Luận văn: Cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực việt nam trong hội nhập kinh tế potx - Pdf 11


1
Luận văn

Cơ hội và thách thức của nguồn
nhân lực việt nam trong hội
nhập kinh tế

2
MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2
Phần I : Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế 3
I.Nguồn nhân lực 3
1.Một số khái niệm cơ bản 3
2.Phân loại nguồn nhân lực 3
2.1 Căn cứ vào nguồn gốc hình thành 3
2.2 Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận 5
3.Các tiêu thức đánh giá 5
3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng 5
3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng 6
4.Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế-xã hội 8
4.1.Con người là động lực cửa sự phát triển 8
4.2 .Con người là mục tiêu của sự phát triển 9
4.3. Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội 10
II.Tiến trình hội nhập kinh tế 10
1.Khái niệm hội nhập kinh tế 10
2. Nguyên tắc của hội nhập kinh tế 10


4
LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta đã bước sang thế kỷ 21-Một thế kỷ được dự báo sẽ có những thay
đổi to lớn trên phạm vi toàn cầu.Đây cũng là thời cơ và thách thức to lớn với
nhiều quốc gia, dân tộc.Trong đó Việt Nam chúng ta ,một đất nước đang phát
triển,cũng không nằm ngoài vòng xoay chung của nhân loại.Làm thế nào để tranh
thủ được thời cơ thuận lợi, xác định đúng hướng, có quyết tâm và bản lĩnh vượt
thử thách để đưa đất nước phát triển nhanh.

Chúng ta cũng biết rằng, sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia
ngày nay không còn đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn có của tài nguyên thiên
nhiên, mà phần lớn phụ thuộc vào sự hiện hữu của nguồn nhân lực có chất lượng
cao. Nguồn nhân lực có chất lượng cao, với tư cách là một trong những nguồn lực
sản xuất, có vai trò vô cùng quan trọng, nếu không nói đó là yếu tố quan trọng
nhất quy định khả năng cạnh tranh và hội nhập của một quốc gia. Và có thể sống
còn và thành công trong cạnh tranh và hội nhập. Nhất là hội nhập và cạnh tranh
trong khuôn khổ của WTO , việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ
sức đáp ứng các yêu cầu và thách thức của cạnh tranh toàn cầu là việc làm vô
cùng cần thiết.

Nội dung của đề án gồm 3 phần:
PHẦN I : Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và hội nhập kinh tế
PHẦN II : Thực trạng nguồn nhân lực
PHẦN III.Các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực:

PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ

+Giới hạn dưới : qui định số tuổi thanh niên bước vào độ tuổi lao động. ở
nước ta hiện nay là đủ 15 tuổi
+Giới hạn trên : qui định độ tuổi về hưu ,ở nước ta hiện nay là 55 tuổi đối
với nữ và 60 tuổi đối với nam.

6
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư chiếm một tỷ lệ tương đối lớn trong
dân số,thường từ 50% hoặc hơn nữa tuỳ theo đặc điểm dân số vvà nhân lực
từng nước.
Theo những tài liệu nghiên cứu gần đây cho thấy số người trong độ tuổi
lao động ở các nước kinh tế chậm phát triển chiếm tỷ lệ thấp(khoảng 55%-57%)
so với các nước công nghiệp phát triển (khoảng 64%-66%).Chính vì thế gánh
nặng về số người không lao động ở các nước nghèo càng nặng hơn.
Những người trong độ tuổi từ 16-60 (đối với nam) và 16-55 (đối với nữ) theo
qui định của VIỆT NAM đều thuộc nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động.
Nguồn nhân lực tham gia hoạt động kinh tế (Dân số hoạt động kinh tế):
Nguồn nhân lực này không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả
năng hoạt động kinh tế nhưng thực tế không tham gia hoạt động kinh tế (thất
nghiệp, có khả năng làm việc song không muốn làm việc, đang học tập)
Nguồn nhân lực dự trữ: Gồm những người trong độ tuổi lao động nhưng vì
những lý do khác nhau chưa tham gia hoạt động kinh tế song khi cần có thể huy
động được.Số người này đóng vai trò một nguồn về nhân lực gồm có:
Những người làm công việc nội trợ trong gia đình: Khi điều kiện kinh tế của
xã hội thuận lợi, nếu bản thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội ,họ có thể
nhanh chóng rời bỏ công việc nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội. Đây
là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là phụ nữ,hàng ngày vẫn đảm nhiệm
những choc năng duy trì,bảo vệ,phát triển gia đình về nhiều mặt,đó là những hoạt
động có ích và cần thiết.Công việc nội trợ gia đình đa dạng,vất vả đối với phụ nữ ở
các nước chậm phát triển(do chủ yếu là lao động chân tay) dẫn đến năng suất lao
động thấp so với những công việc tương tự được tổ chức ở qui mô lớn hơn ,có

