Đề tài:Triết học cổ điển Đức pot - Pdf 10

Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LỊCH SỬ

Đề tài:
TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
GVHD: TS. Trịnh Tiến Thuận
SVTH: Nguyễn Thị Thùy Trang
MSSV: K37.602.104
Lớp: K37_Sử B
Môn: Lịch sử văn minh thế giới
TP Hồ Chí Minh tháng 1 năm 2013
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
MỤC LỤC
Mở đầu 4
I. Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội, khoa học và một số đặc điểm cơ
bản của triết học cổ điển Đức 5
1. Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội 5
2. Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 5
II. Nội dung cơ bản của triết học cổ điển Đức thông qua các tác gia tiêu
biểu 8
1. Immanuel Kant (1724 – 1804) 8
a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Immanuel Kant 8
b) Những nội dung chính của “Triết học lí luận” 10
2. Johann Gottlieb Fichte (1762-1814) 14
a) Vài nét về Johann Gottlieb Fichte 14
b) Sơ lược về triết học của Johann Gottlieb Fichte 15
3. Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775 – 1854) 16
a) Vài nét về Friedrich Wilhelm Joseph Schelling 16

này với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính
chất tiểu tư sản, thỏa hiệp. Tất cả cái đó tạo nên nét riêng của triết học cổ điển Đức.
Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đức cuối thế
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng,
nhưng hình thức của nó thì cực kì “rối rắm” và có tính chất bảo thủ.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 4
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
I. Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội, khoa học và một số đặc điểm cơ
bản của triết học cổ điển đức
1. Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội
Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản được thiết lập và phát
triển mạnh mẽ hầu hết ở các nước Tây Âu. Thành quả của cuộc cách mạng công
nghiệp đã tạo ra bước nhảy đột biến trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khẳng
định tính ưu việt hơn hẳn của chủ nghĩa tư bản so với tất cả các xã hội trước đó. Trong
khi đó nước Đức vẫn đang ì ạch trong chế độ phong kiến. Xu hướng phát triển theo
khuynh hướng tư bản chủ nghĩa đã bị chế độ phong kiến quan liêu chuyên chế cản trở.
Nhà nước liên bang chỉ tồn tại trên danh nghĩa, gồm 360 công quốc nhỏ bé làm cho
đất nước Đức trở thành một quốc gia manh mún, yếu kém về mọi mặt như Ănghen đã
gọi nó là “sự cùng khổ Đức” của lịch sử nước Đức. Giai cấp Tư sản nằm mơ về cách
mạng tư sản Pháp nhưng lại chưa dám hành động.
Cùng với tình hình kinh tế - xã hội ở trong nước sự phát triển của khoa học, đặc
biệt là sự phát triển của khoa học tự nhiên đã đặt ra nhiều vấn đề phải xem xét lại. Các
phát minh khoa học đã chứng tỏ rằng phương pháp tư duy siêu hình, tư biện không thể
pát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và thực tiễn trong xã
hội đang diễn ra ngày càng phong phú phức tạp.
Thực tiễn và nhu cầu phát triển tư duy lý luận đòi hỏi và đã tạo tiền đề, điều
kiện cho sự xuất hiện của một nền triết học mới–Triết học cổ điển Đức.
2. Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp Tư sản Đức
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Như tình trạng nước Đức lúc bấy giờ trong tư

Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
chứng duy tâm những vẫn được các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giá
cao. Đó là một trong những cơ sở lý luận được triết học Mác đề ra.
Trên đây là những đăc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức. Luận điểm của
Mác coi những đặc điểm của triết học cổ điển Đức là “ lý luận của ngưòi Đức về cách
mạng tư sản Pháp” một mặt cho thấy đặc điểm riêng của triết học cổ điển Đức so với
triết học Pháp thế kỷ XVIII, dù giữa chúng có sự kế thừa to lớn ; mặt khác khẳng định
giá trị tư tưởng vĩ đại của triết học cổ điển Đức.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 7
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
II. Nội dung cơ bản của triết học cổ điển Đức thông qua các tác gia tiêu
biểu
1. Immanuel Kant (1724 – 1804)
a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Immanuel Kant
Imanuel Kant (1724- 1804) được mọi người biết đến là người sáng lập ra nền
triết học cổ điển Đức; là một trong những nhà tiết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởng
phương Tây trước Mác. Triết học của ông là “nền tảng và điểm xuất phát của triết học
Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của
Kant”.
Kant sinh năm 1724 ở Kênisbec. Năm 1745 ông tốt nghiệp đại học tổng hợp
Kênisbec và trở thành một gia sư. Năm 1755 ông là giáo sư và từ năm 1770 là giáo sư
của trường đại học Kênisbec. Là một trong những học giả uyên bác nhất đương thời,
ông giảng dạy về nhiều lĩnh vực: siêu hình học, logic học và toán học, cơ học, địa chất
học…
Trong suốt cuộc đời 80 năm của mình, ông đã sản sinh ra hàng loạt các tác phẩm
nổi tiếng để đời như : Phê phán lý tính thuần túy (1781); Mở đầu khoa siêu hình học
tương lai (1783); Các nguyên tắc của siêu hình học về đạo đức (1785) Phê phán lý
tính thực tiễn (1788); Phê phán năng lực phán đoán (1790); Nhân học (1798)…
Sự phát triển về tư tưởng triết học của Kant được phân làm 2 thời kỳ: thời kỳ tiền
phê phán (trước 1770) và thời kỳ phê phán (sau 1770).

Theo Kant các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan trọng là
con người. Vì vậy Kant đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải xác định bản chất của
con người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được hướng vào việc giải quyết
những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người. Triết học phải đem
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 9
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc
cơ bản của cuộc sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo. Để làm được điều
đó thì triết học phải lý giải các vấn đề : Tôi có thể biết được cái gì?, Tôi cần phải làm
gì?, Tôi có thể hy vọng cái gì?, Con người là gì?
Bước ngoặt trong sự phát triển triết học của Kant là cuộc gặp gỡ của ông với
thuyết duy nghiệm của Hume. Ông nói: tôi công khai thú nhận, gợi ý của David Hume
chính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm về
trước và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực tư duy
triết học”. Kant từ chối theo con đường của Hume không chỉ vì nó có thể dẫn ông tới
chủ nghĩa hoài nghi mà còn vì ông cảm thấy rằng mặc dù Hume đã đi đúng đường
nhưng không hoàn thành nhiệm vụ giải thích làm thế nào đạt được tri thức. Vì vậy,
Kant đã tìm cách xây dựng trên điều mà ông nghĩ là có giá trị cả trong chủ nghĩa duy
lý lẫn trong chủ nghĩa duy nghiệm, và bác bỏ điều gì không thể bảo vệ trong hệ thống
này. Ông bắt đầu một đường lối mới mà ông gọi là “triết học phê phán”.
Triết học phê phán của Kant chủ yếu phân tích khả năng của lý trí con người,
được ông hiểu là “ một sự truy tìm phê phán khả năng của lý trí liên quan tới mọi nhận
thức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc lập với mọi kinh nghiệm”. Đường lối
của triết học phê phán của ông đặt ra là “năng lực hiểu biết và lý trí có thể biết những
gì và bao nhiêu mà không cần kinh nghiệm?” chính vì vậy mà triết học lý luận của
Kant chủ yếu đề cập tới nhận thức luận và logic học với mục đích xây dựng một nền
tảng thế giới quan mới cho con người nhằm giải đáp cho câu hỏi “ con người có thể
biết được cái gì?”.
b) Những nội dung chính của “Triết học lí luận”
Triết học lý luận là một trong ba bộ phận cơ bản của triết học Kant, nó giải

Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 11
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
trên có một sự khác biệt lớn; một bên hoàn toàn thụ động nhưng bê kia lại rất năng
động và luôn tìm kiếm những phương pháp mới.
Khi nói về tri thức kinh nghiệm cảm tính, ông cho rằng, kinh nghiệm cho ta biết
sự vật thế này hay thế khác, nhưng không thể cho ta biết sự vật có thể là thế khác
chăng. Do đó, tri thức kinh nghiệm cảm tính luôn có tính chất vụn vặt, lẽ tẻ và bó hẹp
vào từng sự kiện mà ta đã kinh nghiệm. Trái lại, tri thức khoa học vượt tới mức phổ
quát và tất yếu, bao trùm lên tất cả mọi trường hợp có thể xãy ra giống như vậy, đó
chính là trí năng của con người, Kant gọi loại tri thức này là tri thức tiên thiên. Kant
viết: “ tính chất tất yếu và tính chất phổ quát thực sự là những dấu hiệu chắc chắn của
một tri thức tiên thiên và hai tính chất này không khi nào lìa nhau”. Từ quan niệm về
tri thức nêu trên, Kant đã phê phán nghiêm khắc những quan niệm của các triết gia
duy cảm và duy lý.
Như vậy, có thể thấy ở học thuyết của Kant, tri thức được cấu tạo bởi hai yếu tố
không thể thiếu: quan niệm và cảm giác, không có yếu tố nào được coi là cần thiết
hoặc quan trọng hơn yếu tố kia. Trên cơ sở đó ông đã dùng phương pháp phê bình để
chứng minh sự khác biệt hoàn toàn giữa hai loại tri thức trên . Từ đó, ông đi đến
khẳng định chỉ có tri thức khoa học mới có thể vạch ra được quy luật của thế giới hiện
tượng.
Kant xác định đối tượng của “ triết học lý luận” không phải là bản thân thế giới
tự nhiên như nó tồn tại, mà là hoạt động nhận thức của con người, là nghiên cứu
những điều kiện và năng lực chủ thể của nhận thức. Phù hợp với đối tượng đó thì
nhiệm vụ của triết học lý luận là vạch ra xem khoa học sản sinh ra tri thức như thế nào
và từ đó xác định bản chất của con người trong lĩnh vực sinh hoạt tri thức.
Để giải quyết các vấn đề đó, Kant đã chỉ ra đối tượng nhận thức của con người
là thế giới, nhưng bản thân thế giới này được Kant chia làm hai, thế giới hiện tượng và
thế giới “ vật tự nó”; trong đó thế giới hiện tượng là sản phẩm của sự tác động của thế
giới “ vật tự nó” vào chủ thể, còn thế giới “ vật tự nó” là thế giới của những gì tồn tại
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 12

Khi xác định nhiệm vụ của “Triết học lý luận” là vạch ra xem khoa học sản sinh
ra tri thức như thế nào, Kant đã chỉ ra đối tượng nhận thức của con người là thế giới
và bản thân thế giới này được Kant chia thành hai, thế giới “vật tự nó” mang tính siêu
nghiệm và thế giới hiện tượng có tính thường nghiệm. Từ đó, Kant đi vào nghiên cứu
quá trình nhận thức của con người và ông cho rằng trong hoạt động nhận thức, con
người có được tri thức bởi một năng lực tiên thiên là lý tính lý luận với các cấp độ:
cảm năng, trí năng và lý năng; và ông đi sâu phân tích cơ cấu bên trong của mỗi cấp
độ để vạch ra công cụ và kết quả của quá trình nhận thức. Đó là cái nhìn xuyên suốt
của Kant trong tiến trình triển khai “triết học lý luận” của mình; bao gồm trong đó sự
xuất hiện lập trường duy tâm, nhị nguyên luận, bất khả tri cũng như những cống hiến
tích cực và hạn chế lịch sử của ông. Mặc dù có những hạn chế nhất định, song chừng
ấy cũng đủ để thấy rằng, Kant là một nhà triết học vĩ đại của nền triết học cổ điển Đức
nói riêng và lịch sử triết học nhân loại nói chung. Ông có nhiều đóng góp lớn lao cho
sự phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, trong đó “triết học lý luận” là một trong
những hạt nhân cơ bản đã thể hiện rõ những cống hiến ấy.
2. Johann Gottlieb Fichte (1762-1814)
a) Vài nét về Johann Gottlieb Fichte
Fichte (19/5/1762–27/1/1814) là một triết gia người Đức. Ông là một trong
những nhân vật sáng lập của phong trào triết học được biết dưới tên chủ nghĩa duy
tâm Đức, vốn phát triển trừ những bài viết về triết lý và đạo đức của Immanuel Kant.
Fichte thường được xem là một nhân vật người mà triết học của ông đã bắc cây cầu
giữa các tư tưởng của Kant với nhà duy tâm Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel.
Gần đây, nhiều nhà triết học và học giả bắt đầu đánh giá như một nhà triết học quan
trọng tự thân do những tầm nhìn độc đáo của ông vào bản chất của sự tự nhận thức
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 14
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
hay tự ý thức. Giống Descartes và Kant đi trước, ông được thúc đẩy bởi vấn đề tính
chủ quan và nhận thức. Fichte cũng viết các tác phẩm về triết học chính trị và được
coi là một trong những người hình thành nên chủ nghĩa dân tộc Đức.


