Luận văn
Nghiên cứu tình hình phát
triển kinh tế trang trại ở thị xã
Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
1
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hơn 20 năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều chính sách, trong đó có Nghị quyết 10/NQ/TW của Bộ chính
trị (tháng 4/1988) về khoán đến hộ xã viên đã tạo động lực mới thúc đẩy nông
nghiệp, nông thôn phát triển. Sự thay đổi kinh tế nông thôn phải kể đến đóng
góp thành phần kinh tế trang trại. Từ những năm 1990 đã hình thành các mô
hình kinh tế trang trại nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Để tiếp sức
cho kinh tế trang trại phát triển, Chính phủ đã có Nghị quyết số 03/2000/NQ -
CP ngày 02/02/2000 về phát triển kinh tế trang trại. Đây là cơ sở pháp lý để
các cơ quan chức năng đưa ra các thông tư hướng dẫn về đầu tư, phát triển
kinh tế trang trại, gần đây Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đưa ra Thông tư số
74/2003/TT - BNN ngày 4/7/2003 về tiêu chí xác định kinh tế trang trại. Căn
cứ vào tiêu chí này, qua báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn, nông
nghiệp và thuỷ sản năm 2006, tính đến thời điểm 1/7/2006, cả nước có 113.730
trang trại, so với năm 2001 tăng 52.713 trang trại (+ 86,4%). Kinh tế trang trại tiếp
tục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản [6].
Tuy nhiên, tuỳ điều kiện các nguồn lực của từng khu vực, vùng và ở
mỗi địa phương việc phát triển kinh tế trang trại lại có sự khác nhau. Thị xã
Bỉm Sơn là một trong những đơn vị có lợi thế về đất đai, nguồn nhân lực dồi
dào, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại. Những năm
qua, nhờ phát triển kinh tế trang trại đã làm cho cơ cấu sản xuất nông nghiệp
có sự chuyển dịch mạnh mẽ, từ sản xuất tự túc, nay đã chuyển mạnh sang sản
xuất hàng hoá. Năm 2006, trang trại đã giải quyết công ăn việc làm cho 2.066
lao động của thị xã và đã khai thác, sử dụng 444,9 ha đất các loại; huy động
Phân tích các nguyên nhân đã ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh
tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn.
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tế
trang trại ở thị xã Bỉm Sơn trong thời gian tới.
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trang trại sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
đủ tiêu chí trang trại theo qui định tại Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày
4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định là đối
tượng nghiên cứu của đề tài.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của đề tài: Nghiên cứu đánh giá tình hình phát triển kinh
tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn về quy mô, kết quả và hiệu quả sản xuất, các yếu
tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại.
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các trang trại
trong phạm vi thị xã Bỉm Sơn.
Thời gian nghiên cứu: Thu thập thông tin và số liệu về tình hình
phát triển kinh tế trang trại từ năm 2005 - 2007 và dự báo đến năm 2010.
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
2.1.1 Khái niệm trang trại, kinh tế trang trại
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau
về trang trại và kinh tế trang trại. Tuy nhiên, đều có quan điểm chung, phát
triển kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá, khác với nền kinh tế tiểu nông tự
cấp, tự túc. Marx đã phân biệt chủ trang trại với người tiểu nông ở hai khía cạnh
đó là: người chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra; còn người
tiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt.
Theo những tư liệu nước ngoài có thể hiểu “kinh tế trang trại” hay
“trang trại” hoặc “kinh tế nông trại” hay “nông trại”, là một mô hình mà ở đó
và kinh tế trang trại.
Có quan điểm cho rằng, "trang trại là một tổ chức sản xuất cơ sở trong
nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) có mục đích là sản xuất hàng
hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người
chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản
xuất tập trung đủ lớn với phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ và
trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường" [27].
PGS.TS. Hoàng Việt đã đưa ra khái niệm "Trang trại là một hình thức
tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
6
quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui
mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cách
thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn
gắn với thị trường" [32].
Khi nghiên cứu về trang trại, tác giả Trần Trác viết "Kinh tế trang trại
là hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của
một hộ gia đình theo cơ chế thị trường" [21].
Theo GS.TS Nguyễn Đình Hương, "kinh tế trang trại là một hình thức
tổ chức cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mục đích chủ yếu là sản xuất hàng
hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người
chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản
xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ
kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [18].
Đề tài nghiên cứu kinh tế trang trại ở Nam Bộ đã đưa ra khái niệm như
sau "Kinh tế trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong
nông nghiệp, phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế hộ
và về cơ bản mang bản chất của kinh tế hộ. Quá trình hình thành và phát triển
kinh tế trang trại là quá trình nâng cao năng lực sản xuất dựa trên cơ sở tích tụ
tập trung vốn và các yếu tố sản xuất khác và nhờ đó tạo ra sản phẩm hàng hoá
với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao" [26].
và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, nông, lâm, thuỷ
8
sản. Các trang trại phát triển sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát
triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tình
trạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tập
trung hàng hóa và thâm canh cao [17, tr 18].
