giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ ở thành phố huế - Pdf 10


1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành nghề thủ công truyền thống (TCTT), trong đó thủ công mỹ nghệ
(TCMN) là bộ phận quan trọng đã hình thành và tồn tại trong suốt quá trình phát
triển kinh tế xã hội Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng. Ngành nghề
thủ công mỹ nghệ luôn gắn liền với những làng nghề, phố nghề sản xuất các sản
phẩm thủ công để phục vụ cho các mục đích sử dụng của đời sống xã hội.
Các ngành nghề thủ công mỹ nghệ xuất hiện, tồn tại và suy vong theo từng
giai đoạn phát triển của lịch sử. Các ngành nghề thủ công phù hợp với đòi hỏi của
nhu cầu xã hội tại một thời điểm nào đó thì sẽ có điều kiện phát triển, những ngành
nghề nào không còn phù hợp thì sẽ tự đào thãi. Như vậy, theo dòng chảy của sự vận
động và phát triển mỗi ngành nghề thủ công đều trãi qua các giai đoạn hưng thịnh
và suy tàn nhất định. Nhưng nhìn chung cho đến nay ngành nghề thủ công mỹ nghệ
vẫn có một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và xã hội Việt Nam.
Đối với Thừa Thiên Huế, quá trình hình thành và phát triển của ngành nghề
thủ công mỹ nghệ ngoài những nét chung như bao vùng miền khác trên đất nước thì
còn có những nét đặc thù riêng có của vùng đất này. Do Huế là vùng đất kinh kỳ,
những sản phẩm thủ công được làm để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của tầng lớp
quan lại, quý tộc thượng lưu hoặc hình thành từ yêu cầu của triều đình. Chính các
yếu tố lịch sử này giúp cho Huế trở thành vùng đất tập trung nhiều ngành nghề thủ
công mỹ nghệ và các sản phẩm đạt đến độ tinh xảo cao, mang tính biểu tượng của
nền mỹ thuật đất nước trong một giai đoạn lịch sử, nhiều sản phẩm trở thành di sản
văn hoá đặc sắc tượng trưng cho trình độ phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam. [12]
Thừa hưởng những thành quả trên, ngành nghề thủ công mỹ nghệ trên địa
bàn thành phố Huế cần phải tiếp tục tồn tại và tìm ra cho mình một con đường mới
để phát triển phù hợp. Nghị quyết của Thành uỷ về chương trình hành động thực

địa bàn thành phố Huế. Đây là yêu cầu vừa cấp thiết vừa lâu dài cần được nghiên
cứu nhằm tìm ra những căn cứ lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc đề xuất các
giải pháp phát triển phù hợp. Xuất phát từ đó, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp phát
triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Huế “làm luận văn thạc
sỹ của mình.

3

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Đề tài làm cơ sở hoạch định các chính sách và giải pháp phát triển cho ngành
nghề thủ công mỹ nghệ trên địa bàn thành phố Huế.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về ngành nghề thủ công mỹ nghệ
Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói riêng;
- Phân tích, đánh giá thực trạng một số ngành nghề thủ công mỹ nghệ có tiềm năng
phát triển của thành phố Huế;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ trên
địa bàn thành phố Huế trong thời gian đến.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp chung
Phương pháp duy vật biện chứng được vận dụng xuyên suốt trong quá trình
nghiên cứu. Bởi các hiện tượng kinh tế, xã hội nói chung đều chịu sự tác động của
nhiều yếu tố, mỗi một yếu tố lại được đặt trong mối liên hệ ràng buộc với các yếu tố
khác và có tác động qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu ngành nghề TCMN được đặt
trong bối cảnh phát triển chung của ngành nghề TTCN truyền thống trên địa bàn
thành phố Huế và Tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình nghiên cứu, các yếu tố
như dân số, thu nhập của dân cư, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị-xã
hội…được đặt trong mối quan hệ thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập,
được xem xét qua nhiều năm, trong một thời gian dài để cho phép chúng ta có được

thời gian đến.
* Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thuần theo khoảng cách
nhất định của nhóm điều tra. Sau một quá trình nghiên cứu, trao đổi ý kiến với lãnh
đạo Phòng Kinh tế thành phố Huế, các chuyên gia có kinh nghiệm trong ngành, các
đơn vị đã nhiều năm kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong ngành nghề TCMN
cũng như sự quan sát chủ quan của mình, chúng tôi quyết định tập trung điều tra,
nghiên cứu ba nhóm ngành cụ thể sau :
- Nghề mộc mỹ nghệ, mộc chạm khắc ( 50 trong tổng số 78 đơn vị)
- Nghề thêu tay, ren rua ( 36 trong tổng số 55 đơn vị)
- Nghề đúc đồng mỹ nghệ ( 50 trong tổng số 61 đơn vị)

