chấp nhận, thừa nhận mang tính thông lệ chung ở các quốc gia. Tuy
nhiên, sự hài hoà đó không thể là sự bắt buộc mọi quốc gia phải tuân thủ việc ghi chép kế
toán và trình bày, lập báo cáo tài chính theo đúng các quy định của Chuẩn mực kế toán
quốc tế. Bởi vì, mỗi quốc gia có điều kiện và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, yêu
cầu và trình độ quản lý cũng không hoàn toàn giống nhau. Chính vì vậy, dựa trên cơ sở
nền tảng hệ thống Chuẩn mực kế toán quốc tế để xây dựng, ban hành hệ thống chuẩn
mực kế toán quốc gia là một nhu cầu tất yếu khách quan. Chuẩn mực kế toán Việt Nam
(VAS) cũng không nằm ngoài thông lệ đó. Trong phạm vi bài báo này, tác giả chỉ nhằm
so sánh đối chiếu Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” của IAS và VAS nhằm tìm ra
những điểm giống nhau và những điểm khác biệt giữa chúng.
Giới thiệu chung về Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho”
Chuẩn mực kế toán là những quy định, hướng dẫn về các nguyên tắc và phương pháp kế
toán làm cơ sở cho việc ghi chép kế toán và lập báo cáo tài chính.
Chuẩn mực “Hàng tồn kho” được xây dựng nhằm quy định và hướng dẫn các nguyên tắc
và phương pháp kế toán hàng tồn kho nhằm phản ánh lên các tài khoản một cách hợp lý,
chính xác làm cơ sở cho việc lập các báo cáo tài chính.
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 2 “Hàng tồn kho” (IAS 2) được ban hành, công bố năm
1975. Bộ Tài chính Việt Nam dựa trên cơ sở các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế và các điều
kiện thực tế ban hành Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” (VAS 2) ngày 31/12/2001.
Trên cơ sở nội dung của chuẩn mực “Hàng tồn kho” được quy định trong IAS 2 và VAS
2, tác giả sẽ so sánh đối chiếu những điểm giống và khác nhau giữa chúng.
So sánh, đối chiếu IAS 2 và VAS 2
Để so sánh đối chiếu IAS 2 và VAS 2, ta thực hiện các nội dung cơ bản: Những quy định
chung, nội dung chuẩn mực, quy định về việc thành lập và trình bày báo cáo tài chính
Những quy định chung
Cả hai chuẩn mực “Hàng tồn kho”của kế toán Quốc tế và kế toán Việt Nam đều có cùng
một mục đích đó là quy định và hướng dẫn về nguyên tắc và phương pháp kế toán hàng
tồn kho. Bao gồm: Định nghĩa hàng tồn kho; Nguyên tắc vận dụng kế toán hàng tồn kho;
Xác định giá trị hàng tồn kho; Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở cho việc
ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho. Các khoản giảm trừ (chiết khấu thương mại và giảm
giá hàng mua ) được loại trừ khỏi chi phí mua; Chi phí chế biến: chi phí nhân công trực
tiếp, chí phí sản xuất chung (bao gồm chí phí sản xuất chung cố định, chi phí SXC biến
đổi) phát sinh trong quá trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành thành phẩm; Chi phí
liên quan trực tiếp khác: Chi phí liên quan trực tiếp khác tính vào giá gốc hàng tồn kho
bao gồm các khoản chi phí khác ngoài chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho như:
chi phí thiết kế
b. Giá trị thuần có thể thực hiện được
Cả IAS 2 và VAS 2 đều đưa ra khái niệm Giá trị thuần có thể thực hiện được: Là giá bán
ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ đi (-) chi phí
ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho tiêu thụ chúng. Những
ước tính này phải dựa trên bằng chứng đáng tin cậy nhất thu thập được vào thời điểm ước
tính.
- IAS 2: Hàng tồn kho thường được điều chỉnh giảm xuống bằng giá trị thuần có thể thực
hiện được theo những nguyên tắc sau: Theo từng khoản mục; Các khoản mục tương tự
nhau thường được nhóm lại; Từng dịch vụ được hạch toán như một khoản mục riêng biệt.
- VAS: Giá trị hàng tồn kho không thu hồi đủ khi hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi thời, giá
bán bị giảm, hoặc chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên. Việc ghi giảm giá gốc
hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực hiện được là phù hợp với nguyên tắc
tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán hàng hay sử
dụng chúng.
Việc ước tính giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng hoá tồn kho phải dựa trên bằng
chứng tin cậy thu thập được tại thời điểm ước tính. Việc ước tính này phải tính đến sự
biến động của giá cả hoặc chi phí trực tiếp liên quan đến các sự kiện diễn ra sau ngày kết
thúc năm tài chính, mà các sự kiện này được xác nhận với các điều kiện có ở thời điểm
ước tính. Khi ước tính giá trị thuần có thể thực hiện phải tính đến mục đích của việc dự
trữ hàng tồn kho.
2. Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho
a. Phương pháp tính giá trị hàng tồn kho
- IAS 2: Đưa ra các phương pháp để tính giá trị hàng tồn kho như sau: Phương pháp giá
giá trị thực (được phản ánh trên BCĐKT), nhưng nó cũng làm tăng lợi nhuận thuần vì có
thể hàng tồn kho của vài năm trước được sử dụng để xác định giá vốn hàng bán. Do đảm
bảo sự phù hợp giữa doanh thu hiện hành và chi phí hiện hành nên phương pháp này
phản ánh tốt nhất lợi nhuận của doanh nghiệp, tạo ra “lợi tức hàng tồn kho - the inventory
profit” . Tuy nhiên, chính điều này là tiềm ẩn tăng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải
nộp.
