LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế của nước ta có những thay
đổi đáng kể về nhiều mặt, đổi mới với việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Cơ chế
kinh tế mới cùng xu hướng hội nhập nền kinh tế hiện nay đã đặt các doanh nghiệp
nước ta và một thách thức lớn để tồn tại và phát triển đứng vững trong nền kinh tế
thị trườngđòi hỏi các doanh nghiệp không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh làm ăn có hiệu quả. Thực tế trong thời gian qua chỉ ra những doanh nghiệp
làm ăn có hhiệu quả, thích ứng được tốt với cơ chế thị trường sẽ tồn tại và phát
triển. Ngược lại những doanh nghiệp không thích ứng sẽ bị phá sản hoặc giải thể.
Hiện nay nước ta có sự mở rộng nền kinh tế, các nghành các cấp, các thành phần
kinh tế khác nhằm dần dần xây dựng lại cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý của các
công ty, xí nghiệp. Hiện tại các doanh nghiệp nhà nước chiếm đa số trông nền kinh
tế trong đó doanh nghiệp chiếm vị trí trọng yếu trong nền kinh tế được nhà nước
đầu tư phát triển. Điều đó không tránh khỏi sự độc quyền mặc dù doanh nghiệp này
hoạt động kém hiệu quả để đưa nước ta trở thành nước có nền kinh tế công nghiệp
phát triển, dần dần tiến tới phát triển mạnh về nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế, sánh
vai cùng các nước phát triển khác trong khu vực Đông Nam Á, đưa nền kinh tế lên
ngang tầm và hoà cùng nền kinh tế thế giới.
Song hoạt động sản suất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, lại là một
vấn đề rất phức tạp và nan giải. Có rất nhiều điều phải bàn đến tìm ra giải pháp cho
phù hợp với sự phát triển kinh tế chung của đất nước.
Do đó các doanh nghiệp phải tự tìm và tạo ra con đường đi, môi trường kinh
doanh của riêng mình.
Môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp thường coi đó là một môi trường cạnh
tranh gay gắt, là điểm sống còn của các doanh nghiệp.
Vì thế việc nâng cao hiệu quả kinh tế của mỗi doanh nghiệp là điều quan trọng nhất.
Nó có thể giúp công ty đứng vững trên thị trường và để tạo ra một môi trường kinh
doanh phù hợp với nền kinh tế của mỗi công ty.
Trang 1
Để nâng cao hiệu quả sản xuất trước hết các công ty, doanh nghiệp phải duy trì đảm
Trang 2
Chương I: Lý luận chung về hiệu quả sản suất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương II: Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty cơ khí 120.
Chương III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
cơ khí 120.
Qua bài viết này tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đồng Xuân Ninh và Công
ty cơ khí 120 đã tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành chuyên đề này.
Sinh viên
Phạm Vũ Lợi
Trang 3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP.
I. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH.
1. Khái niệm.
Mặc dù có rất nhiều quan điểm khác nhau, song vẫn có thể khẳng định trong
cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi Công ty, doanh nghiệp kinh doanh đều
nhằm mục đích là lợi nhuận. Nếu duy trì được lợi thế kinh doanh thì sẽ mang lại
nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu này các doanh nghiệp
phải tự xác định hướng kinh doanh, chiến lược kinh doanh cho mình. Trong mọi
thời kỳ phát triển đều phải kinh doanh sao cho phù hợp với sự thay đổi của môi
trường kinh doanh đó là phân bổ tốt các nguồn lực sẵn có.
Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trước tiên ta phải
đánh giá được hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mình cũng như từng bộ phận
kinh doanh.
Có thể nói rằng, sự thống nhất về quan điểm cho rằng phạm trù về hiệu quả
kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của hoật động kinh doanh song lại rất khó có
thể tìm thấy được sự thống nhất trong quan điểm về hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Theo nhà kinh tế học ManfredKulin thì hiệu quả sản xuất kinh doanh đó là
Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả là
phương tiện để có thể đạt được mục tiêu đó.
Nói đến hiệu quả sản xuất kinh doanh ta lại nghĩ ngay đến hai chỉ tiêu đó là
chi phí và kết quả đó là mối quan hệ giữa tỷ số và kết quả hao phí nguồn lực.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản
xuất trong một thời kỳ kinh doanh, nó hoàn toàn khác với việc so sánh sự tăng lên
của kết quả với sự tăng lên của các yếu tố đầu vaò.
Trang 5
II. CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH.
1. Chỉ tiêu về năng suất lao động.
Thường đánh giá chỉ tiêu năng suất lao động bình quân theo năm, ngày,
giờ….Năng suất lao động không chỉ phản ánh kết quả công tác mà còn trực tiếp
phản ánh khái quát nhất kết quả công tác trong kỳ và thường đạt chỉ tiêu về sử dụng
đánh giá kết quả cuối cùng của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu về năng suất lao động bình quân phản ánh chỉ tiêu lao động hằng
năm nó phụ thuộc vào nhân tố máy móc thiết bị.
Thông thường nói đến năng suất lao động ta thường nghĩ ngay đến dây
chuyền máy móc công nghệ hiện đại và có sự sáng tạo của người lao động để điều
khiển được các thiết bị hiện đại mới nhằm đưa năng suất lao động tăng lên.
Chúng ta đã biết rằng, dù máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu đều do bàn
tay khối óc con người tạo ra. Vì vậy, cái quan trọng ở đây là ta phải biết phối hợp
nhịp nhàng giữa người vận hành các máy móc thiết bị hiện đại, mà năng suất lao
động lại chủ yếu dựa vào hai vấn đề trên đó là người vận hành máy móc thiết bị.
Công thức:Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân ngày của công nhân sản xuất ngoài
nhân tố thuộc về bản thân người sử dụng mà năng suất lao động còn phụ thuộc vào
thời gian lao động.
Nếu tốc độ tăng năng suất lao động bình quân ngày mà nhỏ hơn năng suất
Z = Z1 + Z2.
Z1 là giá thành sản phẩm sản xuất ra.
Z2 là giá thành về giá trị tiêu thụ của những sản phẩm tiêu thụ trong kỳ.
Trang 7
Ở đây áp dụng được trong trường hợp có kết quả chi phí kinh doanh của từng
bước công việc.
- Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo hệ số tương đương.
Ta tiến hành chia sản phẩm theo nhóm hoặc một tập hợp chi phí kinh doanh theo
nhóm và tính giá thành sản phẩm như ở phần sản phẩm giản đơn.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Phân nhóm sản phẩm là các nhóm có các đặc điểm giống nhau.
Bước 2: Lựa chọn, liệt kê các sản phẩm điển hình.
Bước 3: Xác định các hệ số tương quan trên cơ sở định mức sản phẩm.
Bước 4: Quy đổi mọi sản phẩm trong nhóm thành sản phẩm điển hình thông qua hệ
số tương đương.
Bước 5: Tính giá thành cho sản phẩm điển hình.
Bước 6: Sử dụng các hệ số tương quan để xác định giá thành sản phẩm của các loại
sản phẩm cụ thể trong nhóm.
- Tính giá thành sản phẩm theo phương pháp bổ xung.
Trang 8
Z1 =
∑chi phí kinh doanh trực tiếp
Số lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ
Z2 =
Chi phí kinh doanh quản trị + Chi phí kinh doanh tiêu thụ
Số lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ
∑ CFKD trực tiếp
Tỷ lệ bổ sung chung = x100 = (%)
∑ CFKD gián tiếp
trình độ quản lý của cán bộ điều hành. Nếu trình độ của người điều hành tốt vừa có
thể lãnh đạo và tìm tòi phương pháp làm giảm thời gian lao động nhưng sản phẩm
vẫn tăng. Nếu doanh nghiệp làm ăn thu được nhiều lợi nhuận cao thì mức thu nhập
của công nhân sẽ ổn định, tăng lên thúc đẩy người công nhân có trách nhiệm với
công việc, hăng hái lao động. Nên áp dụng hình thức trả lương có thưởng để khuyến
khích lao động, ngoài ra còn có nhiều hình thức trả lương để khuyến khích lao động
tăng lợi nhuận đó là khoán sản phẩm, lương thời gian….
6. Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn.
Vốn kinh doanh được thể hiện bằng toàn bộ tiền lương, toàn bộ tài sản của
doanh nghiệp bao gồm:
+ Tài sản cố định: Nhà cửa, kho tàng, đất đai,…
+ Tài sản lưu động như: Tiền , bản quyền, ngân phiếu,…
Xét trên góc độ chu chuyển vốn thì lại chia làm hai loại:
Trang 10
Thu nhập bình quân 1 lao động =
∑Chi phí tiền lương
∑Số người lao
động
+ Vốn lưu động đó là số vốn dùng để mua sắm các máy móc thiết bị, sản
phẩm…
Tài sản lưu động là giá trị của nó bị dịch chuyển một lần hoàn toàn trong một
chu kỳ kinh doanh. Nếu doanh nghiệp nào biết sử dụng vốn quay vòng càng nhiều
thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận lớn.
+ Vốn cố định là số vốn dùng để mua sắm tài sản cố định vốn này sẽ được
dịch chuyển dần qua từng phần và qua rất nhiều chu kỳ kinh doanh.
7. Chỉ tiêu về doanh lợi.
Quan tâm xem xét, đây là nhóm chỉ tiêu và là thước đo quyết định đến hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu về doanh lợi bao gồm các chỉ tiêu như:
= lợi nhuận trước thuế x 100 (%)
V
KD
V
KD
- Doanh lợi vốn tự có:
Có nhiều nhà quản trị học cho rằng phải xem xét xem chi tiêu doanh lợi vốn
tự có có phải là mô hình lựa chọn về kinh tế hay không.
Trang 11
Thực chất doanh thu bán hàng của một kỳ tính toán chính là việc sử dụng
vốn kinh doanh hiện có của doanh nghiệp, hơn nữa chỉ tiêu này còn có hạn chế là
nếu đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua chỉ tiêu này thì doanh nghiệp đi vay
vốn càng nhiều thì dẫn tới hiệu quả kinh doanh sẽ rất cao.
D
VTC
= Π
R
x 100 (%)
V
TC
Trong đó : D
VTC
là doanh lợi vốn tự có của một thời kỳ tính toán.
V
TC
là tổng vốn tự có của một thời kỳ.
- Doanh lợi của doanh thu bán hàng.
D
TR
(%) = Π
(%) = TC
KDTt
x 100
TC
KDPD
Trong đó:
H
TN
: Là hiệu quả kinh doanh tính theo tiềm năng
TC
KDTt
: Chi phí kinh doanh thực tế phát sinh của kỳ
TC
KDPD
: Chi phí kinh doanh phải đạt.
8. Một số chỉ tiêu kinh doanh bộ phận.
* Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.
Để đánh giá chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu như:
+ Số vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh.
SV = TR
V
KD
Trong đó: SV
VKD
là số vòng quay của vốn kinh doanh.
Nếu số vòng quay càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng nhiều.
+ Hiệu quả sử dụng vốn cố định được đánh giá bởi chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản
vốn cố định.
H
R
V
LĐ
Trong đó: H
VLĐ
là hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
V
LĐ
là vốn lưu động bình quân kỳ tính toán.
Vốn lưu động bình quân kỳ tính toán chính là giá trị bình quân của vốn lưu
động có ở đầu kỳ và cuối kỳ. Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động tạo ra
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Ngoài ra hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn được phản ánh thông qua chỉ
tiêu số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm.
SV
VLĐ
= TR
V
LĐ
Với SV
VLĐ
là số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm. Nghịch đảo của
chỉ tiêu trên là chỉ tiêu số ngày bình quân của một kỳ luân chuyển vốn lưu động.
SV
LC
= 365 = 365V
LĐ
SV
là vốn cổ phần trong kỳ tính toán.
Vốn cổ phần bình quân được xác định theo công thức:
V
CP
= SCP * CP
CP là giá trị mỗi cổ phiếu.
SCP là số lượng bình quân cổ phiếu đang lưu hành. Số lượng cổ phiếu bình
quân cổ phiếu đang lưu thông được tính bằng:
SCP = SCPDN + S
SCPDK là số cổ phiếu đầu năm.
S số cổ phiếu tăng (giảm) bình quân trong năm.
Số cổ phiếu thay đổi trong năm được xác định theo công thức:
S = ∑ SiNi
365
Si là số lưọng cổ phiếu phát sinh lần thứ i( Si<0 nếu thu hồi).
Ni là số ngày thu hồi cổ phiếu trong năm.
S <0 là lượng cổ phiếu kỳ tính toán giảm.
+ Hiệu quả sử dụng lao động: Lao động là nhân tố sáng tạo trong sản xuất kinh
doanh, số lượng và chất lượng lao động là nhân tố quan trọng nhất tác động đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng lao động được
biểu hiện ở các chỉ tiêu năng suất lao động, mức sinh lời và hiệu suất tiền lương.
Trang 15
+ Năng suất lao động: Năng suất lao động bình quân của một thời kỳ tính toán được
xác định:
AP
N
= K
AL
AP
N
L
Trong đó : Π
BQ
là lợi nhuận bình quân do lao động tạo nên trong kỳ tính toán.
L là số lao động làm việc bình quân trong kỳ.
+ Chỉ tiêu về hiệu suất tiền lương.
Hiệu suất tiền lương phản ánh một đồng tiền lương bỏ ra có thể đạt tới kết
quả cụ thể như thế nào. Kết quả có thể là doanh thu hay lợi nhuận, nếu lấy kết quả
để tính toán là doanh thu sẽ có:
Trang 17
Π
W
= Π
R
∑TL
ĐT
Với Π
W
là hiệu suất tiền luơng của một kỳ tính toán.
∑TL là tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng.
+ Hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu.
SV
NVL
= NVL
SD
NVL
ĐT
người ta phải đánh giá mức thiệt hại mất mát nguyên vật liệu trong quá trình dự trữ.
+ Hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
Ngoài các chỉ tiêu trên ta còn có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố
định thông qua các hệ số chỉ tiêu tận dụng công suất máy móc thiếtbị :
H
MM
s = Q
TT
Q
TK
Trang 18
Trong đó: H
MM
s là hệ số tận dụng công suất máy móc thiét bị.
Q
TT
là sản lượng thực tế đạt được.
Q
TK
là sản lượng thiết kế.
Nhiều chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh tổng hợp được tính toán không chỉ riêng
ở phạm vi doanh nghiệp mà còn có ở các bộ phận nhỏ bên trong doanh nghiệp, việc
phân chung.
III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH.
1. Các nhân tố bên trong.
1.1. Về lực lượng lao động.
Trong sản xuất kinh doanh lực lượng lao động của doanh nghiệp là lực lượng
lao động của doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt, lao động có thể sáng tạo ra công
Đội ngũ các nhà quản trị, đặc biệt là các cấp lãnh đạo phải luôn dựa vào tài
năng, năng lực sẵn có của mình. Lãnh đạo phải điều khiển doanh nghiệp làm cho
doanh nghiệp phát triển một cách mạnh mẽ về mọi mặt. Mặt khác doanh nghiệp
cũng phải dựa vào trình độ của đội ngũ công nhân làm việc lâu năm có nhiều kinh
nghiệm và phải xác định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận và
thiết lập được mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ cấu tổ chức.
1.4. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin.
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ
thuật đang dần làm thay đổi nhiều về lĩnh vực sản xuất, trong đó công nghệ tin học
đóng vai trò chủ chốt. Thông tin được coi là hàng hoá để đạt được những thành
Trang 20
công trong kinh doanh, doanh nghiệp rất cần lượng thông tin chính xác về cung cầu
thị trường hàng hoá, về công nghệ kỹ thuật, về người mua, về các đối thủ cạnh
tranh. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải biết thêm về thông tin kinh nghiệm thành
công hay thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước hoặc quốc tế. Cần biết rõ
các thông tin , các chính sách kinh tế của nhà nước để từ đó đúc kết các kinh nghiệm
cho bản thân mình và cho cả doanh nghiệp. Thông tin càng nhanh, càng chính xác
thì doanh nghiệp có thể tránh được thiệt hại do nền kinh tế thị trường gây ra. Nói
chung, về thông tin nếu doanh nghiệp nào nắm bắt được thông tin nhanh thì doanh
nghiệp đó sẽ cầm chắc phần thắng lợi trong kinh doanh, nói cách khác trong kinh
doanh nếu biết mình biết người mới có cơ dành thắng lợi.
1.5. Nhân tố tính toán kinh tế.
Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và hao
phí nguồn lực, cả hai đại lượng kết quả và hao phí của mỗi thời kỳ rất khó đánh giá.
Nếu ta xét trên phương tiện giá trị và sử dụng lợi nhuận là kết quả, chi phí là
cái phải bỏ ra ta sẽ có:
Π = TR- TC
Trong thực tế kinh tế học đã khẳng định tốt nhất là sử dụng phạm trù lợi
nhuận kinh tế mới là lợi nhuận thực. Trong khi đó muốn xác định được lợi nhuận
kinh tế trước hết phải xác định được chi phí kinh tế, phạm trù chi phí kinh tế phản
ra sự phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển của từng ngành.
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh các cơ quan quản lý phải làm tốt công
tác dự báo để điều tiết các hoạt động đầu tư, không để ngành hay vùng kinh tế nào,
doanh nghiệp nào sản xuất theo xu hướng cung vượt cầu, phải hạn chế doanh nghiệp
sản xuất theo kiểu độc quyền, kiểm soát sự độc quyền để tạo ra môi trường cạnh
Trang 22
tranh bình đẳng. Quản lý tốt các doanh nghiệp không để tạo ra sự đối sử khác biệt
giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân khác.
2.3. Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng.
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như: Hệ thống đường giao thông, hệ thống
thông tinh liên lạc, điện, nước, sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo. Tất cả
đều là nhân tố có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nếu
doanh nghiệp nào kinh doanh ở khu vực có hệ thống đường giao thông thuận lợi,
điện nước đầy đủ, dân cơ đông đúc, trình độ dân trí cao sẽ có rất nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển sản xuất, tốc độ tiêu thụ sản phẩm rất nhanh do vậy sẽ tăng
tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp mình.
IV. MỘT SỐ CHỈ TIÊU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA NGÀNH CƠ KHÍ.
1. Chỉ tiêu về thiết bị kỹ thuật.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn gắn liền với sự
phát triển của đất nước ta. Vì nước ta là một nước có nền công nghiệp phát triển
chậm hơn các nước ở Đông Nam á nói chung. Từ khi nước ta thực hiện cơ chế của
nền kinh tế thị trường thì nền công nghiệp của nước ta đã có sự thay đổi rõ ràng.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp nên hiệu quả sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ngày một lớn mạnh đó là do quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp ngày một lớn mạnh. Đó là do quá trình sản xuất luôn
luôn gắn liền với sự phát triển của tư liệu sản xuất, do đó sự phát triển của tư liệu
sản xuất lại gắn bó chặt chẽ với quá trình tăng năng suất lao động, dẫn đến sản
lượng tăng nhanh, chất lượng sản phẩm tốt, giá thành sản phẩm hạ.
Như vậy, cơ sở vật chất để sản xuất ra các sản phẩm là một nhân tố hết sức
+ Chỉ tiêu về lợi nhuận.
Trang 24
+ Chỉ tiêu về mức thu nhập
+ Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn.
Trang 25