5

Đây là 3 nhóm ngành nghề có số lượng đơn vị nhiều nhất trong các nhóm
ngành nghề thủ công mỹ nghệ đang hoạt động trên địa bàn thành phố Huế hiện nay,
thu hút một số lượng lao động lớn, có tổng số vốn đầu tư và tạo ra giá trị sản xuất
chiếm tỷ trọng cao. Nghề kim hoàn có số vốn đầu tư và tạo ra giá trị sản xuất cao
nhất, tuy nhiên chúng tôi không chọn nghề này để nghiên cứu sâu do giá trị nguyên
liệu của nghề này cao lại biến động thất thường, sản phẩm bán ra có giá trị lớn
nhưng phần lớn được sử dụng như phương tiện cất trữ và tiêu dùng thông thường,
giá trị gia tăng tạo ra mang tính đặc thù, khó tiếp cận.
3.2.2. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
* Phương pháp phân tổ thống kê: được sử dụng để hệ thống hoá tài liệu điều tra
theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ thuộc vào nội dung và mục đích nghiên cứu.
* Phương pháp phân tích tài liệu: Sử dụng hệ thống các phương pháp phân tích định
tính và định lượng của các hiện tượng để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có;
kết hợp giữa nghiên cứu các hiện tượng số lớn với nghiên cứu hiện tượng cá biệt; sử
dụng kết hợp phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích kinh tế và
phương pháp mô hình toán kinh tế.

α
0
+
α
1
Ln

(X
1
j)

+
α
2
Ln

(X
2
j)

+
α
3
Ln(X
3
j)

+
α
4

j : Lao động gia đình (người)
D
1
, D
2
là các biến giả định
- D
1
: Kinh nghiệm sản xuất từ 20 đến 30 năm; D2 là kinh nghiệm sản xuất trên 30 năm.
- α , β : Các hệ số hồi quy cần ước lượng.
- A : là hằng số.
* Số liệu xử lý bằng chương trình SPSS 15.0.
Theo kinh nghiệm của nhiều nghiên cứu về hiệu quả của các đơn vị sản xuất,
kinh doanh với quy mô nhỏ, để đánh giá đúng hiệu quả sản xuất, biến phụ thuộc của
hàm sản xuất phải là giá trị gia tăng chứ không phải tổng doanh thu. Điều này cho
phép loại bỏ được những sai sót trong phân tích do sự khác biệt về giá trị nguyên
vật liệu tạo nên.
3.2.3. Phương pháp chuyên gia và chuyên khảo
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thu thập thông
tin từ các nhà nghiên cứu văn hoá, các chuyên gia, chuyên viên, các nhà quản lý
nhiều kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, các nghệ nhân, những đơn vị
nhiều năm sản xuất-kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng và hàng thủ công
truyền thống nói chung…nhằm có được những luận cứ có sức thuyết phục về mặt
khoa học và thực tiễn để từ đó đề xuất được những giải pháp phù hợp với thực tế
của địa phương và mang tính khả thi.
3.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng hệ thống các chỉ tiêu cơ bản sau :
- Các chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh : Số lượng lao động, giá
trị tài sản cố định, vốn lưu động, công nghệ, thiết bị sản xuất của các đơn vị.
- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh: Giá trị sản xuất (GO),
8