là triết học đồng nhất.
“Sự đồng nhất tuyệt đối” được Schelling gọi là cái tuyệt đối. Cái tuyệt đối
không phải là cái ở giữa vật chất và tinh thần mà chỉ là trạng thái đặc biệt, trạng thái
vô ý thức của tinh thần thế giới. Schelling giải thích sự vận động của giới tự nhiên, và
sự chuyển hoá của ý thức từ chủ thể lại trở thành khách thể thông qua cái tuyệt đối và
sự vận động nội tại của cái tuyệt đối đó.
b) Sơ lược về triết học của Friedrich Wilhelm Joseph Schelling
Schelling từ lập trường duy tâm khách quan, đã chứng minh rằng cái tuyệt đối
là đấng sáng tạo tối cao. Tuy nhiên thì trong quá trình lý giải về sự vận động phát triển
của giới tự nhiên ông cũng đã đề cập đến những quan niệm biện chứng, và chúng
được xem như đóng góp của ông vào việc định hình phép biện chứng. Đó là những tư
tưởng về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và sự phát triển.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 16
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
Bên cạnh đó thì những tư tưởng triết học nghệ thuật của Schelling cũng đóng
góp rất nhiều cho sự ra đời của trường phái văn nghệ lãng mạn ở Đức cũng như cho
triết học nghệ thuật sau này. Trong ba cái nghệ thuật, triết học và khoa học thì nghệ
thuật chính là hình thức thể hiện cao nhất của cái tuyệt đối. Nghệ thuật của ông là
công cụ để giải thích cho tự nhiên chứ không phải là cái phản ánh tự nhiên.
Từ năm 1816 thế giới quan của Schelling ngày càng ngả sang lập trường tôn
giáo với quan niệm coi tự nhiên là sản phẩm của sáng toạ của Chúa, cái tuyệt đối trở
thành Chúa người ta gọi ông ở giai đoạn này là “ một kẻ lãng mạn đáng buồn, sống
mà cũng như chết”. Tuy nhiên những tư tưởng triết học của ông được phổ biến và có
ảnh hưởng rộng rãi ở Đức và nhiều nước Châu Âu.
4. Georg Vinhem Phridich Hegel (1770 – 1831)
a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Hegel
Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen là nhà biện chứng lỗi lạc bậc tiền bối của
triết học Mác xít. Theo nhận xét của Ph. Ăngghen, ông “không chỉ là một nhà thiên tài
sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của
ông tạo thành thời đại”.

tinh thần tuyệt đối nhận thức chính bản thân mình.
Nguyên lý phát triển: Sự thống nhất giữa tư duy và tồn tại, tư tưởng và hiện
thực là sự phát triển về chất. Như vậy, Hêghen đã không coi sự phát triển chỉ là sự
tăng giảm đơn thuần về lượng hay sự dịch chuyển vị trí của trong không gian mà đó là
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 18
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
một quá trình phủ định biện chứng, trong đó liên tiếp diễm ra cái mới thay thế cho cái
cũ, nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố của cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩy
phát triển.
Xuất phát từ quan niệm coi sự phát triển như một quá trình vận động liên tục
theo quy luật phủ định của phủ định, Hêghen coi một trong những nguyên tắc xây
dựng hệ thống triết học của mình nhằm thể hiện quá trình phát triển của tinh thần
tuyệt đối là tam đoạn thức: chính đề - phản đề - hợp đề, trong đó giữa các yếu tố đều
có mối liên hệ hữu cơ, chuyển hóa lẫn nhau.
Ý thức con người là sản phẩm của lịch sử: Trong “Hiện tượng học tinh thần”,
Hêghen đã tiếp cận được quan niệm coi nhân cách, ý thức con người là sản phẩm của
lịch sử. Lịch sử nhân loại mặc dù được thực hiện thông qua hoạt động của các cá nhân
cụ thể, nhưng đồng thời lại là nền tảng và thực thể của ý thức các cá nhân đó.
Xuất phát từ quan niệm trên, Hêghen coi nhiệm vụ cơ bản của hiện tượng học
tinh thần là tái diễn lại toàn bộ tiến trình lịch sử mà nhân loại đã trải qua.
Tư tưởng chủ đạo của Hêghen ở đây là: thứ nhất, tư duy và ý thức con người
chỉ phát triển trong mối quan hệ và giải quyết mâu thuẫn: con người - tự nhiên. Thứ
hai, ý thức con người là sản phẩm của tiến trình lịch sử nhân loại được coi là hiện thân
của tinh thần tuyệt đối.
Trên đây là một số nguyên lý bước đầu xây dựng hệ thống của Hêghen được
trình bày trong “Hiện tượng học tinh thần”.
• Khoa học logic:
Khoa học Lôgíc là bộ phận quan trọng nhất của hệ thống Hêghen, vì nó nghiên
cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất, nhưng là điểm xuất phát và nền tảng
của toàn bộ hệ thống.