3.1 Các chỉ tiêu phản ánh số lượng:
a) Qui mô dân số và tốc độ tăng:
Qui mô dân số biểu thị khái quát tổng số dân trong một vùng, một nước hay
của các khu vực khác nhau trên thế giới.
Những thông tin về qui mô dân số hết sức cần thiết trong phân tích so sánh
với các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyên nhân tình hình và
hoạch định chiến lược phát triển.
Qui mô dân số phụ thuộc vào biến động tự nhiên (sinh và tử ) và di cư thuần
tuý ( nhập cư và xuất cư )

8
Tốc độ tăng dân số là sự chênh lệch về qui mô dân số ở thời điểm đầu và thời
điểm cuối của giai đoạn tính bằng phần trăm so với dân số ở thời điểm đầu.
b) Cơ cấu dân số:
Theo tuổi: là sự thể hiện dân số theô từng năm tuổi hay nhóm tuổi.
Theo giới tính : là sự phân chia dân số thành hai bộ phận nam và nữ.
3.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng:
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể
hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn
nhân lực.Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ
phát triển kinh tế mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống
xã hội,bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với
tư cách không chỉ là một lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh
của một xã hội nhất định.
a) Chỉ tiêu liên quan đến sức khoẻ:
Sức khoẻ là trạng thái thoải mái về thể chất ,tinh thần và xã hội chứ không
phải đơn thuần là không có bệnh tật.Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên
giữa bên trong và bên ngoài,giữa thể chất và tinh thần.
-Cá nhân: chiều cao, cân nặng, tuổi, giới tính…
-Tập thể: thành tích hoạt động thể thao, tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp.

môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn nữa.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người
được đào tạo ở các trường kỹ thuật,được trang bị kiến thức nhất định. Những kỹ
năng thực hành về công việc nhất định.Trình độ kỹ thuật được biểu hiện thông
qua các chỉ tiêu sau:
+không qua đào tạo.
+công nhân kỹ thuật không bằng
+công nhân kỹ thuật có bằng (các loại cấp bậc khác nhau)
+Trung học chuyên nghiệp
+Cao đẳng, đại học.
+Trên đại học.
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,thông qua
chỉ tiêu số lượng lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng tập thể
nguồn nhân lực.
d) Chỉ tiêu chỉ số phát triển con người HDI:

10
Tổng hợp phản ánh chất lượng nguồn nhân lực, một trong những chỉ tiêu mới
được đưa ra để phản ánh
+Tuổi thọ bình quân.
+ Thu nhập bình quân GDP/người.
Chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt kinh tế mà còn
nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống, sự công bằng và tiến bộ xã hội.
+Tỷ lệ người biết chữ hoặc số năm đi học bình quân.
Ngoài ra tuỳ thuộc vào đặc điểm mỗi nước có thể dùng thêm một số chỉ tiêu
khác dể so sánh.Ngoài 4 chỉ tiêu phản ánh chất lượng nguồn nhân lực có thể bổ
xung và khai thác trên góc độ nh
-Truyền thống dân tộc bảo vệ tổ quốc.
-Truyền thống về văn hoá văn minh dân tộc.
-Phong tục tập quán ,lối sống

