Luận văn: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU KHOÁNG SẢN doc - Pdf 11



Luận văn
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT
KHẨU TẠI CÔNG TY
XUẤT NHẬP KHẨU
KHOÁNG SẢN
BÁO CÁO SƠ BỘ GỒM CÁC PHẦN:

A.Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 1
1. Lịch sử hình thành 1
2.Quá trình phát triển 3
B,Thực trạng sản xuất kinh doanh . 12
1. Sản phẩm 12
2. Thị trường 15
3. Bộ máy tổ chức 23
4. Cơ cấu lao động 30
5.Tình hình sản xuất kinh doanh . 31
C. Các kiến nghị và giải pháp. 37
1. Phương hướng phát triển của công ty trong tương lai 37
2. Một số kiến nghị và giải pháp 39

A. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY

nhập khẩu : doanh thu tốc độ tăng trưởng :
thị trường :
Khác với năm 1956 , Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản ngày nay ,
phù hợp với tình hình và xu thế mở cửa của đất nước , phục vụ cho quá
trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước , có mục đích , chức năng và
nhiệm vụ như sau
a.Mục đích:
Mục đích hoạt động của công ty là thông qua hoạt động xuất nhập khẩu
đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu , đáp ứng yêu cầu nâng cao số lượng ,
chủng loại và chất lượng các mặt hàng do công ty kinh doanh , liên doanh ,
liên kết phù hợp với thị trường trong nước và quốc tế , tăng thu ngoại tệ
cho nhà nước , góp phần phát triển kinh tế đất nước.
b. Chức năng :
Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản có các chức năng sau:
- Tổ chức xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng theo giấy phép kinh
doanh của công ty và phù hợp với quy chế hiện hành của Nhà nước .
-Tổ chức tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu ở trong nước .
-Liên doanh , liên kết , đầu tư cho sản xuất các mặt hàng trong giấy phép
với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước.
- Nhận xuất nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước.
c.Nhiệm vụ:
Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản có các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh của công ty theo quy
chế hiện hành phù hợp.
-Tạo nguồn vốn hỗ trợ cho kinh doanh xuất khẩu , quản lý khai thác và sử
dụng vốn có hiệu quả.
-Tuân thủ các chính sách , chế độ quản lý xuất nhập khẩu .
- Thực hiện các chính sách về thuế , nộp ngân sách nhà nước.
- Nghiên cứu thực hiện các biện pháp nâng cao chiến lược và gia tăng khối
lượng hàng xuất khẩu , mở rộng các thị trường quốc tế.

nước giao cho ngoại thương xuất khẩu . Do đó nhiệm vụ của Tổng Công ty
là phải tìm thị trường tiêu thụ kịp thời các sản phẩm trên để duy trì và thúc
đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Ngoài các mặt hàng lớn tổng công ty còn tổ chức và tìm một số nguồn
hàng khác để xuất khẩu như lập xí nghiệp gạch Yên Hưng , liên hệ với các
cơ sở sản xuất của trung ương và các địa phương tham gia sản xuất hàng
xuất khẩu như acid clo , acid sunphuric , đất đèn , vôi bột , hàng tiểu ngũ
kim …
Nhìn chung trong thời kỳ đầu , nhiệm vụ xuất khẩu của công ty cơ bản
đã được hoàn thành , tiến độ xuất khẩu tăng dần qua các năm , từ 1957 đến
1964 kim ngạch xuất khẩu tăng 3 lần , cụ thể với một số thành quả đáng kể
đạt được ở các mặt hàng chủ lực năm 1964 như sau:
STT Tên mặt hàng

Đv tính Số lượng
% tăng so v
ới
1957
1 Than triệu tấn 2 300
2 Apatite vạn tấn 70 250
3 Xi măng vạn tấn 30 250
4 Gang vạn tấn 7 300
5 Super lân vạn tấn 4,4 350

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực năm 1964
Công tác nhập khẩu
Tổng công ty phải tiếp nhận hàng viện trợ của các nước đồng thời nhập
khẩu một số nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước như than để luyện
gang, pyrite sắt, thép chế tạo, các hoá chất cho cao su thuỷ tinh, diêm, giấy,
xà phòng, đường, da… và các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu. Có thể