Về mặt xã hội, phát triển KTTT, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo
việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo,
phân bố lại lao động, dân cư, xây dựng lại nông thôn mới. Bên cạnh đó phát
triển kinh tế trang trại còn góp phần quan trọng trong việc làm tăng số hộ giàu
trong nông thôn; điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong giải quyết vấn đề
lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc trong nông nghiệp và
nông thôn ở nước ta hiện nay.
Về vấn đề môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết
thực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại đã luôn có ý thức khai thác hợp
lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi
không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng. Đặc
biệt, các trang trại trung du miền núi đã góp phần tích cực vào việc phủ xanh
đất trống, đồi núi trọc bảo vệ môi trường sinh thái.
2.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Thi hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ
về kinh tế trang trại; Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê
đã có Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 về
hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại; theo Thông tư này thì kinh
tế trang trại so với kinh tế hộ có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá
với quy mô lớn.
9
gia đình, cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất,
mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông, lâm
nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối gắn với dịch vụ chế biến và tiêu thụ
sản phẩm nông nghiệp Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức KTTT để bao
chiếm, tích tụ đất đai không vì mục đích sản xuất" [20].
- Lực lượng lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản
xuất. Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là người lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động. Do đó, chất
lượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất [30]. Bởi vậy, để phát
triển trang trại, trước hết chủ trang trại phải là người có khát khao, ý chí làm
giàu, có kinh nghiệm từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và là người sử
dụng có hiệu quả từ nguồn lao động gia đình cũng như lao động thuê mướn
bên ngoài. Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ
để các chủ trang trại mở rộng quy mô SXKD, tạo được nhiều việc làm cho
người lao động trong nông thôn. Ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân
không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm. Chủ trang
trại được thuê lao động không hạn chế số lượng, trả công lao động trên cơ sở
thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Để kinh tế trang trại phát triển một cách bền vững, ngoài việc giao đất
lâu năm cho các hộ yên tâm sản xuất thì Nhà nước cũng như các địa phương
cần phải mở các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc trung hạn cho các chủ trang trại
nhằm nâng cao trình độ kiến thức.
- Vốn sản xuất là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải, kho tàng, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật Vốn là yếu tố vô cùng quan
trọng. Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ
11
dẫn đến tăng thêm giá trị sản lượng hàng hoá. Tất nhiên, trong thực tế sự tăng
thêm giá trị sản lượng hàng hoá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa,
chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật [30]. Đặc biệt, đối với phát
triển trang trại, vốn là nhân tố có tính quyết định tới việc hình thành và phát
kiện cụ thể từng địa phương mà trang trại chia thành các loại khác nhau. Nhìn
chung trang trại được chia thành các loại sau:
- Theo quy mô đất đai: bao gồm trang trại quy mô nhỏ (2 - 5 ha), trang
trại quy mô vừa (5 - 10 ha), trang trại có quy mô lớn (10 - 30 ha) và trang trại
có quy mô vượt hạn điền lớn hơn 30 ha.
- Theo cơ cấu sản xuất các loại trang trại: + Trang trại chuyên môn
hóa: là loại trang trại chỉ tạo ra một hoặc hai sản phẩm chính như: trang trại
chuyên trồng cây hàng năm như mía, sắn , trang trại chuyên trồng cây lâu
năm như cao su, quế, vải, nhãn, cam , trang trại chuyên chăn nuôi như lợn thịt,
lợn sinh sản, bò sinh sản, gà, vịt , trang trại chuyên trồng cây lâm nghiệp như
luồng, keo, bạch đàn , trang trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cá
+ Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: là loại trang trại kết hợp
giữa một trong ba ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, với nhau hoặc
với tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, để thống nhất theo hướng dẫn của Tổng
Cục Thống kê và Bộ nông nghiệp & PTNT, trong nghiên cứu của đề tài trang
trại SXKD tổng hợp là loại hình chỉ kết hợp giữa trồng trọt với chăn nuôi,
hoặc nuôi trồng thủy sản với ngành nghề khác khi mà nó không đạt một
trong các tiêu chí về trang trại chuyên môn hoá.
13
- Phân theo hình thức quản lý: + Trang trại gia đình: là trang trại độc lập sản
xuất kinh doanh do chủ hộ đứng ra quản lý, thường 1 trang trại là của 1 hộ gia đình.
+ Trang trại liên danh: do 2-3 trang trại gia đình kết hợp lại thành 1 trang
trại có quy mô và năng lực sản xuất lớn, đủ sức cạnh tranh với trang trại khác.
+ Trang trại hợp doanh: được tổ chức theo nguyên tắc như công ty cổ
phần hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.