Phát triển kinh tế-xã hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người,
làm cho cuộc sống con người ngày càng tốt hơn, xã hội ngày càng văn minh.Nói
khác đi con người là lực lượng tiêu dùng của cải vật chất và tinh thần của xã hội
và như vậy nó thể hiện rõ nét nhất mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng.Mặc dù
mức độ phát triển của sản xuất quyết định mức độ tiêu dùng song nhu cầu tiêu
dùng của con người lại tác động mạnh mẽ tới sản xuất, định hướng của phát triển
sản xuất thông qua quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường.Nếu trên thị
trường nhu cầu tiêu dùng của một loại hàng hoá nào đó tăng lên, lập tức thu hút
lao động cần thiết để sản xuất hàng hoá đó và ngược lại.
Nhu cầu con người là vô cùng phong phú, đa dạng và thường xuyên tăng
lên.Nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lượng và chủng loại
hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát
triển kinh tế xã hội.
4.3. Yếu tố con người trong phát triển kinh tế xã hội:
Con người không chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện ở mức
độ chế ngự thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cho con người mà còn tạo ra
những điều kiện để hoàn thiện chính bản thân con người.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trải qua quá trình lao
động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quá trình đó mỗi

12
giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự thiên
nhiên,tăng thêm động lực cho phát triển kinh tế xã hội.
Như vậy động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới
bản thân con người cũng chính nằm trong chính bản thân con người.Điều đó lý
giải tại sao con người được coi là yếu tố năng động nhất, quyết định nhất của sự
phát triển.
II.TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ:
1.Khái niệm hội nhập kinh tế:
Hội nhập kinh tế là gắn kết nền kinh tế nước mình với nền kinh tế khu vực và

thời gian thực hiện.
3.Một số ưu nhược điểm khi tiến hành hội nhập kinh tế:
+ ưu điểm:
-Tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng thị trường.
-Hàng hoá xuất nhập khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn.
-Thu hút vốn đầu tư nước ngoài và các lợi ích khác.
+Nhược điểm:
-Mất khả năng kiểm soát và điều tiết đối với một số ngành trong quá trình hội
nhập dẫn đến việc chiếm lĩnh sức mạnh thị trường của các công ty đa quốc gia làm
tổn hại đến lợi ích của khách hàng và người lao động.
-Thất nghiệp tăng.
-ảnh hưởng đến ngân sách: vai trò của thuế quan như là một nguồn thu lớn của
ngân sách sẽ mất đi vị trí to lớn của nó và tạo ra khó khăn về ngân sách cho chính
phủ.
4.Hội nhập kinh tế con đường tất yếu của đất nước:
Về mặt chủ quan: Nhờ công cuộc đổi mới nền kinh tế nước ta đã phát triển
nhanh chóng, trạng tháI nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản.Nếu như trong
những năm 70-80 của thế kỷ trước hầu như cái gì cũng khan hiếm thì ngày nay
nền kinh tế đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế.về
nhiều mặt hàng tỷ suất hàng hoá khá cao.Tình hình đó đặt ra yêu cầu cấp bách
phải tiêu thụ được mới tái sản xuất mở rộng được.nói một cách khác nhân tố đầu
ra có ý nghĩa hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định.Một mặt phải rất quan
tâm việc thúc đẩy tiêu thụ trong nước vì tới hơn 80 triệu dân,một thị trường
không phải là nhỏ.Mặt khác do thu nhập của các tầng lớp dân cư còn chưa cao,
sức mua chưa lớn điều tất yếu là phải thúc đẩy xuất khẩu ra thị trường bên ngoài,

14
ở đầu vào mặc dù khả năng tích luỹ của nền kinh tế nước ta ngày càng lớn, trình
độ khoa học công nghệ và quản lý kinh tế ngày càng được nâng cao song trong qua
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta vẫn cần tranh thủ vốn đầu tư, công