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH NGÀNH NGHỀ
THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG, NGÀNH NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ,
LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG MỸ NGHỆ
1.1.1. Ngành nghề thủ công truyền thống
Ngành nghề thủ công (NNTC) Việt nam vốn có truyền thống lâu đời gắn liền
với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản phẩm thủ
công truyền thống. Có nhiều tên gọi khác nhau để chỉ ngành nghề (NN) thủ công
truyền thống (TCTT) ở nước ta: Nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề thủ
công Hiện nay, các số liệu thống kê chính thức hàng năm vẫn chưa có một mục
chuyên về sản xuất thủ công truyền thống mà gộp các ngành nghề này vào nhóm “
Tiểu công nghiệp-thủ công nghiệp”, “Sản xuất hộ gia đình phi nông nghiệp”
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải thống nhất tiêu chí xác định ngành nghề
truyền thống để làm cơ sở thực hiện các chính sách bảo tồn, phát triển và định
hướng chiến lược phù hợp. Các nhà nghiên cứu đề xuất một số yếu tố cấu thành của
ngành nghề TCTT :
+ Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta;
+ Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề;
+ Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề;
+ Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt nam;
Hàng thủ công mỹ
nghệ

Mô hình 1 : Đặc trưng của hàng thủ công mỹ nghệ
Ngành nghề thủ công mỹ nghệ bên cạnh các yếu tố cấu thành của ngành
nghề TCTT còn có những nét đặc thù của NN này, đó là : Sản phẩm tiêu biểu và
độc đáo của Việt nam, có giá trị và chất lượng rất cao, vừa là hàng hoá vừa là sản
phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hoá của dân
tộc, mang bản sắc văn hoá Việt Nam. Chính yếu tố nghệ thuật, văn hoá tinh thần kết
tinh trong văn hoá vật thể là một đặc thù hết sức quan trọng của hàng thủ công mỹ
nghệ. Sự kết hợp giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật
của nghệ nhân và thợ thủ công để tạo ra hàng thủ công mỹ nghệ đã kéo theo những

10

đặc thù khác trong sự phát triển của ngành nghề TCMN và được xem như là những
tiêu chí của ngành nghề này :
- Tính riêng, đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt;
- Chiều sâu nhiều hơn chiều rộng, mang tính trường phái, gia tộc, giữ bí quyết
trong sáng tạo hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi;
- Đầy chất trí tuệ, tri thức tích tụ lâu đời;
- Sử dụng hàng thủ công đồng thời thưởng thức nó nữa (thưởng thức nghệ
thuật và tư tưởng, trí tuệ). [17]
1.1.3. Làng nghề, làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công mỹ nghệ
Làng nghề là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là “làng” và “nghề”
được hình thành dựa trên cơ sở tập hợp những gia đình nhỏ trong một không gian
nhất định để sản xuất và sinh hoạt độc lập. Làng nghề gắn bó với các ngành nghề
phi nông nghiệp, các ngành nghề thủ công ở trong các thôn làng. Khi phân loại làng

của địa phương. Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ là một thước đo tương đối. Bởi vì,
đối với từng loại nghề khác nhau thì tỷ lệ nói trên cũng khác nhau. Quy mô về số hộ
và số lao động của các làng và các vùng cũng chênh lệch nhau đáng kể. Mặt khác,
cùng với sự thăng trầm trong quá trình phát triển của từng nghề và làng nghề, dẫn
đến số lượng hộ và lao động chuyên làm nghề TCMN có sự biến động mạnh mẽ.
Ngày nay, khái niệm làng nghề không chỉ bó hẹp ở những làng nghề chỉ có
những người chuyên làm nghề thủ công nghiệp đơn thuần theo như cách phân chia
trước đây. Trong quá trình công nghiệp hoá và chuyển sang nền kinh tế thị trường
hiện nay, trong các làng nghề, các công nghệ sản xuất của nhiều nghề không còn
hoàn toàn là kỹ thuật thủ công, mà nhiều nghề đã sử dụng các công nghệ, kỹ thuật
cơ khí hiện đại và bán cơ khí vào quá trình sản xuất. Đồng thời, trong các làng
nghề đã xuất hiện nhiều cơ sở chuyên làm dịch vụ đầu vào và đầu ra cho các hộ
chuyên làm nghề. Làng nghề truyền thống nói chung và làng nghề thủ công mỹ
nghệ nói riêng có thể được định nghĩa: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân

12

cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa
bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc
nhiều loại sản phẩm khác nhau. Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề
truyền thống được hình thành từ lâu đời.”. [9,14-16; 17,14; 36]
1.2. VAI TRÒ CỦA NGÀNH NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG, THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.2.1. Phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ góp phần tạo việc làm cho
người lao động
Dân số và việc làm là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết và cùng tác động
quyết định lên tiến trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, giải quyết việc làm
là một trong những vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng trong công cuộc phát triển
đất nước. Trong các ngành nghề thủ công nói chung và ngành nghề thủ công mỹ
nghệ nói riêng, lao động thường chiếm tỷ lệ tới 60-65% giá thành sản phẩm, nên