Loại này thường có quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, sử
dụng lao động làm thuê là chủ yếu.
- Phân theo cơ cấu thu nhập: + Trang trại thuần nông, nguồn thu nhập
chủ yếu hoàn toàn hay phần lớn từ nông nghiệp. Số trang trại này đang có xu
hướng giảm đi ở các nước công nghiệp phát triển.
xuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở qui mô sản
xuất như đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá
Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất,
biết áp dụng tiến bộ KHKT tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản
xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quả
cao có thu nhập vượt trội so với kinh tế nông hộ.
Tiêu chí định lượng của trang trại
Đối với hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác
định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá và
dịch vụ bình quân một năm hoặc về quy mô sản xuất của trang trại sau đây:
15
1. Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở
lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.
2. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và từng vùng kinh tế.
- Đối với trang trại trồng trọt:
+ Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và
Duyên hải miền Trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
+ Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và
Duyên hải miền Trung; từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên;
trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên.
+ Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước.
- Đối với trang trại chăn nuôi: + Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,
ngựa… Đối với chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở
lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
+ Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, cừu… Đối với chăn nuôi sinh sản có
thường xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên; đối với dê, cừu từ 100 con trở lên.
Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa); dê
dục, sức khõe, sự bình đẳng về các cơ hội Trong kinh tế, phát triển là quá
trình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định,
trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản lượng sản phẩm, sự hoàn
thiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống
[12].
17
Qua đây chúng ta thấy, tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho phát triển.
Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách Nhà nước,
tăng thu nhập của dân cư. Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ là điều kiện cần, nhưng nó
chưa phải là điều kiện đủ để phát triển. Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn
đến mất cân đối trong nền kinh tế và phân hoá xã hội, ngày càng tăng lên. Ngược
lại, phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế [30].
2.2.2 Quan điểm về phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, do dân số gia tăng mạnh mẽ, do nhu cầu nâng
cao mức sống, hoạt động của con người nhằm khai thác các nguồn lực, tài
nguyên thiên nhiên đã làm cho môi trường bị cạn kiệt. Loài người đã phải đương
đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp môi trường.
Trước những vấn đề của phát triển, vào nửa cuối của thế kỷ 20, Liên Hợp Quốc
đã đưa ra ý tưởng về phát triển bền vững. Theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc
thì một thế giới phát triển bền vững là thế giới không sử dụng các nguồn tài
nguyên có thể tái tạo (nước, đất đai, sinh vật) nhanh hơn khả năng tái tạo của
chúng. Phát triển ý tưởng của Liên Hiệp Quốc, ủy ban quốc tế về phát triển và
môi trường (1987) đã định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự
thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng
phát triển của công nghệ và kỹ thuật, và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất,
làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người [12],
[30].
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Riode Janeiro
năm 1992 đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vũng là: Phát triển
nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả
Phát triển bề rộng, đó là sự gia tăng về số lượng trang trại ở một vùng,
một quốc gia hay một địa phương nào đó. Hiện nay, Bỉm Sơn còn khoảng
1.176 ha đất bằng, mặt nước có khả năng đưa vào sử dụng, dân số gần 6 vạn
người và nguồn lao động ở một số huyện lân cận đây là một trong những
thuận lợi cho phép phát triển trang trại theo bề rộng.
Phát triển bề sâu, cùng với phát triển bề rộng thì chúng ta phát triển
theo chiều sâu thể hiện thông qua về qui mô vốn đầu tư vốn, đào tạo lao đông,
ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất phát triển trang trại phải
gắn công nghiệp chế biến, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các cấp các, ngành,
các doanh nghiệp với chủ trang trại nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất, đem
lại thu nhập ngày một tăng cho người lao động. Phát triển nhưng không làm
phá vỡ môi trường sinh thái
Quan điểm phát triển trang trại ở thị xã Bỉm Sơn cũng như của tỉnh là, phát
triển nhằm khai thác thế mạnh về điều kiện tự nhiên, lao động để chuyển từ nền sản
xuất truyền thống sang sản xuất hàng hoá và hướng đến một nền sản xuất nông, lâm
nghiệp và thuỷ sản công nghệ cao, sản phẩm sạch, an toàn và hướng đến xuất khẩu.