Biểu 2 T
Ỷ LỆ TĂNG DÂN SỐ
Đơn vị : % 15
Năm Tổng số Nam Nữ Thành thị Nông thôn
2001 1,35 1,36 1,35 3,72 0,60
2002 1,32 1,33 1,32 2,84 0,83
2003 1,47 1,42 1,52 4,23 0,55
Sơ bộ 2004 1,40 1,41 1,38 3,46 0,68
Nguồn : Trung tâm tư liệu thống kê-Tổng cục thống kê 9/2005

Số lượng nhân lực là một điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập hiên
nay.Chúng ta đang có một thị trường lao động dồi dào. hấp dẫn các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.Từ năm 1993 đến nay tổng tỷ suất sinh đã giảm nhanh từ 3,8
con (năm 1989) xuống còn 2,67 con ( trong những năm 1992-1996) và còn khoảng
2,3 con (năm 1999) .Qui mô dân số ở mức 69,9 triệu người ( năm 1993) lên 77,6
(năm 2002) .Dân số Việt Nam tính đến năm 2004 là hơn 82 triệu người. Tỷ lệ tăng
dân số là 1,4%. Lực lượng lao động tăng cao trong năm 2003 với tổng số
42.128.343 người (tăng 1,8% so với năm 2002 ) trong đó khu vực nông thôn
31.941.500 chiếm 75,8% (tăng 1,3% so với năm 2002 ) . Tại thời điểm 1/7/2004, lực
lượng lao động (LLLĐ) của cả nước cú 43.255,3 nghìn ngươi, tăng gần 2,7% so với
thời điểm 1/7/2004; LLLĐ trong độ tuổi lao động có 40.805,3 nghìn người, chiếm
94,3%, tăng 2,4% so với thời điểm 1/7/2004. Dân sốViệt Nam thuộc loại dân số trẻ
có tốc độ tăng trưởng cao.Hàng năm có khoảng 1,5-1,7 triệu thanh niên bước vào
độ tuổi lao động tạo thành đội ngũ lao động dự bị hùng hậu bổ xung liên tục vào
lực lượng lao động vốn đã đông đảo này.
Tóm lại số lượng lao động ở Việt Nam khá rồi rào.Đây là một trong những
nhân tố thuận lợi nếu chúng ta biết sử dụng một cách hợp lý, triệt để và có hiệu

Tốt nghiệp
phổ thông
trung học
Cả nước 3,82 16,68 32,29 29,95 17,27
Trong đó nữ 4.92 18.08 32.04 28.99 15.97
đồng bằng sông hồng 0.71 6.37 20.69 48.74 23.46
đông bắc 7.37 14.77 28.04 33.65 16.18
Tây bắc 23.46 22.47 29.34 15.96 8.76
Bắc trung bộ 2.29 10.37 28.68 40.61 18.06
Duyên h
ải nam trung bộ
2.97 18.9 39.74 24.02 14.38
Tây nguyên 5.6 17.44 33.83 23.81 19.31
đông nam bộ 1.98 15.61 37.48 21.64 22.41
đ
ồng bằng sông cửu long
4.41 30.68 42.71 13.13 9.07
Nguồn : Bộ lao động và thương binh xã hội 2003

Tuy nhiên có sự phân biệt khá lớn về trình độ học vấn của lực lượng lao động
giữa khu vực thành thị và nông thôn. ở khu vực thành thị cứ 10 người tham gia
hoạt động kinh tế thì có gần 4 người đã tốt nghiệp từ bậc phổ thông trung học phổ
thông trở lên ,cao hơn 3 lần so với khu vực nông thôn.Trong khi đó tỷ lệ chưa biết
chữ ở khu vực nông thôn lại cao hơn 6 lần so với khu vực thành thị. Trong tám
vùng cả nước , vùng tây bắc là vùng có trình độ học vấn của lực lượng lao động
thấp nhất trong cả nước có tới 23.5% dân số lao động chưa biết chữ. Gấp 7.5 lần
mức trung bình của cả nước. Ngược lại với vùng tây bắc, trình độ học vấn của dân