T/số
Tổng số
(người)
Số làm
nghề
(người)
%
Trong

T/số
1. Đồng bằng sông
Hồng
15.451 914 5,9 13.501.335 848.805 6,3
2. Đông Bắc 21.514 116 0,5 7.308.218 35.044 0,5
3.Tây Bắc 6.526 247 3,8 2.039.685 104.210 5,1
4. Bắc Trung bộ 16.059 341 2,1 8.760.322 137.568 1,6
5. Nam Trung bộ 4.008 87 2,2 4.774.156 44.730 0,9
6. Tây nguyên 5.357 0 - 3.159.246 - -
7. Đông Nam bộ 3.485 101 2,9 6.071.412 93.716 1,5
8. ĐB sông Cửu
long
8.144 211 2,6 13.329.335 84.286 0,6
Tổng 80.544 2.017 2,5 58.943.709 1.348.359 2,3

Nguồn : Tổng hợp và điều tra của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) & Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam năm 2004. (1,3-10)
(1) Số lượng làng nghề và số người tham gia làm nghề trên cơ sở tiêu chí điều tra
lập bản đồ.
Cả nước hiện có 2.017 làng nghề, với hơn 1,3 triệu lao động chuyên nghiệp
và từ 3-5 triệu lao động thời vụ trong 1,423 triệu hộ gia đình tham gia sản xuất có

Sản phẩm của ngành nghề thủ công mỹ nghệ là nhân tố quan trọng thúc đẩy
phát triển sản xuất hàng hoá ở nông thôn. Ngành nghề thủ công mỹ nghệ hàng năm
luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn đóng góp đáng kể vào giá
trị sản lượng của từng địa phương nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung. Tỷ
trọng hàng hoá ở các làng nghề thường cao hơn rất nhiều so với các làng thuần
nông. Những địa phương có nhiều làng nghề thì nền kinh tế hàng hoá thường phát
triển hơn so với các địa phương có ít làng nghề. Chẳng hạn, giá trị sản xuất công
nghiệp nông thôn Thái Bình chiếm khoảng 75% tổng giá trị công nghiệp địa
phương toàn tỉnh, ở Bắc Ninh là 73,7% Làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) thu nhập từ
ngành nghề phi nông nghiệp chiếm 99% tổng thu nhập của toàn xã (riêng nghề gốm
sứ chiếm tới 86%). [9,40]

15
Bảng 2 : TÌNH HÌNH CÁC HỘ SẢN XUẤT THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN CẢ NƯỚC

Hộ sản xuất (%)
Khu vực

Tỷ lệ hộ SX
thủ công
nghiệp
(1)
(%)

Thuần
nông
Hộ

16

Bên cạnh thị trường nội địa có khả năng mở rộng, hàng TCMN của VN còn
nhiều tiềm năng xuất khẩu bởi nhu cầu thị trường thế giới hầu như chưa bị giới hạn
do “vòng đời” của sản phẩm ngắn, xu hướng tiêu dùng ngày càng hướng đến các
sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên, thân thiện với môi trường. Giai đoạn 1991-
2000, kim ngạch xuất khẩu xuất khẩu hàng TCMN của VN có nhịp độ tăng khá
nhanh. Nếu năm 1991 mới đạt 6,8 triệu USD, năm 1996 đã đạt 124 triệu USD, năm
1999 là 168 triệu USD, thì đến năm 2000 đạt hơn 235 triệu USD. Giai đoạn 2001
đến 2006 nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối cao (bình quân là 17,87%) đã
đưa mặt hàng TCMN trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của
VN (đứng thứ 8 trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực). Hiện nay, hàng TCMN xuất
khẩu của VN đã có mặt tại thị trường của trên 100 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó
tập trung là các thị trường Nga, Mỹ, Nhật, Đông Âu, EU, Bắc Mỹ, Hàn Quốc, Đài
Loan sản phẩm hàng TCMN xuất khẩu của VN cũng rất đa dạng, nhiều chủng loại
(đồ gỗ, mây, tre đan, gốm sứ ). Trong “Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-
1010” của Bộ Thương mại, định hướng nhóm hàng TCMN chiếm một vị trí rất
quan trọng. Đây là một trong số ngành được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát
triển bền vững, xuất khẩu lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao. Mục tiêu phấn đấu kim
ngạch xuất khẩu của ngành TCMN đến 2010 là 1,5 tỷ USD. [47]
1.2.3. Phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ nâng cao thu nhập của người
dân, góp phần vào chương trình xoá đói giảm nghèo của quốc gia
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, trong hơn một thập kỷ qua, Việt
Nam đã đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận về giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo của
VN đã giảm từ 58% (năm 1993) xuống còn 20% (năm 2004); GDP bình quân đầu
người từ dưới 200 đôla Mỹ/ người năm 1993 tăng lên khoảng 835 đô la Mỹ/người
năm 2007.[21,6]
Trong các làng nghề TCTT, TCMN đã được khôi phục và phát triển đều giàu
có hơn các làng thuần nông khác trong vùng. Ở các làng nghề tỷ lệ hộ giàu thường rất
cao, thường không có hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo rất thấp, thu nhập từ ngành nghề thủ