nghiên cứu không được coi xuất phát điểm một cách tùy tiện theo ý muốn chủ quan
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 20
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
của mình, mà phải tuân theo tính khách quan tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu
một cách cụ thể.
Đơn giản và trừu tượng nhất: Mọi quá trình vận động khách quan đều theo xu
hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện tới chỗ ngày càng hoàn thiện hơn,
cho nên điểm khởi đầu phải là cái sơ khai nhất, chưa hoàn thiện nhất, trừu tượng nhất.
Lần đầu tiên Hêghen coi nguyên lý đi từ trừu tượng đến cụ thể là một trong những
nguyên lý cơ bản trong vận động các khái niệm lôgíc học.
Khẳng định điểm khởi đầu phải là điểm xuất phát có khả năng phát triển thành
toàn bộ hệ thống, tức là phải chứa đựng mâu thuẫn cơ bản của toàn bộ hệ thống – đó
là mâu thuẫn giữa tinh thần và vật chất.
Khẳng định sự thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgíc trong việc xác định
điểm khởi đầu, Hêghen coi khoa học lôgíc của mình là sự tổng kết toàn bộ tiến trình
phát triển tư tưởng triết học của nhân lịch.
Trên đây là những nguyên lý trong việc xác định điểm khởi đầu của lôgíc học
Hêghen. Đó cũng là những nguyên lý cơ bản xây dựng khoa học lôgíc của ông. Chúng
là sự phát triển tiếp theo những nguyên lý bước đầu xây dựng hệ thống được ông đề
cập trong Hiện tượng học tinh thần.
• Triết học tự nhiên
Theo Hêghen: là sự nghiên cứu lý luận giới tự nhiên được hiểu như tồn tại
khách quan của tinh thần, hay sự tồn tại của tinh thần dưới dạng các sự vật vật chất.
Thế giới chúng ta, theo cách hiểu của Hêghen, là một chỉnh thể thống nhất
trong đó mọi sự vật đều có mối liên hệ hữu cơ với nhau, không ngừng vận động và
phát triển.
Triết học tự nhiên gồm ba phần:
Thế giới cơ học: Trong thế giới này, Hêghen đã nghiên cứu, phân tích phạm trù
như không gian, thời gian, vật chất, vận động. Ông đã nhìn thấy mối quan hệ khăng
khít không thể tách rời giữa vật chất và vận động. Theo ông “không có vận động nào

Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
Theo Hêghen: Nhà nước “sự ngao du” của Chúa trời trong xã hội loài người, là
sự thể hiện tinh thần tuyệt đối.
Ông coi mọi sự bất công, tệ nạn xã hội như những hiện tượng tất yếu của sự
phát triển xã hội xuất phát từ bản tính con người “Luận điểm khẳng định mọi người về
bản tính vốn bình đẳng là không đúng …, cần phải nói ngược lại rằng con người về
bản tính vốn bất bình đẳng.
Xã hội thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã
hội khác nhau, cũng như mỗi cá nhân trong xã hội. Chính những mâu thuẫn xã hội ấy
mà Nhà nước xuất hiện.
Khác với nhiều nhà tư tưởng từ trước tới giờ lý giải nguồn gốc Nhà nước từ khế
ước xã hội, Hêghen khẳng định, Nhà nước hiện đại và chính phủ hiện đại chỉ xuất
hiện khi tồn tại sự khác nhau giữa các đẳng cấp khi sự chênh lệch giàu và nghèo trở
nên quá lớn, và khi mà xuất hiện những mối quan hệ trong đó đông đảo quần chúng
không thỏa mãn những nhu cầu của mình như họ đã từng quen.
Nhà nước ra đời làm dung hòa các mâu thuẫn giữa những người giàu và nghèo,
giữa các đẳng cấp xã hội khác nhau nhằm định hướng sự phát triển xã hội.
Nhà nước, theo Hêghen, không chỉ là cơ quan hành pháp, mà là tổng thể các
quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, chính trị, văn
hóa, … của xã hội, mà nhờ đó mỗi quốc gia mới có thể phát triển bình thường. Vì thế,
Nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử.
Hêghen đưa ra những nguyên tắc nghiên cứu lịch sử:
Khách quan: Nhìn nhận lịch sử một cách công minh, trung thực với lịch sử,
không được lảng tránh lịch sử. Người nào nhìn nhận thế giới một cách hợp lý thì thế
giới cũng nhìn nhận người đó một cách hợp lý.
Kết hợp với tính khách quan và tính Đảng trong nghiên cứu lịch sử “lịch sử thì
chỉ xảy ra có một lần nhưng nhận thức nó thì là cả một quá trình”.
Nội dung của triết học lịch sử:
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 23
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới

quý báu nhất của triết học Hêghen.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 24
Triết học cổ điển Đức Lịch sử văn minh thế giới
c) Phép biện chứng và những hạn chế trong phép biện chứng của Hegel
• Phép biện chứng của Hegel
Phép biện chứng của Hêghen coi toàn bộ thế giới, lịch sử và tinh thần là một
quá trình duy nhất đang vận động, biến hóa, phát triển và thay đổi không ngừng.
Những mâu thuẫn nội tại đều là nguồn gốc của tự thân vận động. Hêghen được coi là
người đầu tiên trình bày có tính hệ thống các nguyên lý, qui luật và phạm trù của phép
biện chứng. Một trong những luận điểm nổi tiếng của Hêghen khi ông khẳng định:
“mọi cái tồn tại đều có tính hợp lý”. Cái hợp lý theo ông là cái đều phụ thuộc vào các
qui luật nội tại vốn có của nó.
Nguyên lí xuất phát và xuyên suốt toàn bộ triết học Hêghen là sự đồng nhất
giữa tư duy và tồn tại. Toàn bộ thực tại khách quan (tự nhiên và lịch sử thế giới) là
biểu hiện của "lí tính thế giới" hay "tinh thần thế giới" mà Hêghen gọi là "ý niệm tuyệt
đối". "Ý niệm tuyệt đối" có trước tự nhiên và loài người, trải qua một quá trình phát
triển lịch sử - tự nhận thức về bản thân, qua ba giai đoạn: 1) Giai đoạn phát triển trong
"nguyên chất" thuần khiết của nó khi chưa có thế giới: nội dung của "ý niệm tuyệt
đối" thể hiện trong hệ thống các phạm trù lôgic có liên quan với nhau và chuyển hoá
lẫn nhau (lôgic học). 2) Dưới dạng tồn tại khác, khi chuyển thành giới tự nhiên (triết
học tự nhiên). 3) "Ý niệm tuyệt đối" phủ định giới tự nhiên, trở về với bản thân, nó
tiếp tục biến hoá, nhận thức nội dung của mình dưới các hình thức ý thức và đạt tới
nhận thức cao nhất qua tôn giáo, nghệ thuật, triết học (triết học tinh thần).
Học thuyết về “Ý niệm tuyệt đối”, “Tinh thần thế giới” là tư tưởng cơ bản có
tính xuyên suốt trong hệ thống triết học của ông. “Ý niệm tuyệt đối”, “Tinh thần thế
giới” theo ông là cái có trước, cái quyết định đối với hiện thực. Nhưng khi giải thích
sự “tha hóa” của nó trong tự nhiên, xã hội và tư duy thì đó lại là nhưng tư tưởng khoa
học trong phép biện chứng của Hêghen. Đây cũng là tiền đề lý luận, được Mác kế
thừa và phát triển khi xây dựng phép biện chứng duy vật.
Nguyễn Thị Thùy Trang-K37.602.104 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status