17
số lao động của vùng đồng bằng sông hang rất cao , số người chưa biết chữ chỉ

nghề,CNKT
không bằng
Công nhân kỹ
thuật có bằng
trở lên
Cả nước 79.01 20.99 9.23 11.77
đồng bằng
sông hồng
72.01 27.99 12.64 15.35

18
đông bắc 82.34 17.66 5.35 12.32
Tây bắc 89.36 10.74 2.56 8.19
Bắc trung
bộ
84.27 15.73 5.69 10.04
Duyên hải
nam trung
bộ
79.15 20.85 10.17 10.67
Tây nguyên 85.19 14.81 5.44 9.36
đông nam
bộ
67.03 32.97 15.08 17.89
đồng bằng
sông
cửulong
86.8 13.2 7.25 5.95
Nguồn : Bộ lao động và thương binh xã hội 2003
Trong tám vùng lãnh thổ đông nam bộ là vùng có tỷ lệ lao động có trình độ

nghiệp vụ; 9% thanh niên đô thị và 1,7% thanh niên nông thôn là CNKT có bằng,
6% thanh niên đô thị và 1,7% thanh niên nông thôn tốt nghiệp THCN, 15% thanh
niên đô thị và chỉ có 1,9% thanh niên nông thôn có trình độ ĐH và trên ĐH.
Tỉ lệ lao động thanh niên có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ tăng khá
nhanh trong những năm qua nhưng đến năm 2003 mới đạt 10% là quá thấp trước
yêu cầu CNH, HĐH đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo số liệu cơ cấu ngành nghề năm 2002 và 2003, tính riêng trong 604.396
sinh viên hệ chính quy tập trung, tỉ lệ sinh viên học nông nghiệp chỉ có 5,77%. Qua
các hội chợ việc làm được tổ chức gần đây thì chỉ có 20% lao động đáp ứng được
nhu cầu tuyển kỹ sư nông, lâm, ngư nghiệp.
Theo kết quả điều tra nụng thụn, nụng nghiệp do Tổng cục Thống kờ cụng bố
đầu năm 2004, cả nước cú 93% số lao động nụng thụn chưa qua đào tạo, 0,8% cú
trỡnh độ cao đẳng, 0,7% ở trỡnh độ đại học và tương đương.
Ngoài ra, chỉ cú 2,3% lao động được đào tạo tay nghề theo trỡnh độ sơ cấp
hoặc cụng nhõn kỹ thuật, 2,4% cú trỡnh độ trung cấp kỹ thuật.
Trong những năm gần đây, trỡnh độ học vấn của lao động cả nước núi chung
và nụng thụn núi riờng khụng ngừng được nõng cao. Tuy nhiờn cú sự cỏch biệt
khỏ lớn giữa khu vực thành thị và nụng thụn, giữa nam và nữ, giữa cỏc vựng lónh

20
thổ kinh tế về trỡnh độ giỏo dục. Nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu đó đưa ra kết luận
ở nụng thụn, dõn trớ thấp hơn 2 lần, nhõn tài thấp hơn 8,6 lần và nhõn lực, trong
đó đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị.
Cơ cấu lao động theo trỡnh độ kỹ thuật cũng cú những điểm mất cân đối so với
yờu cầu của sự phỏt triển. Lao động trớ úc ở thành thị chiếm 30%, ở nụng thụn
chỉ là 4,4%.
Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh
tranh của lao động theo thang điểm 100 thỡ Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung
phỏp lý, 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thỏi độ lao động, 16 điểm về kỹ
năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động. Cỏc nhà kinh tế thế giới cũng

được cỏc ngành, cỏc cấp quan tõm đỳng mức và đầu tư thoả đỏng. Mặc dự hiện
nay xuất hiện nhiều mụ hỡnh đào tạo nghề nhưng việc quy hoạch, kế hoạch đào
tạo, kinh phớ, giỏo trỡnh, cơ sở đào tạo, giỏo viờn vẫn chưa đỏp ứng được yờu
cầu đào tạo nghề cho nụng dõn và lao động nụng thụn. Cụng tỏc đào tạo nghề
trong cỏc làng nghề cũng cũn nhiều bất cập và hạn chế. Tỉ lệ người lao động qua
đào tạo nghề (chủ yếu là ngắn hạn) mới đạt khoảng 10%, trong đú cú 1% là nghệ
nhõn và lao động cú trỡnh độ cao".
Quỏ trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh chuyển sang nền kinh
tế thị trường sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, nhưng đồng thời
cũng đũi hỏi một lực lượng lao động cú trỡnh độ kỹ thuật và tay nghề cao. Sự yếu
kộm về chất lượng nguồn nhõn lực sẽ là một cản trở đối với tiến trỡnh cụng
nghiệp húa, hiện đại húa, mở rộng cơ hội việc làm trong nội tại kinh tế - xó hội
nụng thụn. Trong điều kiện hội nhập, khả năng cạnh tranh của mỗi nước trước
hết dựa vào chất lượng của nguồn nhõn lực, vào tri thức khoa học - cụng nghệ.
Trong thời gian tới, Việt Nam khụng thể khụng cải thiện mạnh mẽ chất
lượng cũng như sức cạnh tranh về nguồn lao động núi chung và lao động nụng
thụn núi riờng. Đõy là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để cú thể
đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và hội nhập kinh tế.
2.2 Sức khoẻ nguồn nhân lực :
Tình trạng thể lực chung của người Việt Nam đã được cải thiện đáng kể (tuổi
thọ liên tục tăng và ở mức khá cao, tỷ suất chết thấp, tỷ lệ mắc các bệnh phổ biến
đã giảm dần ) .Tuy nhiên tầm vóc và thể lực vẫn còn nhiều hạn chế.

22
Chiều cao và trọng lượng còn thấp. so sánh với trung quốc ở tuổi 20 chiều cao
của nam kém 2.52 cm và của nữ kém 2.74 cm còn so sánh với tiêu chuẩn quốc tế
thì mức độ thua kém là rất lớn 8.34 cm đối với nam và 9.13 cm đối với nữ.
II. Cơ hội và thách thức của nguồn nhân lực việt nam trong hội
nhập kinh tế:
1.Những thuận lợi và khó khăn của nguồn nhân lực trong tiến trình hội

Kể từ khi đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách sâu rộng năm 1989 và thiết
lập mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Nhìn chung Việt Nam đã thu được
những thành tựu đáng ghi nhận,đặc biệt là tốc độ tăng trưởng kinh tế và xoá đói
giảm nghèo. Cũng như đối với nhiều nước đang phát triển việc tụ do hoá thương
mại (thông qua tư cách là thành viên của WTO ) sẽ giúp chúng ta đạt được mức
tăng trưởng GDP cao và điều này đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều cơ hội về việc
làm hơn và tăng thu nhập cho một bộ phận đáng kể người lao động.Cơ hội có việc
làm được tạo ra một mặt do nhu cầu mở rộng qui mô hoạt động của các doanh
nghiệp có khả năng cạnh tranh xâm nhập vào thị trường rộng lớn-thi trường đa
quốc gia với các thành viên WTO, mặt khác do phát sinh các ngành nghề mới từ
việc chuyển giao công nghệ, bí quyết kinh doanh hoặc do sự du nhập ngoại lai ở
các nước phát triển hơn.
Hiện nay, một số ngành đang có xu hướng mở rộng cơ hội việc làm ở Việt
Nam là dệt may, may công nghiệp, da giày, sửa chữa điện dân dụng, xây dung, cơ
khí và một số ngành dựa vào tài nguyên như nông lam thuỷ sản.
* Tạo ra những biến đổi lớn về chất lượng đội ngũ lao động:
Việc mở cửa thương mại , khuyến khích và phát triển kinh tế cùng với sự bùng
nổ thông tin diễn ra mạnh mẽ đã có tác động tích cực tạo cơ hội thuận lợi cho
người lao động tiếp xúc, giao lưu với nền văn minh nhân loại , đón nhận những
thông tin nhanh chóng và tiếp cận với khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh
nghiệm quản lý hiện đại.Từ đó người lao động sẽ có những suy nghĩ , hành động
đổi mới , năng động hơn và buộc phải tự rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn,
tác phong công nghiệp. Từ phía người sử dụng lao động, do phải chịu áp lực trong
việc nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao uy tín, chất lượng sản
phẩm…Nên trong việc tuyển lựa lao động sẽ có những tiêu chuẩn khắt khe hơn,
đòi hỏi người lao động phải có trình độ chuyên môn nhất định đáp ứng nhu cầu
công việc. Vì vậy khi quá trình tự do hoá thương mại càng trở nên sâu rộng thì sẽ