7. Đông Nam bộ 527,8 179 652,9 642,7 0,98
8. ĐB sông Cửu Long 342,1 116 452,4 415,0 0,92
Tổng 295,0 100 312,0 312,0 0,79

Nguồn : “Nông nghiệp và nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới, 1996-2002”, Tổng
cục thống kê. Điều tra khảo sát lập bản đồ, Bộ NNPTNT-JICA,2002
(Số liệu về thợ thủ công) [1,3-11]
Việc làm đầy đủ, thu nhập bảo đảm, đời sống vật chất tinh thần ngày càng
nâng cao làm cho người lao động nói riêng và người dân ở các làng nghề nói chung
sẽ yên tâm tập trung cho công việc của mình. Người lao động sẽ không phải rời bỏ
quê hương vì sinh kế, thực hiện được quá trình đô thị hoá phi tập trung. Mức thu
nhập trung bình của các hộ gia đình tham gia sản xuất thủ công thường cao hơn 3 -
4 lần so với người lao động thuần nông, có thể thấy rằng ngành nghề thủ công đóng
góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế nông thôn do mức thu nhập trung bình
của cả nam giới và phụ nữ làm nghề thường cao hơn so với mức trung bình của cả
nước, tỷ lệ nghèo chỉ khoảng 3,7% so với 10,45% tỷ lệ nghèo cả nước .
Tuy nhiên, mức lương của người lao động trong ngành TCMN của Việt Nam
hiện nay đang còn thấp hơn so với các nước trong khu vực. Theo số liệu điều tra,

18

công nhân VN có thu nhập từ 0,2-0,6 USD/giờ, trong khi Indonesia từ 0,3-0,4
USD/giờ, Trung Quốc từ 0,5-0,75 USD/giờ, Malaysia từ 1,25-1,l4 USD/giờ, Thái
Lan từ 1,5 USD/giờ trở lên và ở Đài Loan khoảng 5 USD/giờ. [44]
Bảng 4 : ĐẶC ĐIỂM CÁC HỘ SẢN XUẤT THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN CẢ NƯỚC

Hộ Thu nhập bình quân
tháng của hộ
(3)


đại hoá (HĐH). Phần quý báu nhất trong di sản văn hoá là những giá trị truyền
thống, tiêu biểu cho sức sống, phẩm chất, tính cách, bản sắc dân tộc được lưu giữ
tạo thành bàn đạp, sức mạnh bên trong cho sự phát triển bền vững của cá nhân và
cộng đồng. [55,333]
Nhiều nghề và làng nghề TCMN của nước ta đã nổi bật lên trong lịch sử văn
hoá Việt nam. Nhiều sản phẩm của các làng nghề sản xuất ra mang tính nghệ thuật
cao với các đặc tính riêng có của làng nghề và những sản phẩm đó đã vượt qua giá