- Phương pháp LIFO: Làm cho giá trị hàng tồn kho cuối kỳ thấp mà không phản ánh theo
giá trị thực (được phản ánh trên BCĐKT). Đây là kết quả của việc tính giá làm cho giá trị
hàng tồn kho cuối kỳ thấp hơn rất nhiều so với giá cả hiện tại. Phương pháp này đưa ra
kết quả về thu nhập thuần thấp vì giá vốn hàng bán được xác định cao hơn. Ví dụ vào
cuối những năm 20 của thế kỷ 20, hãng Dupont và Geneneeral Motor chuyển từ phương
pháp FIFO sang phương pháp LIFO mỗi doanh nghiệp đã chi trả tiền thuế thu nhập thấp
hơn khoảng 150 triệu USD, cùng lúc đó các doanh nghiệp này đã báo cáo thu nhập thuần
cho các cổ đông thấp hơn so với thu nhập thuần mà có được do hãng vẫn sử dụng phương
pháp FIFO báo cáo tài chính cho các cổ đông.
- Phương pháp bình quân gia quyền: Không gắn doanh thu tại một thời điểm với hàng
xuất kho tại thời điểm đó, mà là giá xuất kho trung bình. Khi giá đơn vị tăng hoặc giảm
thì tổng giá hàng xuất kho nằm ở khoảng giữa giá trị hàng tồn kho tính theo phương pháp
FIFO và LIFO.
Nếu giá đang giảm dần, mỗi phương pháp kế toán xác định giá trị hàng tồn kho nêu trên
sẽ cho kết quả hoàn toàn ngược lại.
3. Lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Xuất phát từ nguyên tắc thận trọng là không đánh giá cao hơn giá trị của các loại tài sản.
- Các nguyên nhân làm giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá gốc: hàng tồn kho
bị hư hỏng, lỗi thời; giá bán bị giảm; chi phí hoàn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên…
- Theo VAS 2:
+ Cuối kỳ kế toán năm, khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn
giá gốc thì phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho
được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần có thể thực
hiện được. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho được thực hiện trên cơ sở từng mặt
giảm giá hàng tồn kho được lập cuối niên độ kế toán năm nay nhỏ hơn khoản dự phòng
giảm giá hàng tồn kho đó lập ở cuối niên độ kế toán năm trước, thì số chênh lệnh lớn hơn
phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh.
Ghi nhận giá trị hàng tồn kho đó bỏ vào chi phí trong kỳ phải đảm bảo nguyên tắc phù
hợp giữa chi phí và doanh thu.
Quy định về việc trình bày thông tin hàng tồn kho trên báo cáo tài chính
- Theo IAS 2: Các nội dung cần phải công bố trong báo cáo tài chính đó là:
+ Chính sách kế toán áp dụng đánh giá hàng tồn kho.
+ Giá gốc của tổng giá trị hàng tồn kho và riêng cho từng lọai hàng tồn kho.
+ Giá trị hàng tồn kho được tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được.
+ Giá trị hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nguyên nhân.
+ Giá trị hàng tồn kho dùng để thế chấp đảm bảo cho các khoản nợ.
+ Giá trị hàng tồn kho được hạch toán vào chi phí trong kỳ.
- Theo VAS 2: Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày:
+ Các chính sách kế toán áp dụng trong việc đánh giá hàng tồn kho, gồm cả phương pháp
tính giá trị hàng hoá tồn kho;
+ Giá gốc của tổng số hàng tồn kho và giá gốc của từng loại hàng tồn kho được phân loại
phù hợp với doanh nghiệp;
+ Giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho;
+ Giá trị hoàn nhập dự phòng giảm giá hàng tồn kho;
+ Những trường hợp hay sự kiện dẫn đến việc trích lập thêm hoặc hoàn nhập dự phòng
giảm giá hàng tồn kho;
+ Giá trị ghi sổ của hàng tồn kho (giá gốc - dự phòng giảm giá hàng tồn kho) đó dùng để
thế chấp, cầm cố đảm bảo cho các khoản nợ phải trả.
Trình bày chi phí về hàng tồn kho trong báo cáo kết quả sản xuất, kinh doanh được phân
loại chi phí theo chức năng: hàng tồn kho được trình bày trong khoản mục “giá vốn hàng
bán” trong Báo cáo kết quả kinh doanh, gồm giá gốc của hàng tồn kho đó bán, khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn kho sau khi trừ
phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra, chi phí sản xuất chung không được phân
bổ.
4. Việc xác định đúng, đủ giá gốc hàng tồn kho theo VAS 2 là không đơn giản, nhất
là trong trường hợp xử lý chênh lệch chi phí thực tế phát sinh trừ đi chi phí định
mức.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.TS.Nguyễn Đình Đỗ, “Thông lệ và chuẩn mực Kế toán quốc tế”, Nxb Xây dựng,
2002.
2. Tạp chí Kinh tế phát triển, số 73 tháng 07/2006, số 82 tháng 04/2007.
3. Tạp chí Kế toán, số 49 tháng 08/2006.
4. Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” VAS 2 và IAS 2.