24
tăng nguy cơ đào thải những lao động không có tay nghề, chuyên môn.Ngược lại,


25
nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI ) đã thực hiện cắt giảm chi phí
bằng các biện pháp bóc lột sức lao động của công nhân , cắt giảm các tiện nghi làm
việc tổi thiểu , vi phạm các qui định pháp lý về vệ sinh an toàn lao động.Đã không
hiếm các trường hợp chủ sử dụng lao động vi phạm các quyền hạn được pháp luật
bảo hộ cho người lao động, có hành vi bạo ngược, đàn áp, hoặc phớt lờ các qui
định về điều kiện làm việc tối thiểu cho người lao động.
Thực tế tại Việt Nam trong thời gain gần đây cho thấy, đã xuất hiện các vụ việc
liên quan đến nạn bạo hành đối với công nhân và người lao động tại một số doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhất là các tỉnh phía nam như Bình Dương,
Đồng Nai…Công nhân bị bắt buộc làm thêm giờ, thậm chí bị lăng nhục. đánh
đập…Trong khi đó ,để có thể bám trụ chỗ làm việc dưới sức ép cạnh tranh của
nền kinh tế thị trường buộc người lao động ngừng học hỏi , nâng cao trình độ tay
nghề , tăng năng suất lao động và vì vậy họ ít có thời gian để nghỉ ngơi thư giãn
hơn.
*Nguy cơ chảy máu chất xám sang các nước có nền kinh tế phát triển cao:
Việc di chuyển lao động qua biên giới không còn là vấn đề mới mẻ.Hiện nay
trên toàn thế giới đang có khoảng 120 triệu lao động sống và làm việc tại những
nơi không phải là quê hương mình. Đối với Việt Nam trong thời gian vừa qua di
chuyển lao động cũng đã tăng lên đáng kể nhất là di chuyển lao động quốc tế. Và
một khi trở thành thành viên chính thức của WTO tốc độ di chuyển lao động của
Việt Nam chắc chắn sẽ gia tăng nhanh. Bởi lẽ việc tự do hoá thương mại và đầu tư
sẽ dẫn đến chuyển đổi cơ cấu mạnh hơn, nhiều việc làm ở các ngành nghề cũ mất
đi, việc làm ở một số ngành nghề mới xuất hiện, buộc người lao động phải tìm việc
làm bên ngoài. Hơn nữa ,sự khác biệt về giá cả sức lao động giữa các mảng thị
trường trong nước với nhau, đặc biệt là sự khác nhau giữa thi trường trong nước
và nước ngoài sẽ là một động lực kích thích mạnh mẽ ngươì lao động di chuyển
nơi cư trú để tìm kiếm các công việc được trả công cao hơn.
Di chuyển lao động bên cạnh việc giúp cho người lao động tìm kiếm việc làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status