19

trị hàng hoá đơn thuần, trở thành những sản phẩm văn hoá được coi là biểu tượng
của truyền thống dân tộc Việt nam. Ngành nghề truyền thống, đặc biệt là các nghề
thủ công mỹ nghệ, chính là di sản quý giá mà cha ông chúng ta đã tạo lập và để lại
cho các thế hệ sau. Bởi vậy, phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ góp phần đắc
lực vào việc giữ gìn các giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam trong quá trình công
nghiệp hoá (CNH)-HĐH đất nước. [9,46]
Cả nước ta hiện có khoảng 300 làng nghề TCMN truyền thống trong tổng số
khoảng 2.017 làng nghề; có những làng nghề nổi tiếng như làng lụa Vạn Phúc, gỗ
Đồng Kỵ, gốm sứ Bát Tràng, đúc đồng Ý Yên, thổ cẩm Hoà Bình, thổ cẩm Chăm,
thêu Huế, chạm bạc Đồng Xâm, sứ Bình Dương Khi cuộc cạnh tranh với quy mô
toàn cầu mở ra, những sản phẩm TCMN mà doanh nhân nước ta mang ra thị trường
đều phải có sức cạnh tranh cao hơn trước, không những trên thị trường thế giới mà
còn ngay trên thị trường trong nước. Song, điều cần nhấn mạnh là đó không chỉ là
những hoạt động đơn thuần kinh tế mà ẩn chứa bên trong các sản phẩm TCMN ấy
luôn luôn có hàm lượng văn hoá, trước hết là văn hoá của mỗi cơ sở sản xuất và
rộng hơn, là bản sắc văn hoá của từng làng nghề và của cả VN ta. Nói cách khác,
kinh tế và văn hoá gắn bó với nhau, hoà quyện vào nhau trong mỗi sản phẩm
TCMN. [32]
1.2.5. Phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ theo hướng sản xuất hàng hoá
giúp đội ngũ lao động có khả năng thích ứng với lao động công nghiệp, góp

thức của lao động nông nghiệp được nâng cao, thói quen năng động, ý chí vươn lên
và phong cách nghề nghiệp được tôi luyện trong môi trường kinh tế hàng hoá, sẽ
càng có điều kiện đáp ứng nhu cầu chất lượng sức lao động ngày càng tăng của
công nghiệp và dịch vụ. [6,95-105; 2,39-41]
1.2.6. Phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ theo hướng liên kết cùng ngành
du lịch
Hệ thống làng nghề là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng
của nước ta. Phát triển du lịch làng nghề không chỉ mang lại lợi nhuận kinh tế mà
còn là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam. Ngoài những
lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề
TCMN còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng thường gắn với một vùng văn hoá hay

21

một hệ thống di tích. Chính điều này đã tạo nên sức hấp dẫn riêng của các làng
nghề. PGS.TS Phạm Trung Lương, Viện nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề
nhận định : “Làng nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch
nhân văn có ý nghiã đặc biệt quan trọng. Bởi các sản phẩm du lịch làng nghề luôn
bao hàm trong nó cả những giá trị vật thể và phi vật thể”. [25]
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt nam đến năm 2010 với mục tiêu
phát triển du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai thác có hiệu
quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hoá lịch sử, từng bước
đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cở của khu vực, phấn đấu sau
năm 2010 du lịch Việt nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển
trong khu vực. Năm 2010 khách quốc tế đến Việt nam du lịch được dự đoán đạt từ
5,5 đến 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt người, thu nhập du
lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ USD. [53]
Trong bối cảnh đó, việc phát triển các làng nghề phục vụ du lịch đã được
nhiều địa phương trên cả nước xúc tiến và đang tích cực triển khai quảng bá sản
phẩm thủ công. Nhiều tỉnh thành như Hà Tây, Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên

thoả đáng về hạ tầng du lịch cũng như nâng tầm văn hoá và cơ chế phối hợp với các
doanh nghiệp lữ hành để thu hút khách. Thành ra nhiều làng có tên là điểm du lịch
làng nghề nhưng lại chỉ mang tính hình thức, phong trào nên không đem lại hiệu
quả thiết thực.[53; 25; 44; 1,6-62; 31]
1.2.7. Phát triển ngành nghề thủ công mỹ nghệ góp phần phát triển khối doanh
nghiệp, định hình nên một đội ngũ thương nhân mới
Doanh nghiệp là một nhân tố hết sức quan trọng trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, nhất là khi VN chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại thế giới. Vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động trong việc xây dựng chiến lược
mở rộng liên kết, hợp tác với nhau để hợp lý hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá
trên cơ sở thế mạnh của mỗi doanh nghiệp nhằm mở rộng sức sản xuất, giảm chi
phí, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hiện nay, chưa có số liệu thống kê chính thức về
số doanh nghiệp thuộc ngành nghề thủ công tham gia hoạt động trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, với trên 1.000 doanh nghiệp tham gia trong lĩnh vực xuất khẩu hàng
TCMN là một trong những lực lượng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình
phát triển và mở rộng thị trường quốc tế cho ngành hàng này.

23

Hình thức tổ chức sản xuất-kinh doanh phổ biến trong các làng nghề truyền
thống là hộ gia đình. Mô hình này hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển, mỗi
gia đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản phẩm,
không đủ tầm để định hướng phát triển và vạch ra chiến lược kinh doanh. Các
doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần được phát triển từ một số tổ
sản xuất hoặc một số hộ gia đình sản xuất-kinh doanh khá đã bắt đầu hình thành ở
nhiều làng nghề. Hình thức tổ chức này tuy chưa chiếm tỷ trọng lớn ở một số làng
nghề hiện nay nhưng lại đóng vai trò trung tâm liên kết mà các hộ gia đình là các
vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ gia đình, giải quyết đầu vào,
đầu ra của các làng nghề với các thị trường tiêu thụ khác nhau. Khối doanh nghiệp
trong các làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp hiện đại và có

Các số liệu cho thấy, nhiều năm trở lại đây, hàng TCMN đuợc liệt vào
danh sách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất. Nếu như năm 1998, hàng
TCMN Việt Nam chỉ bán ở 50 nước thì nay đã có mặt trên 100 nước và vùng lãnh
thổ [41]. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đạt mức tăng khá, từ 235
triệu USD năm 2001 lên trên 560 triệu USD năm 2005 và 630,4 triệu USD năm
2006, mục tiêu năm 2007 đạt 820 triệu USD. Hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng
nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất
nhỏ trong sản phẩm, khoảng 3-5% giá trị xuất khẩu. Vì vậy giá trị thực thu xuất
khẩu hàng TCMN trên thực tế là rất cao, từ 95-97%. [56]
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ VN đã vươn tới các thị trường tiêu thụ lớn của
thế giới như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản. Đây là mặt hàng mà nhu cầu
thị trường thế giới hầu như chưa bị giới hạn bởi tính chất độc đáo và khác biệt của
sản phẩm. Bên cạnh đó, xuất khẩu mặt hàng này mang lại giá trị gia tăng lớn nên có
thể coi là ngành hàng mủi nhọn để tập trung phát triển xuất khẩu trong thời gian tới.
Một số thị trường mục tiêu nên được lựa chọn để đẩy mạnh xuất khẩu :
+ Thi trường Hoa Kỳ : Xuất khẩu của VN sang Mỹ có xu hướng ngày càng tăng,
dự kiến sẽ vượt con số 10 tỷ đô la Mỹ trong năm 2007. Nhu cầu nhập khẩu của Hoa
kỳ về mặt hàng TCMN khoảng 13 tỷ USD/năm, xuất khẩu Việt Nam năm 2005 vào
nước này chỉ chiếm 1,5% kim ngạch nhập khẩu. Năm 2006, Việt Nam xuất khẩu
vào thị trường Hoa kỳ khoảng 77 triệu USD hàng TCMN, trong đó 36,8% là hàng

25

gốm sứ, tăng 27,6% so với năm 2005 và gấp 7 lần so với năm 2002. Phấn đấu đến
2010 nâng tỷ lệ này lên 3% đạt kim ngạch trên 0,4 tỷ USD. [30; 21,16]
+ Thị trường Liên minh Châu Âu (EU) : EU là một tổ chức liên chính phủ của các
nước Châu Âu, là một trong 3 trụ cột kinh tế quan trọng của thế giới, có tốc độ tăng
trưởng cao, tương đối ổn định. Thị trường EU có nhu cầu rất lớn, đa dạng, phong
phú về hàng hoá và hàng TCMN là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của ta sang thị trường này. Nhu cầu nhập khẩu của khối này về mặt hàng TCMN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status