, các hoá chất, thuốc nổ, sắt thép, đường ray, dầm cầu, tân dược, xi măng…

Tổng kim ngạch nhập khẩu thực hiện trong thời gian này so với toàn
ngành chiếm tỷ lệ 23%.
Giai đoạn 1975 - 1982
Công tác xuất khẩu :
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi hoàn toàn , đất nước ta được tự
do độc lập và thống nhất, nhân dân cả hai miền Bắc Nam tiến hành khắc
phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế .
Bước vào giai đoạn mới , nhiệm vụ xuất khẩu trở thành cấp bách nhằm
đáp ứng một phần cho nhu cầu nhập khẩu rất lớn của toàn quốc.Kim ngạch
xuất khẩu của Bộ giao cho tổng công ty tăng lên mạnh. Cũng do trong nước
nhu cầu về một số mặt hàng như than đá cho công ngiệp , apatite cho nông
nghiệp , xi măng và gang … khá lớn nên những mặt hàng này thay vì xuất
khẩu như trước đây nay không xuất nữa, thậm chí phải nhập khẩu thêm.
Cơ cấu hàng xuất khẩu do đó có nhiều thay đổi theo hướng chuyển sang
các mặt hàng khoáng sản và một số sản phẩm công nghiệp như muối , cát
trắng, thuỷ tinh, dược gia công…
Căn cứ vào tình hình thực tế và nhiệm vụ được giao, tổng công ty đã tìm
mọi biện pháp để thực hiện. Ngoài các mặt hàng chính do các xí nghiệp
quốc doanh vẫn giao cho xuất khẩu , tổng công ty còn nghiên cứu thêm các
mặt hàng mới để xuất khẩu.
Tính đến hết năm 1981 kết quả đạt được ở các mặt hàng mới xuất khẩu
như sau:
STT Mặt hàng
% tăng so với 1975
1 Muối 400
2 Que hàn 475
3 Chai lọ 450
4 Thuỷ tinh 550

vật chất kỹ thuật và đội ngũ lao động liên quan đến mặt hàng đó. Mỗi mặt
hàng tách đi kéo theo nó là các cán bộ chuyên môn liên quan đến nó, cơ sở
vật chất thuộc về nó, thậm chí là mọi giấy tờ, tài liệu thuộc về nó.
Do vậy , tổng công ty đương nhiên như bị rút hết những bộ phận chủ
lực ở mọi phương diện.

+Sự cắt giảm mặt hàng làm giảm thị trường xuất nhập khẩu của tổng
công ty. Các nước bạn hàng lớn, các hợp đồng lớn cũng không còn.
Nói tóm lại, Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản hầu như chỉ còn
lại là cái bóng của chính nó khi những gì là quan trọng nhất bị rút đi. Kinh
doanh giảm sút, mọi mặt đều bị thu hẹp và gặp khó khăn.
Đứng trước thực tế đó, đội ngũ cán bộ công nhân viên còn lại của tổng
công ty không nản lòng mà tiếp tục cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình
để tổng công ty đứng vững; bằng chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu tốt,
giá cả hợp lý và chữ tín với khách hàng. Bên cạnh đó, tổng công ty chủ
trương sáp nhập các phòng xuất khẩu và nhập khẩu riêng lẻ trước đây thành
phòng xuất nhập khẩu, tiến tới làm giảm chi phí quản lý và tăng hiệu quả
kinh doanh, ngoài ra tổng công ty tiến hành cải tiến cơ cấu tổ chức của các
chi nhánh, đại diện.
Nhờ những nỗ lực này mà tổng công ty đã đứng vững và tiếp tục hoàn
thành các nhiệm vụ của mình.
Đến tháng 4 năm 1993, Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản đã
đăng ký xin thành lập lại, đổi tên thành công ty xuất nhập khẩu khoáng
sản, bước vào một thời kỳ mới.
Giai đoạn III: 1993 đến nay: giai đoạn phục hồi.
Tháng 4 năm 1993 , Công ty xuất nhập khẩu khoáng sản được thành
lập lại theo quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước số 331 TM /
TCCB ngày 31 tháng 3 năm 1993 của Bộ thương mại. Đăng ký thành lập
doanh nghiệp nhà nước số 10837 ngày 21 tháng 4 năm 1993 tại Sở kế
hoạch đầu tư Hà Nội.

Từ đó đến nay(cuối 2002 ) đã gần được 10 năm. Tuy không có được
tầm vóc như thời kỳ vàng son, nhưng xét trong thời cuộc và hoàn cảnh đổi
mới công ty đã có những bước cố gắng và đạt được những bước thành tích
nhất định.
Trong những năm tiếp đến, công ty đã đặt mục tiêu và đang cố gắng nỗ lực
hết mình vì sự phồn thịnh của chính mình cũng như sự phát triển của đất
nước.
B. THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH
1. Sản phẩm
Hiện nay, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh của công ty khá đa dạng và
bao trùm rộng khắp, chứ không dừng lại ở lĩnh vực khoáng sản như tên gọi
của công ty.Cụ thể như sau:
Về xuất khẩu:
+Khoáng sản: quặng và tinh quặng, kim loại đen, kim loại màu và hợp
kim.
+Hàng thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, giầy dép.
+Cao su, các sản phẩm cao su , tinh dầu hạt, các loại hạt điều, nguyên
liệu sản xuất thức ăn gia súc.
+Các sản phẩm thuỷ tinh, pha lê, đồ gốm sứ.
+Các sản phẩm khô, nông sản( trừ gạo).
Về nhập khẩu :
+Kim loại đen, kim loại màu, hợp kim, hoá chất, phân bón.
+Vật liệu xây dựng, vật liệu kết dính, sản phẩm giấy, hàng tiêu dùng(thiết
yếu và công nghiệp).
+Nhựa đường, chất dẻo, dầu nhờn, các phụ gia.
+ Khí công nghiệp, vật tư, thiết bị lẻ, phương tiện vận tải.
+Máy xây dựng, vật liệu trang trí nội thất, thiết bị xếp dỡ hàng hoá.
+Trang thiết bị y tế, thiết bị âm thanh, nhạc cụ, sứ vệ sinh.
Các mặt hàng kinh doanh xuất nhập khẩu này trong những năm gần đây
đều tăng trưởng với tốc độ cao, tính từ năm 2000 cụ thể như bảng sau:

tăng
so với
năm
trước
Khối
lượng
%
tăng
so với
năm
trước
Khối
lượng
%
tăng
so
với
năm
trước
1 Gang các loại

Tấn 405 383,7 799
2

Wolframite
ột barite 17 Gốm sứ
Máy đóng gói
mỳ

Lưới câu
Đá xay
Hàng tiêu
dùng tổng hợp Thép

Tình hình hàng hoá nhập khẩu các năm 2000, 2001, 2002

STT Năm Số mặt hàng xuất
khẩu(loại)
Trị giá hàng xuất
khẩu (triệuUSD)
% tăng so với năm
trước


năm
trước
1 Thiết bị điện
2 Thiết bị
PCCC

3 Hạt nhựa
4 Hoá chất
5 Giấy
6 Phân bón
7 Tinh dầu
8 Thiết bị y tế
9

Nhôm th
ỏi Dầu điều chế
cao su

10 Nguyên liệu
may GC


20 Phụ tùng ô


21 Thép
22 Máy nghiền
đá

23 Dụng cụ
cầm tay

24 Nhựa đường

Máy xúc
Nhật

25 CaHPO4
26 Dây điện
27 Bình
Amoniac

28 Vải vụn
29 Máy giặt CN
37

Lõi que hàn 38 Bã đậu
tương

39 Xe tải
40 Vật liệu nổ
41
Thiết bị thí
nghiệm

42 Bột mầu
43 Đồng tấm
44 Xe máy
45 Thuốc thú y
46 Tấm trần
47 Khung trần
48 Mũi khoan
49

Băng t

năm gần đây nhất (2000,2001,2002) như sau;
a. Xuất khẩu

STT Năm Số thị
trường
xuất
khẩu
(nước)
Tổng kim
ngạch xuất
khẩu
( triệuUSD)

% tăng so với năm trước
(%)

V
ề số thị
trường
V
ề tổng kim
ngạch xuất khẩu
1 2000 11 2,8
2 2001 9 3,33
-12,5 +18,93
3 2002 8 2,811
-11,11 -15,58

1.000
USD)

% tăng
so với
năm
trước
(%)
1 Đài Loan 823,25 77,98
2 Nhật 222,1 702,92

216,5
173,67

-75,3
3 Anh 585,93 955,5
63,07
1.312,
33
37,34
4 Lào 530
5 Brunei 7,38 24,26
228,7 6 Singapore 367,2



12 Nga 3,25

724,64

22.196

13 Hàn Quốc 265,11111,12

-58,08
14 Séc 8,344

b. Nhập khẩu
STT Năm Số thị trường
nhập khẩu
(nước)
Tổng kim
ngạch nhập
khẩu
(tri
ệu USD)% tăng so với năm trước
Về số thị
trư
ờng

(%)
Kim
ngạch
nhập
khẩu
(triệu
USD)

%tăng
so với
năm
trước
(%)

Kim
ngạch
nhập
khẩu
(triệu
USD)

%tăng
so với
năm
trước
(%)

1

Đài Loan


2,7513,6115 Pháp 0,003 0,001
16 Triều Tiên 0,142
17 Cộng hoà Séc 0,004 0,0024

0,15
18 Anh 0,022 0,34
19 Malaisia 0,019 0,34 0,015
20 Thuỵ Điển 0,001
21 Philipine 0,017
22 Canada 0,004
23 Thuỵ Sĩ 0,993
24

B

0,00770,025


Riêng trưởng phòng kinh doanh có các chức năng và nhiệm vụ sau:
+ Đại diện cho phòng mình nhận chỉ tiêu kinh doanh, lãnh đạo nhân viên
của phòng để thực hiện chỉ tiêu ấy, đồng thời chịu trách nhiệm về mọi hoạt
động kinh doanh của phòng mình trước giám đốc công ty.
+Chủ động phân phối thu nhập cho người lao động trong phòng từ lương,
thưởng theo nguyên tắc " phân phối theo lao động ", chịu trách nhiệm về sự
công bằng, hợp lý trong phân phối thu nhập phù hợp với quy chế của công
ty và pháp luật nhà nước.
* Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh:
Là một đơn vị kinh doanh trực thuộc công ty, trụ sở đặt tại Bến Chương
Dương, quận I, hoạt động theo quyết định số 331TM/TCCB ngày 31 tháng
3 năm 1993 về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước và giấy phép kinh
doanh xuất nhập khẩu số 1.16.007/GF của Bộ thương mại, đăng ký thành
lập doanh nghiệp nhà nước ngày 21 tháng 4 năm 1993 trọng tài kinh tế nhà
nước, Hà Nội. Chi nhánh có con dấu riêng và hoạt động theo hình thức
hạch toán báo sổ do công ty chỉ đạo.
Chi nhánh có các nhiệm vụ chính sau đây:
-Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu ( bao gồm xuất
nhập khẩu tự doanh, uỷ thác, liên doanh, giao nhận vận tải hàng hoá xuất
nhập khẩu) đối với các mặt hàng đã ghi ở giấy phép trong phạm vi thành
phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam.
- Xây dựng phương án từng dịch vụ kinh doanh và tổ chức thực hiện có
hiệu quả các phương án đó.
- Mở cửa hàng kinh doanh, dịch vụ, giới thiệu mua bán sản phẩm theo quy
định hiện hành của địa phương và Nhà nước.
- Thực hiện nghiêm túc các chính sách, nguyên tắc, chỉ thị, quy định của
Nhà nước, địa phương và công ty có liên quan đến kinh doanh xuất nhập
khẩu và các hoạt động khác, có biện pháp bảo vệ tài sản, vốn, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí.
*Cửa hàng kinh doanh sản phẩm điện tử.

lao động trong công ty theo nhiệm vụ của công ty, một cách có hiệu quả và
phù hợp với bộ luật lao động, thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao
động.
- Nghiên cứu, xây dựng và ngày càng hoàn thiện các nội dung, quy chế
của công ty như nội quy lao động, quy chế trả lương thưởng, quy định nâng
ngạch … để trình lên giám đốc.
- Theo dõi việc trả lương theo mẫu sổ lương.
-Tham mưu cho giám đốc giải quyết các chế độ về tiền lương và thực
hiện các công việc về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm nhân thọ
nhằm đảm bảo quyền lợi cho cán bộ công nhân viên.
- Xây dựng đơn giá tiền lương, báo cáo quyết toán quỹ tiền lương và các
báo cáo về lao động, thu nhập cho các cơ quan quản lý cấp trên.
- Quản lý tài sản của công ty, theo dõi chỉ tiêu hành chính, sử dụng các
phương tiện thông tin, xăng xe cho từng phòng kinh doanh và bộ phận quản
lý, tạo điều kiện cho việc hạch toán.
+ Phòng kế toán tài vụ:
- Khai thác mọi nguồn vốn nhằm đảm bảo vốn cho các phòng kinh doanh
hoạt động.
- Chủ động trong việc thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status