Phát triển trang trại hướng đến nhu cầu thị trường, phát huy lợi thế cây, con của
từng vùng để ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đạt năng suất
cao, chất lượng tốt, sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Phát triển
trang trại phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, hình
thành các vùng nguyên liệu sản xuất hàng hoá tập trung. Phát triển trang trại nhằm
nâng cao giá trị trên một ha đất canh tác, tạo việc làm và tăng thu nhập cho một
phần không nhỏ lao động trang trại ở khu vực nông thôn góp phần tích cực
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
20
2.3.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Trên thế giới, kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển hàng trăm
năm nay và đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp, trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thúc đẩy nhanh quá trình công
* Trang trại ở Pháp: sau cách mạng 1789, ruộng đất của địa chủ phong
kiến được chuyển cho nông dân. Năm 1990, đã có tới 70% trang trại có ruộng
đất riêng, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ. Số trang trại
thuần nông chiếm khoảng 30 ha, mỗi gia đình gồm 2 vợ chồng và 1-2 con, tự
canh tác bằng máy móc riêng. Số lượng trang trại có xu hướng giảm dần
nhưng quy mô trang trại có xu hướng tăng lên. Cụ thể năm 1082 có số lượng
gần 5,7 triệu trang trại, qui mô bình 5,9 ha/trang trại thì đến năm 1978 chỉ có
982 nghìn trang trại, qui mô bình quân tăng lên 24 ha/trang trại. Chứng tỏ
hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại ngày càng phát triển về qui mô
và có xu hướng hợp tác sảng xuất hàng hoá với qui mô lớn ngày càng gia
tăng.
* Trang trại ở Mỹ: ở Mỹ, trang trại phát triển chậm hơn các nước Châu
Âu từ 30- 40 năm, đến nay quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là
180 ha. Ở đây, có 85% chủ trang trại canh tác trên đất của mình, chỉ có 15%
số trang trại thuộc các tập đoàn nông công nghiệp, các trang trại gia đình
chiếm đa số gồm 2 vợ chồng và 1-2 con. Thời gian gần đây, xuất hiện hình
thức trang trại hợp tác xã, loại này chiếm 10-12% đất canh tác.
Từ những năm 1900 đến năm 1935, số lượng trang trại không ngừng
tăng lên, nhưng từ năm 1940 trở đi, số lượng trang trại có xu hướng giảm dần,
22
trong đó từ năm 1940 đến năm 1960 giảm tới 3701 nghìn trang trại, nhưng xu
hướng tăng về quy mô trang trại ở Mỹ phát triển khá nhanh.
* Trang trại ở Thái Lan: trang trại đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo
ra nông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Số lượng trang trại
gia đình có 4,5 triệu trang trại, quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là
5,6 ha, trong đó: trang trại có diện tích từ 5 - 10 ha chiếm 28%; trang trại có
diện tích lớn hơn 10 ha chiếm 14%. Năm 1980, tổng số máy kéo của trang trại
có khoảng 460 nghìn chiếc, bảo đảm cơ giới khâu làm đất 60%, cơ giới hoá
trong khâu chế biến cũng được phát triển mạnh, 84% làng xã có điện phục vụ
sản xuất và sinh hoạt.
Trong quá trình phát triển trang trại phải tự hợp tác với nhau để giải quyết
dịch vụ đầu vào, đầu ra cho trang trại nếu không muốn để tư bản bóc lột. Đồng
thời, Nhà nước phải hỗ trợ nông dân bằng các chính sách ruộng đất, lao động,
đầu tư tín dụng, bảo hộ đầu vào và đầu ra cho sản xuất và trợ cấp ngày càng cao
để nông dân có điều kiện và yên tâm phát triển sản xuất nông nghiệp [16].
2.3.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và khả năng
ứng dụng ở Việt Nam
Từ thực tiễn phát triển kinh tế trang trại trên thế giới chúng ta có thể
đưa ra một số nhận xét sau:
Kinh tế trang trại phát triển là tất yếu của nền nông nghiệp trong quá
trình công nghiệp hoá; quá trình này đã tác động mạnh mẽ vào nông nghiệp,
24
phá vỡ từng mảng kết cấu nông nghiệp truyền thống, bắt nông nghiệp phải
từng bước chuyển dần sang SXKD hàng hoá phù hợp với nhịp độ phát triển
của công nghiệp.
KTTT là một trong những hình thức tổ chức sản xuất trong nông
nghiệp tỏ ra phù hợp với điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đáp
ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, có nhiều lợi thế trong tổ chức sản
xuất và kinh doanh trên thương trường đã nhanh chóng phát triển trên khắp
các lục địa ở các nước công nghiệp phát triển, KTTT đã trở thành lực lượng
chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp.
KTTT ở các nước trên thế giới phát triển rất đa dạng, có nhiều hình
thức khác nhau, nhưng loại hình trang trại gia đình là hình thức phổ biến nhất
và đem lại hiệu quả cao nhất. Hiệu quả SXKD không hoàn toàn phụ thuộc
vào qui mô đất đai, lao động. Bên cạnh đó phải gắn trang trại với công nghiệp
chế biến và dịch vụ ngay tại nông thôn; bồi dưỡng, đào tạo chủ trang trại là
một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của trang trại.
Thực hiện đường lối đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà
nước đã có những chính sách cải cách làm thay đổi tận gốc rễ cơ chế quản lý
cũ, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển