chuyên đề phân tích đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước ta hiện nay - Pdf 11

Phân tích nội dung sau đây trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Thực hiện nhất quán đường lối
đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá,
đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác
tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích
quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”
(Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011, tr.235-236).
Lời nói đầu
Đường lối đối ngoại đối với mỗi quốc gia, dân tộc có vai trò rất quan trọng
trong công tác ngoại giao của quốc gia, dân tộc đó, nó được xác định như là kim
chỉ nam cho công tác đối ngoại; quyết định sự thành bại của công tác đối ngoại.
Đối với Việt Nam, qua mỗi thời kỳ cách mạng, dựa trên tình hình thực tiễn trong
và ngoài nước, Đảng ta luôn xác định đường lối đối ngoại phù hợp với điều kiện
cụ thể của đất nước ở thời điểm đó. Bước vào thời kỳ đổi mới, trước những biến
đổi đa dạng, đa chiều của tình hình thế giới cũng như trong khu vực, tình hình
trong nước cũng đã có những biến đổi to lớn sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi
mới, với nhận thức đúng đắn về đối ngoại thời kỳ này, tại Đại hội XI của Đảng
đã xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà
bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách
nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011,
tr.235-236).
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đề ra đường lối đối ngoại
(1) Cơ sở lý luận: Để đề ra đường lối đối ngoại này, Đảng ta dựa trên
nhiều cơ sở từ lý luận đến tổng kết thực tiễn công tác đối ngoại của Đảng, Nhà
nước sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Trước hết về mặt lý luận: Đảng ta
xác định lấy Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
1

quốc tế của Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt cách mạng Việt Nam, là con đường giải pháp đúng đắn, phù hợp với
tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam và xu thế thời đại: tư tưởng độc lập dân
2
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chỉ đạo nhận thức và hành động tỏng triển khai
đường lối chính sách đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam. Độc lập tự chủ, tự
cường, đồng thời, tăng cường đoàn kết quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế. Độc
lập tự chủ đảm bảo lợi ích chính đáng của dân tộc là nguyên tắc và nhiệm vụ
hàng đầu của ngoại giao Việt Nam. Sự giúp đỡ hợp tác quốc tế là quan trọng, độc
lập tự chủ, tự lực, tự cường không có nghĩa là biệt lập với bên ngoài, ngược lại
trên cơ sở độc lập, tự chủ cần phải mở rộng đoàn kết, hợp tác quốc tế, xử lý đúng
đắn các vấn đề liên quan giữa dân tộc, thời đại giữa Việt Nam và thế giới. Trong
hoạt động đối ngoại chú ý vấn đề tập hợp lực lượng quốc tế, tạo thế và lực cho
đất nước. Mặt khác thành tưu đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc thúc đẩy thế
giới tăng cường hợp tác với Việt Nam. Ngoài ra tiếp tục nhận được sự giúp đỡ
quốc tế phải đi liền với làm nghĩa vụ quốc tế. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là
giữ vững mội trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc
đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, xây dựng – bảo vệ tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh
chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã
hội.
Trong khi đó, trên thế giới giai đoạn này, chủ nghĩa xã hội và phong trào
cộng sản, công nhân quốc tế lâm vào vào cuộc khủng hoảng toàn diện, sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ có bước tiến nhảy vọt, toàn cầu hóa là
xu hướng tất yếu, tác động sâu sắc tình hình kinh tế, chính trị xã hội và quan hệ
quốc tế ở tất cả các quốc gia, dân tộc với cả thời cơ và thách thức. Cuộc đấu
tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn diễn ra gay gắt ; xung đột vũ trang, chiến
tranh cục bộ, những bất ổn do mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ
trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi, nhất là tại khu
vực các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề an

mục tiêu chính sách đối ngoại cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, điều chúng
ta có thể thấy rõ thông qua các kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Đại hội VI của Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới, đồng thời cũng
đặt cột mốc mở đầu quá trình hình thành đường lối và chính sách đối ngoại đổi
mới. Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện
sách lược thêm bạn bớt thù, phá thế bị bao vây, cấm vận và mở rộng quan hệ
quốc tế.
Sau 10 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã thu được những
thành tựu bước đầu rất quan trọng, quan hệ đối ngoại mở rộng, vị thế quốc tế
được củng cố và nâng cao. Trong bối cảnh đó, Đại hội VIII của Đảng (1996) tiếp
4
tục phát triển đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới, đưa ra chủ trương “xây
dựng nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới”.
Đại hội IX của Đảng khẳng định rõ thêm đường lối đối ngoại độc lập tự
chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Đại hội nêu chủ
trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”; đồng thời bổ sung, phát triển quan
điểm của Đại hội VII và Đại hội VIII, nêu rõ: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối
tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình,
độc lập và phát triển”
(2)
. Sự bổ sung và phát triển mới này, một mặt thể hiện
đường lối đối ngoại hoà bình, hữu nghị của Đảng và Nhà nước Việt Nam, mong
muốn chân thành sẽ là bạn với những ai mong muốn là bạn của Việt Nam; mặt
khác, biểu thị thái độ trách nhiệm cao của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.
Trước thực tiễn mới của quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, Đại hội
X (4-2006) tiếp tục bổ sung, làm rõ đường lối, chính sách đối ngoại đổi mới. Đại
hội khẳng định quan điểm: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng
thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác. Việt Nam là bạn, đối tác tin
cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp

3. Phương châm xử lý các vấn đề quốc tế
Từ đó, Đảng ta đã xác định và thực hiện bốn phương châm xử lý các vấn đề
quốc tế hay còn gọi là bốn phương châm chỉ đạo hoạt động đối ngoại:
Một là: Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Thực chất phương
châm này là nhằm xử lý mối quan hệ giữa lợi ích dân tộc và đoàn kết quốc tế
trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong tình hình mới.
Hai là: Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá,
đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Với việc nêu ra phương châm này, thì đây là
lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đề cập đến khái niệm
đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, nhấn mạnh giữ vững độc lập tự chủ
gắn liền với đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế để xây dựng được thế
đứng vững chắc trên trường quốc tế, tránh những tình huống bất lợi về đối ngoại,
tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Đây là sự
phát triển sáng tạo bài học của cách mạng Việt Nam về kết hợp sức mạnh dân tộc
và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế trong điều kiện
lịch sử mới.
Ba là: Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế.
Trong điều kiện mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng
hóa, Việt Nam đứng trước những cơ hội mới, song nguy cơ và thách thức từ bên
ngoài cũng gia tăng. Do đó, cần nhận thức đúng và nắm vững vấn đề hợp tác và
đấu tranh, coi đây là hai mặt gắn bó hưu cơ của quan hệ quốc tế. Trong đó, Đảng
6
ta nhấn mạnh một nhận thức mới, đó là đấu tranh nhằm thúc đẩy hợp tác, tránh
đối đầu.
Bốn là: Tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả
các nước. Phương châm này thể hiện chính sách nhất quán của Đảng và Nhà
nước Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần vào hoà bình, ổn định, phát
triển ở khu vực và trên thế giới. Việt Nam đặc biệt chú trọng hợp tác khu vực,
nhất là đối với các nước láng giềng nhằm tạo một môi trường hoà bình, ổn định

với In-đô-nê-xi-a. Đã giải quyết thành công nhiều vấn đề tồn tại với các nước
láng giềng trên cơ sở luật pháp quốc tế, các bên cùng chấp nhận, từng bước làm
cho đường biên giới chung của nước ta với các nước thành biên giới hòa bình,
hữu nghị và hợp tác. Những khác biệt trong tranh chấp ở Biển Đông tuy còn
không ít trở ngại, song đang có xu hướng thu hẹp, đi vào đàm phán, đối thoại trên
cả bình diện song phương và đa phương.
- Đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Quan
hệ song phương và đa phương ngày càng được củng cố, phát triển và dần dần đi
vào chiều sâu. Các mối quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện được xác lập
giữa Việt Nam với một số nước, nhất là với các nước lớn, tạo ra bước chuyển
mới về chất trong hoạt động đối ngoại, tạo thuận lợi cho nhiệm vụ hội nhập quốc
tế của nước ta trong giai đoạn mới. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta có được
nhiều bạn bè và đối tác như ngày nay; chủ đề ủng hộ Việt Nam dành được sự
đồng thuận khá cao tại nhiều diễn đàn quan trọng, kể cả tại Quốc hội một số
nước. Hiện nay, chúng ta quan hệ ngoại giao với 177 nước, có quan hệ thương
mại với 220 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên chính thức của tất cả các tổ
chức quốc tế lớn.
- Đã thực sự phát huy được vai trò là thành viên tích cực của các thể chế
khu vực và toàn cầu. Nước ta đã tham gia ngày càng sâu rộng vào quá trình liên
kết khu vực Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương thông qua các tổ chức và
diễn đàn: ASEAN, Diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Cộng đồng kinh tế châu Á
- Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn cấp cao Đông Á (EAS); đã tham gia 8 hiệp
định thương mại tự do song phương và khu vực và đang đàm phán 6 hiệp định
khác, trong đó có 2 hiệp định có phạm vi rộng lớn chưa từng có là Hiệp định đối
tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác hợp tác kinh tế khu vực
(RCEP). Việt Nam đã cùng các nước thành viên, đóng góp tích cực vào quá trình
xây dựng cộng đồng ASEAN và có vị trí, uy tín ngày càng cao trong cộng đồng
khu vực. Lần thứ hai, Việt Nam đã chính thức ứng cử làm Ủy viên không thường
8
trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2020 - 2021); đăng cai tổ chức

9
Thấm nhuần tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh và kiên định chủ
nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trên tinh thần đổi mới, Đảng Cộng sản Việt
Nam coi trọng việc củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác với các
đảng cộng sản và công nhân, với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và
độc lập dân tộc, với các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới.
Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định nhất quán quan điểm thúc đẩy
quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế, tham gia giải
quyết các vấn đề toàn cầu, chống khủng bố quốc tế, góp phần xây dựng trật tự
chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng. Đối với các nước lớn, Việt Nam
nêu rõ cần thúc đẩy quan hệ đa dạng, bao gồm cả quan hệ chính phủ và phi chính
phủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, công nghệ , tạo môi
trường hoà bình, ổn định lâu dài. Trong quan hệ với các nước và trung tâm lớn
trên thế giới, Việt Nam kiên trì nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can
thiệp công việc nội bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích, tránh bị rơi vào thế đối
đầu, cô lập hay lệ thuộc.
Với tư cách là một đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương
mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền trên thế giới.
Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm mở rộng và phát triển công tác
đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu
quả”, tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức nhân dân các
nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát
triển kinh tế - xã hội.
Lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ
quan điểm về chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn
sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế về vấn đề nhân quyền.
6. Những chặng đường hình thành và triển khai đường lối, chính sách
đối ngoại từ khi giành độc lập đến nay
Nhìn lại chặng đường hình thành và triển khai đường lối, chính sách đối
ngoại từ khi giành độc lập đến nay, ta thấy Văn kiện Đại hội XI của Đảng có 5

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status